TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM (TỪ 2002 ĐẾN 8/2010) - Pdf 29

MỤC LỤC:
Trang
I. LẠM PHÁT 2
1. Khái niệm 2
2. Tỷ lệ lạm phát 4
3. Phân loại lạm phát 6
4. Nguyên nhân lạm phát 9
5. Tác động của lạm phát 11
6. Một số VD điển hình 14
• TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM (TỪ 2002 ĐẾN 8/2010) 17
II. THẤT NGHIỆP: 20
1. Khái niệm 20
2. Các dạng thất nghiệp 22
3. Ảnh hưởng của thất nghiệp 24
4. Thất nghiệp tự nhiên 27
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP : 30
1. Đường cong Phillips
30
2. Sự dịch chuyển của đường Phillips
30
3. Mối quan hệ giữa LP-TN trong dài hạn
32
IV. BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢM LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP: 33
1. Biện pháp giảm tỉ lệ lạm phát 33
2. Biện pháp giảm tỉ lệ thất nghiệp 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

1
2
I.LẠM PHÁT
1. Khái niệm

qp
qp
CPI
1
00
1
0
Trong đó:
p
i1
: giá sản phẩm i ở thời điểm hiện hành
p
i0
: giá sản phẩm i ở thời điểm gốc
q
i0
: khối lượng mặt hàng i được quy định tính trong chỉ số (ở thời điểm gốc.)
Để xác định CPI, cục Thống kê phải:
 Cố định giỏ hàng: Lương thực, quần áo, chất đốt, đi lại, viễn thông...
 Xác định giá cả: Tìm giá của mỗi hàng hóa và dịch vụ trong giỏ hàng tại mỗi
thời điểm.
 Tính chi phí của giỏ hàng: sử dụng số liệu về giá cả để tính chi phí của giỏ hàng
tại các thời điểm khác nhau.
 Chọn năm gốc và tính chỉ số. Lấy chi phí của giỏ hàng năm t chia cho chi phí
của giỏ hàng trong năm gốc, ta thu được CPI.
3
b.Chỉ số giảm phát GDP (D):
Là chỉ tiêu đo lường biến động của mức giá trung bình của tất cả các hàng hóa dịch vụ mà
một nền kinh tế sản xuất được ở thời điểm hiện hành so với thời điểm gốc


một loại hàng nào đó. Ví dụ: do sau dịch cúm gà, giá gà trở nên quá đắt so với giá thịt lợn
nên người tiêu dùng sẽ mua ít thịt gà hơn và mua nhiều thịt lợn hơn. Phúc lợi của người
tiêu dùng đã giảm xuống do họ phải tiêu dùng thịt gà ít hơn nhưng D không phản ánh được
điều này cho dù nó phản ánh được sự thay thế giữa thịt gà và thịt lợn.
CPI chỉ phản ánh mức giá của hàng tiêu dùng còn D phản ánh giá của cả hàng hoá do
doanh nghiệp, chính phủ mua. Vì thế D được coi là phản ánh đúng hơn mức giá chung.
D chỉ phản ánh mức giá của những hàng hoá sản xuất trong nước (vì GDP chỉ tính sản
phẩm trong nước) còn CPI phản ánh mức giá của cả hàng hoá nhập khẩu. Ví dụ: khi giá
một chiếc xe ô tô Toyota nhập khẩu tăng thì nó được phản ánh ở CPI nhưng không được
phản ánh ở D.
Tuy nhiên, trên thực tế, số liệu thống kê cho thấy sự khác biệt giữa CPI và D không lớn.
c.Chỉ số giá sản xuất PPI( Producer Price Index):
Là chỉ tiêu đo lường biến động của mức giá trung bình của những hàng hóa dịch vụ bán sỉ,
được dùng làm đầu vào cho sản xuất ở thời điểm hiện hành so với thời điểm gốc.
Thông thường PPI phản ánh tốc độ thay đổi giá ba nhóm hàng hóa: lương thực thực phẩm,
sản phẩm thuộc ngành chế tạo và ngành khai khoáng
Chỉ số này được tính theo giá bán buôn.
Cách tính giống như chỉ số giá tiêu dùng


=
=
=
n
i
ii
n
i
iit
qp

%
%
1








−=
−t
t
D
D
TLLP
Nếu tỷ lệ lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định
giá cả".
• Ưu, nhược điểm của hai cách tính trên:
 Cách 1 : có thể tính nhanh nhưng không chính xác vì chỉ dựa trên một giỏ hàng
hóa đã chọn.
 Cách 2 : tính chính xác nhưng phải đợi hết năm mới có số liệu thống kê nên
chậm.
Việc tính toán tỷ lệ lạm phát nhằm xác định tình trạng nền kinh tế :
Giảm phát là hiện tượng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Giảm phát,
do đó, trái ngược với lạm phát. Cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị
âm. Trong các tài liệu thống kê tình hình kinh tế chính thức, khi đề cập đến giảm phát,
người ta vẫn đặt dấu âm kèm với con số ở mục tỷ lệ lạm phát. Giảm phát thường xuất hiện
khi kinh tế suy thoái hay đình đốn.

 Sản xuất trở nên thiếu sôi động. Lạm phát thấp khiến cho tiền công thực tế cao hơn.
Người lao động vì thế có thể giảm cung lao động và tăng thơi gian nghỉ ngơi (xem thêm lý
luận về đường cung lao động uốn ngược). Mặt khác, giá cả sản phẩm thấp làm giảm động
lực sản xuất.
Thiểu phát đôi khi được coi là tình trạng trước giảm phát (một tình trạng trái ngược
với lạm phát nhưng vẫn nguy hiểm đối với nền kinh tế).
6
Tình huống thiểu phát ở Việt Nam
Năm 2008 đánh dấu một năm lạm phát cao, song chỉ đến đầu quý 3, do các biện pháp kiềm
chế lạm phát quá mức, bắt đầu có nỗi lo thiểu phát và "Nhiều người lo ngại Việt Nam cũng
đối mặt với nguy cơ tương tự, nhất là khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 giảm 0,19%.
Đây là lần đầu tiên sau một năm rưỡi trở lại đây, CPI ở mức âm".
3. Phân loại lạm phát:
Có nhiều cách phân loại lạm phát. Khi căn cứ vào những tiêu thức khác nhau thông thường
có hai cách phân loại sau:
• Căn cứ vào khả năng dự đoán:
a. Lạm phát dự đoán P
e(expected)
:
Là lạm phát diễn ra đúng như dự đoán.Lạm phát này không gây ra những tổn that lớn cho
nến kinh tế vì dân chúng sẽ làm giảm thiệt hại của mình bằng hai cách:
 Thứ nhất: hoạch toán thêm tỷ lệ lạm phát (thường gọi là trượt giá) vào những
chi tiêu có liên quan. i = ir + Pe
 Thứ hai: nếu lạm phát dự đoán xảy ra với tỷ lệ lạm phát cao, dân chúng sẽ tránh
giữ tiền mà thay vào đó là vàng, ngoại tệ mạnh hay hàng hóa.
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền
kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:
 Chi phí mòn giày : lạm phát giống như thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi
suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm
cho người ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên

Ví du: Cho vay với lãi suất là 15%. Nhưng TLLP là 20%. Vậy, người cho vay đã bị
thiệt hại:
Lãi suất thực= Lãi suất danh nghĩa - TLLP
- 5% = 15% - 20%
Lúc này, người đi vay được lợi.
Lập luận tương tự với người trả lương (DN) và người nhận lương (công nhân).
Lạm phát không dự kiến được là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối
lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng
thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi
vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến
người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại. Lạm phát không dự
kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của lạm
phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể và
điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải. Khi lạm phát biến
động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối lại của cải giữa các cá nhân
một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách
chống lại loại lạm phát này.
• Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát:
a.Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát 1 con số (tỷ lệ lạm phát dưới 10%/ năm.
Loại lạm phát này được xem là là tích cực và cần thiết vì nó có khả năng tạo điều
kiện thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nguyên nhân: do sức ỳ, do sự kỳ vọng.
Sức ỳ của nền kinh tế là hiện tượng khi giá cả tăng lên vào dịp lễ, Tết, sau đó giảm , nhưng
không giảm về đúng mức trước khi tăng giá, luôn tăng lên một chút, gây ra lạm phát với tỉ
lệ thấp.
Do sự kỳ vọng, sẽ điều chỉnh các chỉ tiêu danh nghĩa.
Tác động: tương đối ổn định, có thể ký các hợp đồng với các điều kiện danh nghĩa
8
b. Lạm phát phi mã:

nhất.. Từ tháng 1 năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên
10.000.000.000. Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tới nền kinh tế Đức đến
mức nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh chủ nghĩa Đức
quốc xã và Thế chiến thứ hai
Tác động: phá hủy tòan bộ hệ thống tài chính, tiền tệ của quốc gia, hay nền kinh tế đó.
4. Nguyên nhân lạm phát
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì lạm phát là một căn bệnh kinh
niên của mọi nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Nó không có bản chất giai cấp mà chỉ có bản
chất kinh tế. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những
9
giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu
thì lạm phát có thể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hoá nào
với bất kỳ chế độ xã hội nào.
Biểu hiện của lạm phát là: khi mức chung của giá cả
hàng hoá và chi phí sản xuất đồng thời tăng lên một cách phổ
biến trong một khoảng thời gian đủ dài để nhận rõ xu hướng
này. Nguyên nhân của lạm phát bao gồm:
a. Do sức ỳ của nền kinh tế:
Giá cả tăng đều với 1 tỉ lệ nhất định trong thời gian
dài, nền kinh tế không có những thay đổi lớn nào về cung cầu
hàng hóa, người ta đi đến trông chờ vào tỉ lệ đó, nó sẽ được
hoạch toán vào tất cả các hợp đồng của nền kinh tế. Đó chính là sức ỳ của nền kinh tế, tạo
ra lạm phát ỳ. Đây là lạm phát dự đoán, còn được gọi là lạm phát do quán tính.
Ví dụ cụ thể của hiện tượng lạm phát do quán tính là khi nền kinh tế bị lạm phát
cao, mọi người có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiền mặt tối thiểu để chi tiêu hằng ngày,
họ đem tiền đổi lấy các đồng tiền mạnh khác, vàng hay các loại hàng hoá để tích trữ giá trị,
làm tăng lượng tiền lưu thông trên thị trường, càng làm đồng tiền mất giá và tăng lạm phát.
b. Do cầu kéo:
Khi tổng cầu tăng, dẫn đến mức giá chung của hàng hóa tăng, gọi là lạm phát do
cầu kéo. Lạm phát này do 2 yếu tố:

tăng nên doanh nghiệp buộc phải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận, cuối cùng
thị trường cân bằng tại mức giá cao hơn ban đầu. Năng lực sản xuất của quốc gia giảm có
thể do các nguyên nhân như: giảm sút nguồn nhân lực, do sự gia tăng tỉ lệ thất nghiệp tự
nhiên, do sự biến động chính trị, chiến tranh, thiên tai, do năng lực sản xuất suy giảm nên
khả năng đáp ứng nhu cầu giảm, gây khan hiếm hàng hoá và tăng giá cả.
d. Các nguyên nhân lạm phát khác:
 Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế: xuất hiện khi có quan hệ không bình
thường trong các cân đối cơ bản của nền kinh tế như Công nghiệp - Nông nghiệp, Công
nghiệp nặng - Công nghiệp nhẹ, Sản xuất - dịch vụ, Xuất - nhập khẩu và Tích luỹ - tiêu
dùng... Các quan hệ nói trên không được đặt trong một hoàn cảnh kinh tế cụ thể để có định
hướng cân đối một cách hợp lý sẽ lập tức gây ra hiện tượng đông cứng một bộ phận nguồn
lực kinh tế, giữa chúng không chuyển hoá được cho nhau tạo ra một trạng thái vừa thừa,
vừa thiếu các năng lực sản xuất một cách giả tạo. Vì vậy, còn có thể gọi nhóm nguyên nhân
gây ra loại lạm phát này là sự ách tắc các nguồn vốn, các lợi thế so sánh giữa các vùng
trong nội bộ nền kinh tế và lợi thế so sánh giữa các quốc gia không được khai thác làm cho
sức phát triển bị "đóng băng" hoá. Lạm phát do cơ cấu khiến
ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động, ngành kinh
doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong
ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng
giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh từ đó.
 Lạm phát do xuất khẩu: xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng
cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị
trường trong nước giảm làm tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung
và tổng cầu mất cân bằng.
 Lạm phát do nhập khẩu: khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm
đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
11
 Lạm phát tiền tệ : cung tiền tăng ( chẳng hạn do Ngân hàng Trung ương mua
ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước, hay chẳng hạn
do Ngân hàng Trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền

thể phát hành thêm một lượng tiền mới để tiêu xài cho những chương trình công cộng hoặc
giải quyết thiếu hụt ngân sách khiến đồng tiền được xoay vòng tạo ra thêm của cải, trực
12
tiếp đẩy cao tổng sản lượng quốc dân GDP lên thêm một mức. Dĩ nhiên nếu quá đà sẽ có
nguy cơ gây ra lạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm các hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt.
Chỉ có thể chấp nhận có lạm phát vừa phải trong điều kiện nền kinh tế còn chưa đạt tới giá
trị sản lượng tiềm năng so với điều kiện hiện tại, khi mà nhiều nhân tố của sản xuất vẫn
còn nằm trong tình trạng ngủ yên hoặc chưa có phương án khả thi để phát huy các tiềm
năng đó. Khối tiền tệ chung Châu âu EC và một số nước bắc Âu như Thuỵ Điển, Na Uy,
Đan mạch, v.v đã điều hành CSTT bằng cơ chế Ngân hàng Trung ương đảm bảo lạm phát
mục tiêu: nghĩa là Ngân hàng Trung ương sử dụng công cụ CSTT để duy trì và đảm bảo
một mức lạm phát mục tiêu giao động xung quanh một chỉ số CPI được xác định là 2 hoặc
3%/năm và nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng GDP trong năm. Cơ chế này đã và đang phát huy
nhiều tác dụng tích cực ít nhất trong vòng 5 năm qua.
• Tác động tiêu cực:
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thành nạn
nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều là người tiêu dùng. Tuy
nhiên, 4 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là:
 Người về hưu : lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất về
giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá
đã tăng lên gấp nhiều lần.
 Những người gửi tiền tiết kiệm: hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến cho
những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm
đánh mất của cải nhanh nhất.
 Những người cho vay nợ: khoản nợ trước đây có thể mua được một món
hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp
hơn. Vậy ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì
người sung sướng nhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có
vẻ nhẹ gánh hơn.
 Những người thuộc diện nghèo trong xã hội (thu nhập dưới 1USD/ngày): đây

đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng
Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở
lên thật sự khó khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối
với các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn
trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng đến tính thanh
khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là điều khó tránh khỏi.
Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng hóa,
thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát, nhưng lại
khan hiếm tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam có khoảng
35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân hàng, trong
đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu thông ngoài
ngân hàng lớn, Ngân hàng Nhà nước thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu
chuyển của luồng tiền này, các Ngân hàng Thương mại cũng khó khăn trong việc phát
triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền thiếu,
nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát ly ngoài
hoạt động.
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh
hưởng lớn đến hoạt động của các Ngân hàng Thương mại. Sự không ổn định của giá cả,
bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó
khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính – tín
dụng.
6. Một số ví dụ điển hình:
a. Zimbabwe:
14

Trích đoạn Biện pháp giảm tỉ lệ thất nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status