MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
TÍNH THIẾT YẾU CỦA ĐỀ TÀI
Ta có thể thấy ngày nay có rất nhiều loại hàng hoá đang tràn ngập thị
trường. Các hàng hoá này có nguồn gốc từ rất nhiều nước khác nhau trên thế
giới. Điều này có được là do sự hội nhập về kinh tế và xu thế quốc tế hoá. Ngày
nay xuất hiện rất nhiều khối liên minh, liên kết kinh tế như hiệp hội các nước
Đông Nam Á (ASEAN), liên minh EU (châu Âu), khối các nước châu Á Thái
Bình Dương (APEC), khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) các khối thương
mại ở Bắc Mỹ…Giữa các khối hay trong nội khối đều có những ưu đãi và các
quy định rõ ràng về chất lượng sản phẩm. Khi các công cụ hạn ngạch, thuế quan
đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang bị bãi bỏ dần, thì để hạn chế hàng
nhập khẩu các nước sử dụng công cụ quan trọng đó là tiêu chuẩn về chất lượng
sản phẩm. Chất lượng sản phẩm trở thành thế mạnh của các doanh nghiệp khi
thâm nhập thị trường.
Nước ta cũng không nằm ngoài vòng xoáy của xu hướng hội nhập kinh tế.
Điều đó được thể hiện thông qua cải cách kinh tế từ năm 1986, nước ta đã
chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Cùng với đó là sự tham gia vào các tổ chức kinh tế và đặt quan hệ
thương mại với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Điều này mở ra
rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt
là khi Việt Nam đang cố gắng để trở thành thành viên của tổ chức thương mại
thế giới WTO trong những năm tới.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Công ty Cao su Sao Vàng là một doanh nghiệp Nhà nước và cũng không
nằm ngoài xu thế này. Với kinh nghiệp thực tế, Công ty đã nhận thấy tầm quan
trọng của chất lượng sản phẩm trong xu thế hội nhập kinh tế. Chất lượng sản
phẩm chính là một vũ khí cạnh tranh lợi hại của các doanh nghiệp ngày nay.
giả mà có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng sản phẩm. Dưới đây là một
vài quan điểm về chất lượng sản phẩm
(1)
:
Theo quan điểm của Marx:
Theo ông thì người tiêu dùng mua hàng hoá không phải vì giá trị của
hàng hoá đó mà là giá trị sử dụng và thoả mãn mục đích sử dụng của họ. Có
nghĩa là giá trị sử dụng được đánh giá rất cao. Ông cho rằng chất lượng sản
phẩm là thước đo biểu hiện giá trị sử dụng của chính sản phẩm đó. Giá trị
sử dụng của sản phẩm làm nên tính hữu ích của sản phẩm và nó chính là
chất lượng sản phẩm.
Quan điểm chất lượng sản phẩm theo hướng công nghệ:
Những người theo quan điểm này thường gắn chất lượng sản phẩm với
công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật. Theo họ chất lượng sản phẩm là sự phù hợp
các tiêu chuẩn kỹ thuật hay là những đặc tính bên trong của sản phẩm có
thể đo được hoặc so sánh được, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của
sản phẩm.
Quan điểm theo hướng khách hàng:
Những người theo quan điểm này coi sự thành công hay thất bại là doanh
nghiệp mang được bao nhiêu giá trị cho cho khách hàng. Chẳng hạn theo
quan điểm của Philip Crosby (Mỹ) trong tác phẩm chất lượng là thứ cho
không ông đưa ra quan điểm: “chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với yêu
cầu”. Theo quan điểm của J.Susan
chứng minh “Chất lượng sản phẩm là sự
thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí nhỏ nhất”.
Tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO đã đưa ra khái niệm về chất
lượng sản phẩm như sau: “Chất lượng sản phẩm là chất lượng của một sản
phẩm nào đó là phù hợp với tất cả các tính chất biểu thị sử dụng phù hợp
với tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu xã hội,
được sản xuất. Không thể có sản phẩm chất lượng tốt dựa trên sản phẩm được
thiết kế tồi. Công nghệ dù hiện đại đến mấy cũng không thể biến một thiết kế
sai thành sản phẩm có chất lượng cao.
2.2 Chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn:
Chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn là chất lượng sản phẩm được đánh giá
thông qua các chỉ tiêu kỹ thuật của quốc gia, quốc tế trong mọi ngành. Nó là
thuộc tính cũng như chỉ tiêu được thừa nhận, phê chuẩn và có ý nghĩa pháp
lệnh buộc phải thực hiện nghiêm chỉnh trong quản lý chất lượng sản phẩm. Ở
Việt Nam hiện nay có tiêu chuẩn cấp nhà nước TCVN, tiêu chuẩn cấp ngành
TCN, tiêu chuẩn cấp cơ sở TCCS.
2.3 Chất lượng sản phẩm thực tế:
Chất lượng sản phẩm thực tế là giá trị của các chỉ tiêu thực tế đạt được do
các yếu tố chi phối như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ… Chất
lượng sản phẩm thực tế đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Để đạt chất lượng
sản phẩm thực tế doanh nghiệp cần thực hiện quá trình quản lý liên tục.
2.4 Chất lượng sản phẩm cho phép:
Chất lượng sản phẩm cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật, công nghệ
của từng nước, cũng như trình độ tay nghề của lao động, phương pháp quản lý
của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm cho phép là giới hạn cho phép về
độ lệch giữa chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm thực tế.
5
2.5 Chất lượng sản phẩm tối ưu:
Chất lượng sản phẩm tối ưu là giá trị các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm
đạt được ở mức độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Nó
thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị trường với chi phí xã hội là nhỏ nhất.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm không chỉ được hình thành trong quá trình sản xuất
mà nó là kết quả của quá trình liên tục: từ thiết kế sản phẩm đến khi sản phẩm
được đưa ra thị trường. Trong suốt quá trình đó chất lượng sản phẩm chịu ảnh
Material
(NVL)
Method
(Phương thức)
Machines
(Máy móc)
Trình độ tổ chức quản lý là một trong những nhân tố cơ bản góp phần
đẩy nhanh tốc độ cải tiến, hoàn thành chất lượng sản phẩm. Vì trình độ tổ
chức quản lý phù hợp mới có khả năng kết hợp các nguồn lực một cách hài
hoà hơn, tối ưu hơn và nắm bắt được các công nghệ tiên tiến nhanh chóng.
Phương pháp quản lý hiệu quả thì việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch,
chính sách chất lượng cho doanh nghiệp mới hợp lý, chính xác. Nếu không
nó có thể dẫn tới lãng phí và tổn thất cho doanh nghiệp. Phương pháp quản
lý trong doanh nghiệp cũng luôn luôn đổi mới để phù hợp với thực tiễn.
Men (Con người):
Trong thời đại ngày nay, khi hiện đại hoá và tự động hoá ngày càng cao
độ, máy móc dần thay thế các công việc của con người. Nhưng điều này
không có nghĩa là vai trò của con người mờ nhạt, mà nó vẫn rất quan trọng
và đòi hỏi cao hơn về trình độ. Con người là một tài sản quý đối với mỗi
doanh nghiệp, sức lao động của con người sau mỗi quá trình sản xuất không
bị mất đi hay hao mòn mà nó còn tăng thêm do tích luỹ tăng thêm về kinh
nghiệm thực tế, trình độ chuyên môn, kỹ năng.
Mặt khác, trên thực tế còn rất nhiều lĩnh vực mà máy móc vẫn chưa thể
thay thế cho vai trò của con người: nghiên cứu thị trường, thiết kế sản
phẩm, tổ chức quản lý sản xuất, quản lý công nghệ…Vậy nếu doanh nghiệp
có quy mô lao động hợp lý, lao động có trình độ tay nghề chuyên môn giỏi,
được sắp xếp đúng chuyên môn thì sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm và
hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh. Một doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển bền vững phải luôn quan tâm tới vấn đề con người trong
phải trả lời: “sản xuất cái gì?” của các doanh nghiệp.
Thứ hai, sản phẩm chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng khi nó thoả mãn
được nhu cầu của một thị trường nhất định. Do vậy, sự tồn tại của sản
phẩm do nhu cầu thị trường quyết định.
Trình độ sản xuất:
Trình độ sản xuất càng cao thì tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng sản
phẩm càng cao và đòi hỏi càng công tác quản lý chất lượng sản phẩm
phải cải tiến liên tục để phù hợp sự phát triển của trình độ sản xuất. Khi
muốn xâm nhập vào một thị trường, doanh nghiệp phải tìm hiểu các tiêu
chuẩn về chất lượng sản phẩm (hay là đánh giá được trình độ sản xuất của
nước đó) như thế nào để có hiệu quả nhất.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật càng phát triển mạnh thì trình độ sản xuất
càng nâng cao, nên doanh nghiệp phải luôn luôn nắm bắt và đổi mới chất
lượng sản phẩm cũng như cách thức quản lý chất lượng sản phẩm để phù
hợp hơn với thực tiễn.
Chính sách kinh tế - xã hội:
Chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản
xuất - kinh doanh và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Chính sách
hợp lý sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đầu tư đổi mới công nghệ sản
xuất, trang thiết bị máy móc không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm,
công tác quản lý. Và chính sách kinh tế - xã hội ổn định tác động tốt tới
tâm lý tiêu dùng của khách hàng và tâm lý yên tâm lao động sản xuất của
người lao động.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật:
Ngày nay, phát triển của khoa học kỹ thuật như vũ bão, đồng thời việc áp
dụng thành quả của khoa học công nghệ vào thực tế sản xuất, tiêu dùng
cũng rất nhanh chóng. Có nhà kinh doanh đã thừa nhận rằng sản phẩm ngày
hôm nay của họ sản xuất ra cách đây năm năm là chưa nghĩ tới. Đồng thời
với việc này là chất lượng sản phẩm cũng sẽ phải thay đổi để phù hợp.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật góp phần tạo ra những nguyên vật
thông qua mua bán trao đổi. Vì vậy, doanh nghiệp cần chú trọng trong quan
hệ với khách hàng. Để ổn định được sản xuất doanh nghiệp cần có các khách
hàng truyền thống, để mở rộng sản xuất doanh nghiệp.
Nhân tố môi trường cảnh quan:
Môi trường cảnh quan ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm bởi điều kiện
khí hậu, điều kiện tự nhiên mưa, nắng, độ ẩm…tại nơi sản xuất bảo quản
nguyên vật liệu và sản phẩm. Doanh nghiệp có thể chủ động phòng ngừa
ảnh hưởng này thông qua việc thực hiện tốt các công tác quản lý chất lượng
sản phẩm ở khâu bảo quản, vệ sinh công nghiệp.
Các nhân tố của môi trường bên ngoài này là khách quan nên doanh
nghiệp không thể tự ý thay đổi được, mà cần phải thích nghi với nó.
4. Vai trò, tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm.
4.1. Đối với doanh nghiệp:
Bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh nào đều có mục tiêu tăng
lợi nhuận, để thực hiện được mục tiêu này doanh nghiệp phải dựa vào sản
phẩm của mình làm ra. Chất lượng sản phẩm khi được thị trường chấp nhận nó
sẽ tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp.
Trong giai đoạn hiện nay cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp
không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp ở trong nước mà còn cả các công ty
nước ngoài. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chính là thông qua thực hiện
9
hiệu quả hai chiến lược kinh doanh chất lượng sản phẩm và chi phí thấp. Mỗi
sản phẩm có những thuộc tính chất lượng, vì vậy nó tạo ra những nhân tố cơ
bản cho cạnh tranh.
Chỉ khi sản phẩm có chất lượng ổn định đáp ứng được thị hiếu của người
tiêu dùng, nó mới có khả năng tạo ấn tượng tốt cho doanh nghiệp. Chất lượng
sản phẩm tạo ra uy tín, niềm tin của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp.
Người tiêu dùng chỉ quay lại với doanh nghiệp khi sản phẩm của doanh nghiệp
có chất lượng thoả mãn nhu cầu của họ.
4 ()
Tham khảo tài liệu của Khoa: khoa học quản lý; giáo trình Khoa học quản lý tập II; TS. Đoàn Thị
Thu Hà, TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, trang 426-427.
5 ()
Trích trong tài liệu: Hướng dẫn chung quản lý chất lượng theo ISO 9000 của Trung tâm đào tạo
thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng; trang 9.
10
Thực chất của quản lý chất lượng sản phẩm là quá trình tác động liên tục có
hướng đích, có tổ chức đối với chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp nhằm đạt
mục tiêu do doanh nghiệp đặt ra.
Quản lý chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng sản
phẩm phù hợp yêu cầu của khách hàng với chi phí tối ưu. Quản lý chất lượng
sản phẩm được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định bao gồm hệ thống các
chỉ tiêu, tiêu chuẩn đặc trưng về kỹ thuật, điều khiển.
2. Vai trò của quản lý chất lượng sản phẩm.
2.1 Đối với doanh nghiệp:
Quản lý chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản
phẩm, nâng cao ý thức trách nhiệm của các thành viên trong doanh nghiệp về
chất lượng sản phẩm và sự phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời, nó giúp
doanh nghiệp thực hiện tốt chiến lược cạnh tranh dựa trên chất lượng sản phẩm
và chi phí thấp.
Thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiệp đạt
hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình. Nó cũng giúp
giảm thiểu chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, giảm tỷ lệ phế phẩm, đẩy
nhanh chu trình sản xuất. Từ đó giúp nâng cao năng suất lao động của toàn
doanh nghiệp, và hạ được giá thành của sản phẩm tạo lợi thế cạnh tranh về giá.
Quản lý chất lượng sản phẩm thực hiện nghiêm túc thường xuyên sẽ giúp ổn
định chất lượng sản phẩm tạo niềm tin cho người tiêu dùng và uy tín của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình vì vậy cần hiểu các
nhu cầu hiện tại cũng như tương lai của khách hàng, để không chỉ đáp ứng
mà còn phấn đấu vượt cao hơn sự mong đợi của họ.
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của
doanh nghiệp. Lãnh đạo cần duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp
để lôi cuốn mọi người làm việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Con người là nguồn lực quan trọng của một doanh nghiệp và sự tham gia
đầy đủ với những hiểu biết, kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình:
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách có hiệu quả khi các nguồn và
các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống:
Nguyên tắc này cho biết việc xác định, hiểu biết và quản lý chất lượng sản
phẩm các quá trình có liên quan tới nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại
cho doanh nghiệp.
Nguyên tắc 6: Tính cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là mốc tiến liên tục, là mục tiêu, đồng thời cũng là
phương pháp của mọi doanh nghiệp. Muốn có được khả năng cạnh tranh và
mức độ chất lượng sản phẩm cao nhất doanh nghiệp phải liên tục cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện
Mọi quyết định và hoạt động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh
có hiệu quả khi được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng
Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ
tương hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.
4. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm.
4.1 Xây dựng chính sách chất lượng
Nhà lãnh đạo cao cấp sẽ phải thiết lập chính sách chất lượng của doanh
Quản lý chất lượng trong đào tạo còn là công tác nâng cao trình độ tay nghề
cho mọi thành viên trong doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công tác này đòi hỏi
các doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược đào tạo dài hạn, ngắn hạn cụ thể
cho từng thời kỳ, từng lĩnh vực. Doanh nghiệp phải xác định nhu cầu về nguồn
nhân lực trong tương lai của mình, năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động hiện có của doanh
nghiệp, doanh nghiệp cũng cần có chiến lược tuyển dụng lao động hợp lý phục
vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình. Chiến lược tuyển dụng lao
động hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được những lao động có trình độ
chuyên môn, tay nghề giỏi.
4.4 Quá trình quản lý chất lượng sản phẩm
Quá trình quản lý chất lượng được thực hiện cụ thể trong từng khâu của quá
trình sản xuất: từ thiết kế sản phẩm đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường.
Quản lý chất lượng sản phẩm trong khâu thiết kế:
Thiết kế sản phẩm là quá trình sáng tạo ra sản phẩm dựa trên những kiến
thức chuyên môn và phân tích nhu cầu của thị trường nói chung và nhu cầu
13
của người tiêu dùng của doanh nghiệp nói riêng. Nó bao gồm các nội dung
sau
(7)
:
- Phân tích, chuyển nhu cầu thị trường thành quy định chất lượng sản phẩm.
- Tạo ra hình thái sơ bộ gồm các tổ hợp và bộ phận chính của sản phẩm.
- Xem xét thiết kế lần đầu và sản xuất thử sản phẩm mẫu.
- Đánh giá sản phẩm mẫu.
- Xem xét thiết kế lần hai. Thay đổi thiết kế (nếu cần), sản xuất thử
nghiệm.
- Hoàn chỉnh tài liệu thiết kế và xây dựng các quy định cho sản phẩm bao
gồm cả phương pháp thử và chuẩn mực phù hợp. Sau đó sản xuất thử.
()
Dựa vào tài liệu tham khảo:
- ISO 9000:2000 NXB: KH-KT tác giả: Phó Đức Trù-Phạm Hồng, trang 163 - 168.
- Tiêu chuẩn ISO 9001:2000 (song ngữ Việt Anh) của Công ty tư vấn Đức Anh; trang 14 -16.
14
Phương án giải quyết trả lại nguyên vật liệu, vi phạm hợp đồng mua bán
giữa hai bên.
- Thực hiện chiến lược marketing đối nhà cung ứng nếu cần, tạo cho mình
một số nhà cung ứng truyền thống để đảm bảo nguồn cung cần thiết cho
sản xuất.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần xác định chính xác số lượng nguyên vật
liệu mà doanh nghiệp mình cần để sản xuất trong kỳ. Có thể sử dụng mô
hình sau
(8)
:
Q
kt
= 2RS/ I. Trong đó: Q
kt
là số lượng nguyên vật liệu cần mua.
R. Tổng số yêu cầu hàng năm.
S. Chí phí sản xuất
I. Chi phí lưu kho
Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất
Quá trình sản xuất là khâu biến chất lượng sản phẩm trên thiết kế thành
chất lượng sản phẩm thực tế. Một thiết kế dù hoàn hảo đến đâu nếu sản
xuất làm không đúng thì chất lượng sản phẩm cũng không đạt yêu cầu đặt
ra. Mục đích của quản lý chất lượng sản phẩm ở khâu này là khai thác và
huy động có hiệu quả các quá trình công nghệ thiết bị và con người đã lựa
- Các chỉ tiêu tỷ lệ sai hỏng sản phẩm, phẩm cấp bình quân.
Quản lý chất lượng sản phẩm trong và sau bán hàng
Trong và sau bán hàng là một khâu quan trọng tạo cầu nối giữa sản
phẩm của doanh nghiệp với người tiêu dùng, khách hàng sẽ ấn tượng đầu
tiên với doanh nghiệp là do khâu này tạo ra. Nếu quản lý chất lượng thực
hiện này tốt thì sản phẩm sẽ có sức hút với khách hàng hơn.
Thực tế hiện nay các doanh nghiệp ngoài cạnh tranh thông qua chất
lượng sản phẩm, chi phí thấp mà còn cạnh tranh với nhau thông qua dịch vụ
sau bán hàng. Các sản phẩm cùng loại, có cùng chất lượng hoặc hơn kém
nhau không đáng kể thì sản phẩm nào có dịch vụ sau bán hàng hấp dẫn và
làm tốt thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng mua hơn.
Nhiệm vụ chính của quản lý chất lượng sản phẩm ở khâu này là:
- Tạo danh mục sản phẩm hợp lý.
- Tổ chức mạng lưới đại lý phân phối, dịch vụ thuận lợi nhanh chóng.
- Hướng dẫn đầy đủ các thuộc tính, điều kiện quy trình sử dụng sản phẩm.
- Nghiên cứu đề xuất những phương án bao gói, vận chuyển bốc dỡ sản
phẩm. Mục đích là làm giảm chi phí phát sinh cho doanh nghiệp.
- Tổ chức bảo quản sản phẩm, khuyến mãi sản phẩm, thực hiện chiết khấu
thanh toán, chiết khấu thương mại…
- Thực hiện dịch vụ tư vấn chăm sóc khách hàng có hiệu quả.
5. Giới thiệu sơ lược về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000:2000
(10)
5.1 Kết cấu của bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000.
Các yêu cầu của hệ thống đảm bảo chất lượng.
- ISO 9001-1994: Hệ thống chất lượng - Mô hình để đảm bảo chất lượng
trong thiết kế, triển khai, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ.
- ISO 9002-1994: Hệ thống chất lượng - Mô hình để đảm bảo chất lượng
trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ.
- ISO 9003-1994: Hệ thống chất lượng - Mô hình để đảm bảo chất lượng
- ISO 9004-4:1993 Quản lý chất lượng và các yếu tố của hệ thống chất
lượng - Phần 4: Hướng dẫn cải tiến chất lượng.
Ngoài ra còn có các tài liệu liên quan hướng dẫn áp dụng cụ thể của quản
lý chất lượng: thuật ngữ ISO 8402:1994, đánh giá chất lượng ISO 10011-
1:1990, ISO 10011-1:1991, ISO 10011-3:1991.
5.2 Kết cấu của bộ tiêu chuẩn ISO 9000 năm 2000
- ISO 9001/2/3-1994 nhập thành ISO 9001:2000.
- ISO 9000-2000 thay thế cho ISO 9402 và ISO 9000-1.
- ISO 9040-2000 thay thế cho ISO 9004-1.
- ISO 10011 thay thế cho ISO 10011-1/2/3.
- Toàn bộ ISO 9000 sẽ rút lại còn từ 4 đến 6 tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn khác
trong toàn bộ ISO 9000 hiện nay sẽ được chuyển thành báo cáo kỹ thuật
hay huỷ bỏ tuỳ theo nội dung của tiêu chuẩn.
5.3 Lợi ích của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000
Đối với Công ty
- Sản phẩm có chất lượng ổn định hơn, giảm phế phẩm trong sản xuất.
- Tiết kiệm chi phí, do giảm chi phí hỏng hóc nội bộ và ở bên ngoài.
- Đảm bảo tiến độ sản xuất, do không bị động trong việc xử lý sản phẩm
và bán thành phẩm không phù hợp.
- Cải tiến chất lượng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm.
- Có lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu vì được khách hàng tin tưởng.
- Có vị thế trên thị trường, vì có thể sử dụng ISO 9000 trong Marketing.
- Thường xuyên nâng cao hiệu quả, cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất
lượng sản phẩm phù hợp với tình hình mới.
17
- Tạo bầu không khí vui vẻ, hăng say lao động trong nhân viên Công ty,
từ đó tạo ra năng suất lao động cao hơn và ổn định.
Đối với nhân viên của Công ty
- Hiểu biết rõ hơn vai trò trách nhiệm của mình trong công ty.
18
Nhìn vào mô hình này để xem xét các nguyên nhân gây ra phế phẩm
trong sản xuất. Người ta có thể hoán vị, cố định các nhân tố nghi ngờ, chỉ
thay đổi điều kiện một nhân tố nào đó để đánh giá mức độ tác động của
nhân tố này. Dựa vào mô hình này nhà quản lý doanh nghiệp xây dựng các
phương án phòng ngừa có hiệu quả.
Luật số lớn và nguyên lý khách quan, khoa học
(12)
: công cụ luật số lớn đòi hỏi
việc xem xét tìm ra nguyên nhân gây lên chất lượng sản phẩm xấu phải được
nghiên cứu, quan sát với số lượng đủ lớn các hiện tượng để tìm ra nguyên nhân
căn bản của hiện tượng. Còn nguyên lý khách quan, khoa học đòi hỏi sự truy
tìm phải tuân theo quy luật khách quan không dựa vào ý nghĩ chủ quan của nhà
quản lý. Xuất phát từ những nguyên nhân gây ra phế phẩm để đưa ra giải pháp
thực hiện phòng ngừa trong toàn doanh nghiệp trong kỳ tiếp theo.
12
()
Dựa vào tài liệu:
- Khoa: khoa học quản lý; giáo trình Khoa học quản lý tập II, TS.Đoàn Thị Thu Hà,
TS.Nguyễn Thị Ngọc Huyền, trang 443-445.
19
Chương II:
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM HIỆN NAY
TẠI CÔNG TY CAO SU SAO VÀNG.
I. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
1.1 Quá trình hình thành.
- Săm lốp ô tô các loại.
- Lốp máy bay dân dụng TU-134 (930x305), IL-18.
- Lốp máy bay quốc phòng MIG-21 (800x200).
- Cao su BTP, các loại Joang cao su kỹ thuật …
1.2 Các giai đoạn phát triển của Công ty:
20
Qua hơn 45 năm tồn tại và phát triển của mình, Công ty Cao su Sao Vàng
đã trải qua rất nhiều những thăng trầm biến cố của nền kinh tế. Chặng đường
phát triển của Công ty có thể chia ra làm ba bước ngoặt chính có ảnh hưởng
trực tiếp tới tồn vong Công ty.
Giai đoạn thứ nhất: từ khi thành lập tới năm 1986.
Đây là giai đoạn mà Công ty và nhiều doanh nghiệp lúc bấy giờ hoạt
động sản xuất - kinh doanh trong nền kinh tế tập trung bao cấp, toàn bộ từ
đầu vào, kế hoạch sản xuất, đầu ra sản phẩm do Nhà nước thực hiện. Trong
giai đoạn này Công ty luôn hoàn thành đúng kế hoạch mà Nhà nước giao.
Chính vì được bao cấp toàn bộ nên chất lượng sản phẩm của Công ty
chưa được quan tâm thích đáng. Chủng loại mẫu mã sản phẩm của Công ty
chưa nhiều và không thường xuyên được đổi mới.
Giai đoạn thứ hai: từ năm 1987-1990.
Đây là thời kỳ nước ta chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế sang cơ chế thị
trường định hướng XHCN, đặt ra nhiều thách thức do Công ty khi đã quen
với việc sản xuất được bao cấp về mọi mặt.
Trong giai đoạn này Công ty luôn trong tình trạng làm ăn không có lãi,
năng suất thấp, máy móc thiết bị lạc hậu, sản phẩm làm ra không đáp ứng
được thị hiếu tiêu dùng. Liệu Công ty có vượt qua khó khăn này hay
không?.
Đứng trước những khó khăn tưởng trừng không thể vượt qua được, ban
lãnh đạo Công ty không chịu khuất phục, tìm mọi biện pháp để đưa Công ty
thoát khỏi tình trạng khó khăn này. Cùng với những bộ óc cần mẫn, sáng
(Đơn vị tính: Triệu đồng)
Năm
Chỉ tiêu
2001 2002 2003 2004 2005
Σ GTSL
332.894 335.325 341.917 390.112 418.034
DT thuần 366.839 370.228 434.537 530.192 628.976
Σ Chi phí
366.213 369.397 433.708 529.390 628.187
LN PS 626 831 829 802 789
Nộp NS 13.232 12.990 13.939 12.424 15.687
Nguồn:Báo cáo kết quả kinh doanh từng năm (Phòng Tài chính - Kế toán)
Qua bảng số liệu trên ta thấy các chỉ tiêu tổng giá trị sản lượng và doanh
thu của Công ty đều có mức tăng khá.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy giá trị sản lượng của Công ty tăng đều hàng năm,
và mức tăng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể: 2002/ 2001 tăng 100,73%,
năm 2003/ 2002 tăng101,97%; 2004/ 2003 tăng 114,1%, năm 2005/ 2004 tăng
107,16%. Giá trị tổng sản lượng tăng cho thấy trong những năm qua hoạt động
tiêu thụ sản phẩm của Công ty thuận lợi. Nhưng để phân tích tính hiệu quả cần
phân tích về doanh thu và lợi nhuận.
22
Tình hình kinh doanh 2001-2005
332894
366839
335325
370228
341917
434537
390112
530192
gần đây giá nguyên vật liệu đầu vào liên tục tăng và tăng nhanh hơn so mới
mức tăng giá bán.
Trong những năm vừa qua mức lương bình quân của công nhân viên Công
ty vẫn thuộc dạng khá cao so với các doanh nghiệp ở miền Bắc (mức lương
bình quân là 1,45 triệu đồng năm 2005). Và Công ty đang có chính sách nâng hệ
số lương mới của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong năm tới.
2.2 Một số chỉ tiêu về tài chính.
Cơ cấu vốn và nguồn vốn
Cơ cấu vốn:
Cơ cấu vốn hợp lý là yếu tố quan trọng vì cơ cấu vốn có liên quan tới
mối quan hệ giữa lợi nhuận và mức độ rủi ro. Điều này không có nghĩa là
cơ cấu vốn luôn cố định, mà nó có thể thay đổi tuỳ thuộc vào từng thời
điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong những năm vừa qua Công ty Cao su Sao Vàng luôn tìm cách để
tăng nguồn vốn để đầu tư đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng sản xuất.
Nguồn vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn như: vay vốn tín
dụng thương mại, vay của cán bộ công nhân viên, thu hút đầu tư nước
ngoài, tự tích luỹ kết quả kinh doanh. Trong những năm tới Công ty sẽ thực
hiện việc huy động vốn thông qua bán cổ phần.
Bảng 3: Tình hình vốn và cơ cấu vốn trong bốn năm (2002-2005)
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ
tiêu
2002 2003 2004 2005
Mức % Mức % Mức % Mức %
Σ vốn
362.909 100 430.954 100 537.000 100 525.500 100
VLĐ 182.978 50,42 214.141 49,69 260.176 48,45 245.198 46,66
VCĐ 179.931 49,58 216.813 50,31 276.824 51,55 280.302 53,34
Nguồn: Báo cáo tài chính (phòng Tài chính-Kế toán)
ngoài việc phân tích một số chỉ tiêu (mục 2.1) cũng cần phải phân tích một
số chỉ tiêu về tài chính. Trong đó việc đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp là rất cần thiết.
Dựa vào dữ liệu bảng 2 và 3 ta có bảng phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả
sử dụng vốn của Công ty những năm qua:
Bảng 5: Một số chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn (2002 – 2005)
Năm
Chỉ tiêu
Cách tính 2002 2003 2004 2005
Vòng quay VLĐ DT/VLĐ 2,02 2,03 2,04 2,6
Hệ số sử dụng tài sản
DT/Σ TS
1,02 1,008 0,98 1,2
Sức sinh lời của
VLĐ
LN/VLĐ
0,0045 0,0039 0,0031 0,0032
HS đảm nhiệm VLĐ VLĐ/DT 0,494 0,493 0,491 0,39
Sức sinh lợi của VCĐ DT/VCĐ 2,06 2,0 1,92 2,24
Nguồn: Báo cáo tài chính (Phòng Tài chính - Kế toán)
Vòng quay của vốn lưu động cho một đơn vị vốn lưu động bỏ ra thu được
bao nhiên đơn vị doanh thu. Vậy nó càng lớn thì khả năng tạo doanh thu
của một đơn vị vốn lưu động là lớn. Qua bảng phân tích ta thấy vòng quay
24
vốn lưu động của Công ty tăng hàng năm nhưng nó là rất nhỏ, chứng tỏ
hoạt động kinh doanh của Công ty hiện nay chưa hiệu quả.
Hệ số sử dụng tài sản: hệ số này phản ánh một đơn vị tài sản tạo ra được
bao nhiêu đơn vị doanh thu, giống như vòng quay vốn lưu động hệ số này
càng cao càng tốt. Nhìn vào số liệu phân tích ở trên ta thấy hệ số sử dụng
Trong những năm qua, Công ty đã chuyển hướng sang các thị trường mới
có tiềm năng hơn. Các khách hàng của Công ty trong những năm qua bao
gồm một số nước Đông Nam Á như Lào, Malaysia, và một số nước châu
Âu. Công ty đã không ngừng khuếch trương thương hiệu của mình, cũng
như đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại nước bạn để bảo vệ thương hiệu.
3.2 Đối thủ cạnh tranh và nhà cung ứng nguyên vật liệu:
25