BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VƯƠNG VĂN LƯƠNG
KHO ST THC TRẠNG CUNG NG
THUC NĂM 2013 TẠI VIN Y HỌC PHNG
XẠ VÀ U BƯU QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thanh Bình
Nơi thực hiện đề tài: Trường ĐH Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện: Từ 5/2013 đến 5/2014 HÀ NỘI 2014
3
LỜI CM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận đựơc rất nhiều
sự quan tâm , giúp đỡ vô cùng quí báu của các Thầy cô giáo, đồng nghiệp
, bạn bè và gia đình .
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS.TS
Nguyễn Thanh Bình - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội và
PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà - Trưởng phòng sau đại học , Trường Đại
học Dược Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại
học, Bộ môn Quản lý và kinh tế Dược, các Thầy giáo, Cô giáo và các
Phòng, Ban, các bạn học trong lớp Chuyên khoa I - Khoá 15 Hải Dương
đã đóng góp nhiều công sức đào tạo, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng biết ơn sự quan tâm và giúp đỡ của Đảng uỷ, Chỉ
huy Viện, Các đồng chí Chủ nhiệm Khoa, Ban cùng các bạn đồng nghiệp
trong Viện Y học Phóng xạ và U bướu Quân đội - Cục Quân y, nơi đã tạo
rất nhiều điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
này.
Sau cùng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người
CU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 5
Chương 3: KẾT QU NGHIÊN CU
3.1 Khảo sát hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện
3.1.1 Quy trình lựa chọn thuốc
3.1.2 Danh mục thuốc bệnh viện
3.2 Khảo sát hoạt động mua thuốc tại bệnh viện
3.2.1 Nguồn mua thuốc
3.2.2 Kinh phí mua thuốc
3.2.3 Hình thức lựa chọn nhà thầu
3.2.4 Quy trình đấu thầu
3.2.5 Phương thức giao nhận
3.2.6 Thủ tục thanh toán
3.3 Khảo sát hoạt động cấp phát, tồn trữ thuốc tại khoa Dược
bệnh viện
3.3.1 Hoạt động cấp phát thuốc
3.3.2 Hoạt động tồn trữ thuốc
3.4 Khảo sát hoạt động giám sát sử dụng thuốc tại bệnh viện
3.4.1 Hoạt động giám sát sử dụng thuốc
3.4.2 Hoạt động của tổ Dược lâm sàng và thông tin
thuốc
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1 LỰA CHỌN THUỐC
MHBT Mô hình bệnh tật
TCKT Tài chính kế toán
TTY Thuốc thiết yếu
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
YHPX&UB Y học Phóng xạ và U bướu
7
DANH MỤC CC BNG, BIỂU
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của bệnh viện
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực khoa Dược bệnh viện
Bảng 1.3 Số lượng bệnh nhân đến KCB tại bệnh viện năm 2013
Bảng 3.1 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện theo nhóm tác dụng dược lý
Bảng 3.2 So sánh cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện với danh mục thuốc
chủ yếu
Bảng 3.3 Tỷ lệ thuốc mang tên gốc trong danh mục thuốc bệnh viện
Bảng 3.4 Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước, thuốc thuốc nhập khẩu
trong danh mục thuốc bệnh viện
Bảng 3.5 Số lượng thuốc bệnh viện đã sử dụng theo danh mục thuốc
được phê duyệt đấu thầu đầu năm 2013
Bảng 3.6 Kinh phí mua thuốc của khoa Dược năm 2013
Bảng 3.7 Số lượng các trang thiết bị bảo quản thuốc tại bệnh viện
Bảng 3.9 Giá trị tiền thuốc xuất, nhập, tồn kho của khoa Dược bệnh
viện năm 2013 9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện Quân đội ngoài chức năng, nhiệm vụ đặc thù do Bộ Quốc
phòng giao còn là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân. Một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng công tác khám chữa bệnh của Bệnh viện là vấn đề cung ứng thuốc
đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả và hợp lý. Hiện
nay, công tác cung ứng thuốc trong Bệnh viện nói chung và Bệnh viện
trong Quân đội đã đạt được những thành tựu nhất định. Hầu hết các bệnh
viện đều đã thành lập Hội đồng thuốc và điều trị, đa số khoa dược Bệnh
viện cung cấp đủ thuốc cho nhu cầu điều trị, đúng thuốc trong danh mục
của Bệnh viện, bảo đảm chất lượng, số lượng, nguồn gốc thuốc. Việc sử
dụng thuốc an toàn, hợp lý, tiết kiệm đã có nhiều tiến bộ. Công tác theo dõi
tác dụng không mong muốn của thuốc được tăng cường. Các khoa dược
Bệnh viện từng bước vươn lên đảm nhiệm chức năng thông tin, tư vấn sử
dụng thuốc, bước đầu thiết lập mối quân hệ giữa bác sĩ, dược sĩ và y tá
nhằm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, có hiệu quả cho người bệnh. Tuy
nhiên công tác cung ứng thuốc còn có nhiều bất cập. Có quá nhiều nguồn
cung ứng thuốc cho Bệnh viện. Ảnh hưởng của các hoạt động marketing
đối với việc kê đơn của bác sĩ ngày càng nghiêm trọng. Hiện tượng kê quá
nhiều thuốc trong một đơn, kê thuốc với tên biệt dược gây tình trạng lạm
11
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. QUN LÝ CUNG NG THUC BNH VIN
Quản lý cung ứng thuốc Bệnh viện là một chu trình khép kín gồm
các bước thể hiện theo sơ đồ sau:
Hình 1.1. Chu trình cung ứng thuốc Bệnh viện [8]
1.1.1. Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại thuốc để cung ứng.
học
Công
nghệ
12 Hình 1.2. Các yếu tố quyết định đến việc xây dựng DMTBV
Mô hình bệnh tật của Bệnh viện
Mô hình bệnh tật của Bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong
khoảng thời gian nhất định (thường theo từng năm) về số bệnh nhân đến
khám và điều trị, hồ sơ bệnh án là tài liệu duy nhất để xác định chẩn đoán
bệnh tật, do đó hồ sơ bệnh án cần phải được ghi chép đầy đủ thông tin chủ
yếu, những chẩn đoán cụ thể và chi tiết để có thể chọn được mã số. Tổ
chức y tế Thế giới (WHO) ban hành danh mục phân loại quốc tế về bệnh
đặn tăng, thêm vào đó là đại dịch HIV/AIDS và dịch lao hoành hành.
Phác đồ điều trị (hướng dẫn thực hành điều trị): là căn cứ quan
trọng không thể thiếu trong việc lựa chọn và xây dựng DMTBV. Phác đồ
điều trị là văn bản chuyên môn có tính chất pháp lý. Nó được đúc kết từ
kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học
mỗi loại bệnh. Một hướng dẫn thực hành điều trị có thể có một hoặc nhiều
công thức điều trị khác nhau.
Các tiêu chí của hướng dẫn thực hành điều trị về thuốc gồm:
- Hợp lý: Đúng thuốc, đúng chủng loại, phối hợp đúng, còn hạn
dùng.
- An toàn: Không gây tai biến, không có tương tác thuốc.
- Hiệu quả: Dễ dùng, khỏi bệnh, không để lại hậu quả xấu.
- Kinh tế: Chi phí điều trị thấp nhất. [8]
Ở Việt Nam, nhận thấy ý nghĩa sát thực của hướng dẫn thực hành
điều trị, rất nhiều Bệnh viện đã tiến hành xây dựng phác đồ điều trị cho
Bệnh viện mình, dựa trên hướng dẫn thực hành điều trị của Bộ Y tế.
Chủ trương, chính sách của nhà nước: Ưu tiên thuốc thiết yếu,
thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu, thuốc sản xuất trong nước có chất
lượng đảm bảo.
Danh mục thuốc thiết yếu: Là căn cứ lựa chọn thuốc quan trọng
trong Bệnh viện. Danh mục TTY là danh mục những loại thuốc thỏa mãn
nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân. Những loại thuốc luôn
luôn sẵn có bất kì lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào
14
chế thích hợp, giá cả hợp lý. Danh mục TTY có đầy đủ các chủng loại
thuốc để đáp ứng điều trị các bệnh thông thường, tên thuốc đơn giản, dạng
bào chế dễ sử dụng, bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc
thông tin và xác định được nhu cầu thuốc một cách hợp lý [8].
Danh mục thuốc chủ yếu: Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc chủ
Như vậy, lập DMTBV phải trải qua quá trình nghiên cứu, phân tích,
dự đoán nhu cầu, điều kiện cung ứng thuận lợi, có hiệu quả điều trị cao
nhất, ít tác dụng không mong muốn nhất, ưu tiên thuốc nội cùng loại, hoặc
thuốc của những hãng đã được chứng minh hiệu quả lâm sàng. Mặt khác
DMTBV phải phù hợp với khả năng tài chính của Bệnh viện, trình độ kê
đơn, điều kiện kinh tế của bệnh nhân và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm
y tế [4].
1.1.2 Mua thuốc: Quản lý mua sắm thuốc thể hiện trong sơ đồ sau: Hình 1.3. Chu trình mua thuốc
Xác định nhu cầu
01/2012/TTLT-BYT-BTC, Thông tư số 11/2012/TT-BYT và các qui định
hiện hành của pháp luật về đấu thầu bảo đảm mua sắm đúng luật và đủ
thuốc phục vụ kịp thời nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh của đơn vị.
Chọn nhà cung ứng: Sau khi chọn được phương thức mua, tiến
hành tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà cung ứng phù hợp với yêu cầu của
Bệnh viện.
Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng xem có đúng số lượng, chủng
loại và chất lượng như đã quy định trong hợp đồng trước đó hay không.
Việc đặt hàng sẽ tiến hành theo dự trù nhưng cũng cần phải xác định lượng
đặt hàng và lượng dự trữ để phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế, tránh tồn
đọng hay thiếu thuốc.
Lượng dự trũ thường xuyên: Theo khuyến cáo thì số lượng dự trữ
thường xuyên cho kho thuốc Bệnh viện bằng 1,5- 2 lần số lượng cấp phát
hàng thàng.
Lượng dữ trữ bảo hiểm: Đề phòng các biến động như giá ngoại tệ tăng,
17
mốc thời điểm điều chỉnh thuế nhập khẩu, dự phòng trong thời gian hết
hợp đồng cũ nhưng chưa kịp tổ chức đấu thầu.
Khoảng cách đặt hàng: Theo nguyên tắc trong kho luôn phải lưu kho
mức dự trữ tối thiểu cần thiết để đảm bảo quá trình KCB diến ra liên tục
trong mọi điều kiện cung ứng bình thường và không bình thường.
Nhận thuốc và kiểm tra: Nhận thuốc và ghi chép sổ sách rõ ràng,
số lượng, qui cách, đối chiếu với các hóa đơn, phiếu báo lô…
Thanh toán: Thanh toán theo phương thức cụ thể tùy Bệnh viện,
có thể bằng tiền mặt, chuyển khoản Thanh toán theo số lượng đã mua và
đúng giá đã ghi trong bản hợp đồng mua bán.
Thu thập thông tin về sử dụng, tiêu thụ: Cập nhật thông tin về tình
hình tiêu thụ để có kế hoạch cho các kỳ mua hàng sau hợp lý hiệu quả hơn.
1.1.3 Cấp phát, tồn trữ thuốc
18
Quy trình cấp phát thuốc từ kho Dược đến khoa lâm sàng và đến
bệnh nhân được xây dựng cụ thể dựa trên tính chất, đặc điểm của từng
Bệnh viện, trên nguyên tắc cấp phát kịp thời, thuận tiện. Theo Chỉ thị số
06/CT-BYT ngày 14 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc
chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong Bệnh viện và Thông tư
số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 qui định tổ chức và hoạt
động của khoa Dược Bệnh viện đã nêu rõ: Khoa Dược bảo đảm cấp phát
thuốc, hóa chất (pha chế, sát chuẩn) đầy đủ và kịp thời theo phiếu lĩnh
thuốc, hóa chất của khoa lâm sàng, cận lâm sàng. Để đảm bảo công tác cấp
phát thuốc theo quy chế Bệnh viên, khoa Dược phải:
Có kho chính, kho lẻ:
Kho chính: Trưởng kho là dược sĩ, giúp Trưởng khoa làm dự trù
mua thuốc, hóa chất, vật dụng y tế tiêu hao, phải nắm vững tình hình tồn
kho, cấp phát thuốc cho các kho lẻ và phòng pha chế.
Kho lẻ: Cấp phát cho các khoa điều trị, khoa cận lâm sàng, khoa
khám bệnh. Thuốc pha chế trong Bệnh viện phải được bàn giao cho kho
cấp phát lẻ. Trường hợp hai cơ sở xa nhau sẽ cấp phát ngay tại phòng pha
chế.
Thuốc thuốc gây nghiện, hướng tâm thần phải thực hiện cấp phát
thuốc đúng quy chế.
Phiếu lĩnh thuốc ghi sai hoặc phải thay thuốc, sau khi có ý kiến
của dược sĩ khoa dược, bác sĩ điều trị sửa lại và ký xác nhận vào phiếu.
Phiếu lĩnh thuốc phải được trưởng khoa dược hoặc dược sĩ được
ủy quyền ký tên.
Trước khi giao thuốc dược sĩ phải thực hiện 3 kiểm tra, 3 đối chiếu
theo đúng quy chế sử dụng thuốc.
Ba kiểm tra:
- Thể thức phiếu xuất kho, đơn thuốc, liều dùng, cách dùng.
20
Đảm bảo chất lượng thuốc: bao gồm cả hai hoạt động kỹ thuật và
quản lý. Hoạt động kỹ thuật là việc đánh giá các tài liệu về sản phẩm thuốc,
kiểm tra chất lượng trong phòng kiểm nghiệm, giám sát chất lượng thuốc
trong quá trình cung ứng. Hoạt động quản lý là lựa chọn nguồn cung ứng,
chuẩn bị hồ sơ hợp đồng mua thuốc, giám sát hợp đồng cung ứng.
Khoa Dược chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng thuốc do khoa
Dược phát ra.
Kiểm kê thuốc, hóa chất, dụng cụ y tế tiêu hao.
Thực hiện kiểm kê định kỳ theo qui định hàng tháng đối với khoa
Dược, 2 lần trong năm đối với các khoa, kiểm kê đội xuất khi có xảy ra vụ
việc mất thuốc, hỏa hoạn, thiên tai…
Thành lập hội đồng kiểm kê Bệnh viện.
Nội dung kiểm kê tại khoa Dược:
- Đối chiếu sổ xuất nhập với chứng từ.
- Đối chiếu sổ sách với hiện thực về số lượng và chất lượng.
- Đánh giá lại thuốc, hóa chất, vận dụng y tế tiêu hao, tìm nguyên
nhân chênh lệch, hư hao. Nếu chất lượng không đạt, yêu cầu hội đồng làm
biên bản xác định trách nhiệm và đề nghị cho xử lý.
Thống kê báo cáo sử dụng thuốc.
Khoa Dược có nhiệm vụ thực hiện báo cáo 3 tháng, 6 tháng, 9
tháng và 12 tháng theo qui định và báo cáo đột xuất khi cần thiết.
Báo cáo gửi lên cấp trên phải được Giám đốc Bệnh viện thông qua
và ký duyệt.
Phải ghi đầy đủ, đúng qui định trong mẫu báo cáo.
Thống kê báo cáo nhầm lẫn và tai biến dùng thuốc được thực hiện
hàng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. Trường hợp nghiêm trọng
phải báo cáo đột xuất theo qui định.
22
Chu trình quản lý sử dụng thuốc mô tả theo sơ đồ sau:
Hình 1.5. Chu trình quản lý sử dụng thuốc trong Bệnh viện
Kê đơn: Việc kê đơn thuốc phải thực hiện đúng quy chế kê đơn và
bán thuốc theo đơn. Tên thuốc trong đơn phải ghi theo tên quốc tế. Phải
chính xác đường dùng, liều dùng mỗi lần, số lần dùng thuốc một ngày, thời
điểm dùng thuốc trong ngày, thời gian cả đợt điều trị. Việc kê đơn phải
tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
Khi thấy thật cần thiết phải dùng tới thuốc.
Những thuốc tối cần thiết, có đầy đủ thông tin.
Chọn thuốc trị đúng bệnh cho từng người bệnh cụ thể.
Liều thuốc hợp lý.
Chỉ định dùng đúng lúc.
Chú ý thận trọng với từng cơ địa, trạng thái người bệnh.
Hạn chế, thận trọng trong các điều trị phối hợp với nhiều thuốc
hoặc thuốc hỗn hợp nhiều thành phần,
Theo đánh giá của tổ chức y tế Thế giới (WHO), công nghiệp dược
Việt Nam ở mức đang phát triển. Việt Nam đã có công nghiệp dược nội
địa, nhưng đa số phải nhập khẩu nguyên vật liệu, do đó nhìn nhận một cách
khách quan có thể nói rằng công nghiệp dược Việt Nam vẫn ở mức phát
triển trung bình - thấp. Giống như các nước lân cận, ngành công nghiệp
dược của Việt Nam phải chịu chuẩn nghèo. Bảo hiểm y tế không đủ và
không đều cho người dân nên bệnh nhân phải trả nhiều hơn cho số thuốc
mà họ cần. Điều này đã cản trở việc tăng trưởng mạnh của thị trường.
Chính vì vậy cho đến năm 2009, chi tiêu cho y tế của Việt Nam chỉ chiếm
1.6% GDP.
24
Phần lớn các loại thuốc sản xuất ở Việt Nam đều là thuốc thông
thường, rất ít thuốc đặc trị. Các loại thuốc trong nước có giá thành rẻ,
thường được sử dụng ở các bệnh viện tuyến cơ sở hoặc bệnh viện thông
thường. Do đó, các công ty dược trong nước không thể đáp ứng đủ nhu
cầu nội địa. Hơn nữa do tâm lý thích dùng hàng ngoại của người Việt
Nam nên những năm qua thị phần nội địa vẫn bị hàng ngoại nhập chiếm
ưu thế.
Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng gia tăng việc chi
tiêu về dịch vụ y tế, đặc biệt là chi tiêu cho dược phẩm. Giai đoạn từ
2001-2007, tiêu thụ thuốc tân dược của Việt Nam đạt mức tăng trưởng
bình quân hàng năm là 19,9% nhưng đến năm 2008 thì tốc độ này đã là
25,5 % so với năm 2007. Qua đó có thể thấy quy mô thị trường ngày
càng tăng, dẫn đến doanh thu tiêu thụ cũng tăng theo.
Theo thống kê, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2010
hơn 1,9 tỉ USD, trong đó trị giá thuốc trong nước hơn 900 triệu USD.
Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2010 đạt mức 22,25 USD, tăng
2,48 USD so với năm 2009, nhưng vẫn còn thấp so với mức trung bình
của thế giới (40 USD/người/năm) [12].
Hệ thống văn bản pháp quy chưa hoàn thiện, còn nhiều thiếu sót, sơ
hở và chưa thống nhất, một số văn bản đang trong tình trạng thử nghiệm.
Sự quản lý nhà nước và các cấp lãnh đạo chưa đồng bộ, còn lơ là
thiếu sót, trình độ một số cán bộ còn yếu kém. Một số bộ phận nhỏ các cán
bộ bị suy thoái, chưa thực sự quan tâm đến sức khỏe người dân.
Nguyên nhân khách quan: Nền kinh tế kém phát triển, đặc biệt nền
công nghiệp còn lạc hậu, cuộc sống vật chất thiếu thốn.
Tóm lại, trước những thực trạng này, các bệnh viện cần phải nỗ lực
hơn nữa trong việc thắt chặc quản lý để đạt mục tiêu cung ứng thuốc đầy
đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, an toàn, kinh tế và hiệu quả.