Đánh giá an toàn trong thực hành thuốc cho trẻ em tại một số cơ sở y tế ở việt nam - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

DƯƠNG THỊ THANH TÂM ĐÁNH GIÁ AN TOÀN TRONG THỰC HÀNH THUỐC
CHO TRẺ EM TẠI MỘT CƠ SỞ Y TẾ Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

DƯƠNG THỊ THANH TÂM

thu thập số liệu tại đây.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Phòng sau đại học,
Bộ môn Dược lâm sàng cùng toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Dược Hà
Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, những người đã động
viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, là lời cảm ơn đặc biệt nhất tôi muốn gửi đến gia đình, những
người đã luôn ở bên cạnh, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên

Dương Thị Thanh Tâm
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH – VIỆT
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1.Sai sót trong sử dụng thuốc 3
1.2.Sai sót trong sử dụng thuốc ở trẻ em. 6
1.3.Sai sót trong giai đoạn thực hành thuốc 8
1.3.1. Khái niệm sai sót trong giai đoạn thực hành thuốc 10
1.3.2. Phân loại các sai sót có thể xảy ra trong giai đoạn thực hành thuốc 10
1.3.3. Phương pháp quan sát xác định sai sót trong thực hành thuốc 10
1.3.4. Ý nghĩa lâm sàng và phương pháp đánh giá mức độ ảnh hưởng trên lâm sàng
của các sai sót gặp phải. 13
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
Tên đầy đủ
BN
Bệnh nhân
Dạng BC
Dạng bào chế
ĐD
Điều dưỡng
ĐTTN
Điều trị tự nguyện
HDSD
Hướng dẫn sử dụng
ICU
Khoa hồi sức tích cực (Intensive care unit)
IDg
Injectable Drugs Guide
Kt
Kỹ thuật
NCCMERP
Hội đồng Điều phối quốc gia về báo cáo và phòng ngừa sai sót
thuốc (The National Coordinating Council for Medication Error
Reporting and Prevention)
NSX
Nhà sản xuất
QS
Quan sát
QTBV

Hình 3. 3. Tỉ lệ từng loại sai sót trong tổng số sai sót gặp phải 36
Hình 3. 4. Điểm đánh các sai sót theo khoa phòng 37
Hình 3. 5. Phân bố các loại sai sót theo khoa phòng 43
Hình 3. 6. Sai sót liên quan đến dạng bào chế 45 DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH –VIỆT

Direct observation
Quan sát trực tiếp
Extra - dose error
Sai do thêm liều thuốc
Medication error
Sai sót trong sử dụng thuốc
Medication prescribing error
Sai sót trong kê đơn thuốc
Medication dispensing error
Sai sót trong cấp phát thuốc
Medication administration error
Sai sót trong thực hành thuốc
Medication transcription error
Sai sót trong sao chép thuốc
Medication monitor error
Sai sót trong giám sát thuốc
Omission error
Sai do bỏ lỡ thuốc
Other medication error
Sai sót khác
Preparation and administration
Chuẩn bị và dùng thuốc

gây tử vong. Như vậy, các sai sót trong sử dụng thuốc không thể được xem nhẹ.
Sai sót trong sử dụng thuốc được công nhận là một chỉ số quan trọng của chất
lượng điều trị bằng thuốc [9]. Những hậu quả của các sai sót trong sử dụng thuốc
gồm: thời gian nằm viện kéo dài, điều trị bổ sung, giải quyết các phản ứng độc
hại hoặc có hại, thêm xét nghiệm và theo dõi. Bên cạnh sự gia tăng chi phí chăm
sóc sức khỏe, một sự mất mát không thể tránh khỏi gây ra tổn thất lớn hơn là niềm tin
của công chúng đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe nói chung [12].
Nguy cơ sai sót trong sử dụng thuốc có xu hướng cao hơn ở bệnh nhân trẻ
em so với người lớn. Một nghiên cứu tại Mỹ báo cáo rằng sự kiện tác dụng phụ
tiềm tàng trong nhóm bệnh nhân trẻ em là phổ biến hơn gấp ba lần so với ở
người lớn [28]. Ngoài ra, các sai sót trong dùng thuốc ở trẻ em có nhiều khả
năng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hoặc gây tử vong cao hơn so với bệnh nhân
người lớn [18]. Theo một tổng hợp kết quả của 31 nghiên cứu về sai sót trong sử
dụng thuốc ở trẻ em [33], các sai sót trong sử dụng thuốc xảy ra với tỉ lệ không
2

hề nhỏ. Sai sót trong giai đoạn kê đơn chiếm 3–37%, giai đoạn cấp phát 5–58%,
và các sai sót trong giai đoạn thực hành thuốc chiếm 72–75%.
Việc cung cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân là một quá trình phức tạp. Sai
sót có thể xảy ra tại bất cứ giai đoạn nào trong quá trình đó: kê đơn, cấp phát,
thực hành thuốc. Nếu sai sót xảy ra trong giai đoạn kê đơn, có 2 cơ hội để phát
hiện và sửa chữa nó trong quá trình cấp phát và thực hành thuốc. Nếu sai sót xảy
ra trong giai đoạn cấp phát, có 1 cơ hội để phát hiện và sửa chữa nó khi thực
hành thuốc. Nhưng nếu các sai sót xảy ra trong giai đoạn thực hành thuốc, khả
năng mà sai sót có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân sẽ cao hơn rất nhiều.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sai sót trong sử dụng thuốc nói
chung và trên trẻ em nói riêng được tiến hành nhằm xác định tỉ lệ gặp sai sót
trong dùng thuốc, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng và từ đó đề xuất những
biện pháp để giảm thiểu sai sót trong quá trình sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Ở
Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, vấn đề sai sót y tế nói chung và sai sót trong

trình điều trị dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến gây hại cho bệnh nhân [22].
Phân loại sai sót trong sử dụng thuốc.
Có nhiều bước trong quy trình sử dụng thuốc, từ khi một thuốc được kê đơn
đến khi bệnh nhân nhận thuốc, tương ứng cũng có nhiều cách phân loại sai sót
trong sử dụng thuốc [3, 4, 22, 47]. Sai sót trong sử dụng thuốc có thể được phân
loại theo các giai đoạn của quá trình sử dụng thuốc mà trong đó sai sót xảy ra, hay
có thể phân loại sai sót trong sử dụng thuốc theo loại sai sót hoặc mức độ ảnh
hưởng của sai sót đối với bệnh nhân.
Phân loại sai sót theo giai đoạn của quá trình sử dụng thuốc
Sai sót trong sử dụng thuốc được phân loại theo từng giai đoạn trong quá trình sử
dụng thuốc: kê đơn, sao chép, pha chế, chuẩn bị, cấp phát, sử dụng, giám sát v.v [31]
Sai sót trong kê đơn (Medication prescribing error): sai sót trong kê đơn
có thể được định nghĩa là việc kê đơn không chính xác một thuốc cho bệnh nhân.
Lựa chọn không đúng thuốc (dựa trên chỉ dẫn, chống chỉ định, dị ứng được biết
đến, phương pháp điều trị bằng thuốc hiện có, và các yếu tố khác), liều, dạng
liều, số lượng, đường dùng, nồng độ, số lần dùng thuốc, hoặc hướng dẫn sử dụng
4

của một sản phẩm thuốc; kê đơn không đọc được hoặc các mệnh lệnh dùng
thuốc dẫn đến sai sót mà những sai sót này ảnh hưởng đến bệnh nhân cũng là sai
sót này.
Sai sót trong cấp phát (Medication dispensing error): Lỗi cấp phát có thể xảy
ra ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình cấp phát, từ khi dược sỹ nhận được đơn thuốc
để cấp phát một loại thuốc cho đến khi thuốc được cung cấp cho bệnh nhân. Theo một
số nghiên cứu, sai sót trong cấp phát xảy ra với tỷ lệ 1-24% [47]. Sai sót này xảy ra chủ
yếu với các loại thuốc có tên tương tự, có mẫu mã tương tự hoặc các tên thuốc mà khi
viết tay rất dễ dẫn đến nhầm lẫn, ví dụ Lasix® (Frusemide) và Losec® (Omeprazole);
amiloride 5mg và amlodipine 5mg
Sai sót trong thực hành thuốc (Medication administration error): sai sót
trong thực hành thuốc được xác định như một sự sai lệch trong việc chuẩn bị hoặc

nghiên cứu không thống nhất về cách phân loại, có nghiên cứu phân thành 3
mức, 4 mức, 5 mức hay thậm chí 9 mức, có nghiên cứu phân loại theo thang
điểm sau đó quy đổi thành mức độ nặng, nhẹ
Theo Hartwig, Denger và Schneider xác định bảy cấp mức độ sai sót trong
dùng thuốc như sau dựa vào ý nghĩa lâm sàng của nó [26] :
Mức độ 0 – Sai sót có khả năng xảy ra. (sai sót tiềm năng cũng nên được
phân loại vào nhóm này)
Mức độ 1 – Một sai sót đã xảy ra nhưng không gây tổn hại cho bệnh nhân.
Mức độ 2 - Một sai sót xảy ra dẫn đến sự cần thiết phải tăng cường theo
dõi bệnh nhân nhưng không làm thay đổi trong những dấu hiệu quan trọng và
không gây hại cho bệnh nhân.
Mức độ 3 - Một sai sót xảy ra dẫn đến sự cần thiết phải gia tăng giám sát
bệnh nhân với một sự thay đổi trong các dấu hiệu quan trọng nhưng cuối cùng
không gây hại bệnh nhân, hoặc bất kỳ sai sót nào dẫn đến sự cần thiết phải tăng
cường giám sát bằng các xét nghiệm cần thiết.
Mức độ 4 – Một sai sót đã xảy ra dẫn đến sự cần thiết phải điều trị bằng
một loại thuốc khác hoặc kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân hoặc ảnh
hưởng đến sự tham gia của bệnh nhân như trong một nghiên cứu về thuốc đã
được tiến hành.
6

Mức độ 5 – Một sai sót dã xảy ra gây tổn hại vĩnh viễn đối với bệnh nhân.
Mức độ 6 - Một sai sót xảy ra gây tử vong bệnh nhân
Theo Hội đồng Điều phối quốc gia về báo cáo và ngăn chặn sai sót trong
dùng thuốc (NCC MERP) [32] sai sót được chia thành 9 mức độ theo khả năng
ảnh hưởng trên lâm sàng như sau:
Sai sót
chưa xảy ra
Mức A: Hoàn cảnh hoặc các sự kiện có khả năng là nguyên nhân
gây sai sót (sai sót tiềm năng)


quá trình sử dụng thuốc đặt ra một loạt các rủi ro, chủ yếu là do sự khác biệt lớn
trong khối lượng cơ thể, đòi hỏi liều thuốc được tính riêng biệt dựa trên tuổi của
bệnh nhân, trọng lượng hoặc diện tích bề mặt cơ thể, và tình trạng lâm sàng v.v
Điều này làm tăng khả năng sai sót, đặc biệt là sai sót sử dụng thuốc [49]. Ngoài
ra, thiếu thông tin về liều lượng và chỉ dẫn giành cho trẻ em cũng làm tăng nguy
cơ sai sót [30]. Trong y học nhi khoa, liều thuốc thường được tính riêng biệt dựa
vào độ tuổi của bệnh nhân, trọng lượng và tình trạng lâm sàng. Do đó, có thể gia
tăng nguy cơ sai sót trong dùng thuốc ở đối tượng này.
Nguy cơ sai sót trong dùng thuốc ở bệnh nhân trẻ em có xu hướng cao
hơn so với người lớn. Một nghiên cứu tại Mỹ báo cáo rằng sự kiện tác dụng phụ
tiềm tàng ở nhóm bệnh nhân trẻ em là phổ biến hơn ba lần ở người lớn [28].
Ngoài ra, các sai sót trong dùng thuốc ở trẻ em có nhiều khả năng dẫn đến hậu
quả nghiêm trọng hoặc gây ra tử vong cao hơn so với bệnh nhân người lớn [18].
Điều này cho thấy các đặc điểm dịch tễ học của sai sót trong dùng thuốc có thể
khác nhau giữa người lớn và trẻ em.
Một trong những lý do là phần lớn các loại thuốc chỉ được thử nghiệm ở
người lớn và trẻ em thì không thể coi là người lớn thu nhỏ cho các chỉ số dược
động học của thuốc. Các chỉ số này phụ thuộc vào tuổi, cân nặng, bề mặt cơ thể
khu vực cũng như tình trạng sức khỏe của đứa trẻ. Trẻ em khác nhau về trọng
lượng, diện tích bề mặt cơ thể, và sự trưởng thành của hệ thống cơ quan, trong
đó ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa và bài tiết thuốc. Ngoài ra, có một vài
phác đồ chuẩn cho trẻ em, với hầu hết liều thuốc đòi hỏi phải tính toán trọng
lượng cơ thể.
Thiếu thông tin về liều dùng và chỉ định của thuốc cũng như những biến
đổi phức tạp của bệnh nhân gây khó khăn thêm cho việc xác định liều an toàn ở
bệnh nhân nhi. Thường không có sẵn các dạng liều và nồng độ thích hợp của
thuốc để sử dụng cho trẻ em nên đòi hỏi phải pha loãng hoặc chia nhỏ liều của
người lớn để sử dụng cho trẻ em, và điều này làm tăng nguy cơ gặp phải các sai
sót trong sử dụng thuốc cho trẻ em [28].

có nhiều khả năng gây nguy hại cho bệnh nhân hơn. Do đó cần đặc biệt thận
9

trọng trong giai đoạn thực hành thuốc cho bệnh nhân, hạn chế đến mức thấp
nhất các sai sót có thể gặp phải.
Trên thực tế, sai sót trong giai đoạn thực hành thuốc chiếm một tỉ lệ không
nhỏ trong cả quá trình dùng thuốc. Tỉ lệ các sai sót trong giai đoạn thực hành
thuốc ở các nghiên cứu khác nhau được xác định khác nhau rất nhiều và phụ thuộc
vào các phương pháp được sử dụng để đánh giá tỷ lệ lỗi. Theo một vài nghiên cứu
về sai sót trong thực hành thuốc sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp đã báo
cáo tỷ lệ sai sót từ 3% đến 44%.[37]. Theo một nghiên cứu quan sát các sai sót
trong giai đoạn thực hành thuốc tiến hành trên 36 cơ sở y tế [24] đã cho kết quả, tỉ
lệ sai sót trung bình trong 36 cơ sở là 19%, thay đổi từ 0% đến 67%. Theo một
nghiên cứu tổng hợp [33] về các sai sót gặp phải trong sử dụng thuốc ở trẻ em dựa
trên các nghiên cứu và tài liệu từ tháng 1/2000 đến 30/4/2005 đã cho con số ước
tính dịch tễ học phân phối của tỷ lệ tương đối của các loại sai sót trong sử dụng
thuốc trên đối tượng nhi là: kê đơn 3-37%, cấp phát 5-58% , thực hành 72-75%,
và sao chép 17-21% [33].
Thực hành các thuốc đường tĩnh mạch là một quá trình đặc biệt phức tạp
trong đó các sai thường xuyên xảy ra và có khả năng gây ra những tác động
nguy hiểm cho bệnh nhân [38]. Sai sót thường gặp khi thực hành các thuốc
đường tĩnh mạch được xác định là cố tình vi phạm các hướng dẫn khi tiêm tĩnh
mạch nhanh hơn so với thời gian khuyến cáo từ 3 đến 5 phút.
Nguyên nhân của sai sót trong dùng thuốc bao gồm sự thiếu nhận thức
về rủi ro có thể gặp phải, thiếu quy trình hợp lý và các thiết bị cần thiết. Sử
dụng các thuốc ít quen thuộc hoặc đòi hỏi những thiết bị chuyên dụng có thể
dễ dẫn tới sai sót hơn. Các thuốc cần nhiều bước trong quá trình sử dụng
cũng có thể có tỉ lệ mắc lỗi cao hơn.
Yếu tố góp phần gây sai sót khi thực hành thuốc bao gồm: không kiểm tra
thông tin của bệnh nhân trước khi sử dụng, lưu trữ các chế phẩm tương tự trong

1.3.3. Phương pháp quan sát xác định sai sót trong thực hành thuốc Có nhiều
phương pháp được sử dụng để xác định sai sót trong thực hành thuốc: xem xét các
báo cáo sự cố, xem biểu đồ dùng thuốc, phương pháp tự báo cáo giấu tên, phương
11

pháp xét nghiệm để tìm bằng chứng của thuốc được dùng hay bỏ lỡ Trong đó
phương pháp quan sát trực tiếp đã được nhiều nghiên cứu lựa chọn để sử dụng
thu thập dữ liệu về các sai sót trong giai đoạn thực hành thuốc.
Kỹ thuật quan sát trực tiếp (Direct observation): Đây là một kỹ thuật
được phát triển bởi Barker và Conell Mc. Phương pháp này dựa trên kĩ năng
quan sát trực tiếp của người quan sát có chuyên môn đã được đào tạo. Người
quan sát đi theo điều dưỡng viên, chứng kiến quá trình chuẩn bị và dùng thuốc,
đồng thời ghi chú lại những gì thực sự nhìn thấy. Sau đó, người quan sát đối
chiếu với y lệnh hoặc với y văn, nếu có sự khác biệt, một sai sót sẽ được tính. Kỹ
thuật này đòi hỏi người quan sát phải không tiết lộ mục đích thực sự của nghiên
cứu [10, 29].
Kĩ thuật quan sát trực tiếp có ưu điểm là có tính hiệu lực cao. Ngoài ra kỹ
thuật cũng hạn chế được các yếu tố chủ quan (bias) của người thực hành thuốc
như thiếu nhận thức về sai sót, thiếu dũng cảm báo cáo sai sót, kém trí nhớ hay
kỹ năng giao tiếp yếu. Thêm vào đó, phương pháp còn có thể giúp tìm ra đầu
mối nguyên nhân của các sai sót để từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa
các sai sót này [23].
Tuy nhiên phương pháp cũng còn một số hạn chế như: (1) người quan sát
cần có thể chất và tinh thần tốt; (2) chi phí cao do người quan sát cần được đào
tạo cẩn thận và (3) người quan sát phải công bằng và tế nhị để không ảnh hưởng
đến các nhân viên thực hành thuốc [24, 29].
Về nguy cơ ảnh hưởng của người quan sát đến đối tượng quan sát: Barker
và cộng sự [8] đã kiểm tra ảnh hướng của người quan sát đến đối tượng quan sát
bằng cách theo dõi tỷ lệ sai sót do từng điều dưỡng thực hành thuốc trong năm
ngày liên tiếp đã chỉ ra rằng người quan sát không ảnh hưởng đến tỷ lệ sai sót

13

1.3.4. Ý nghĩa lâm sàng và phương pháp đánh giá mức độ ảnh hưởng trên lâm
sàng của các sai sót gặp phải.
Ý nghĩa lâm sàng của sai sót trong thực hành thuốc được xác định như một
chấn thương thực sự mà bệnh nhân cụ thể có thể phải chịu đựng do sai sót đó đem
lại. Tầm quan trọng tương đối của một sai sót về thuốc là một vấn đề đánh giá
chuyên môn.
Tỷ lệ lỗi thuốc thường được sử dụng như một chỉ số để so sánh giữa các hệ
thống cung ứng thuốc. Tuy nhiên, các sai sót có mức độ tác động lên bệnh nhân rất
khác nhau. Mức độ nghiêm trọng của một lỗi dùng thuốc có thể từ tác động không
đáng kể trên bệnh nhân đến ảnh hưởng nghiêm trọng, bao gồm cả cái chết của bệnh
nhân. Do đó, mức độ nghiêm trọng, cũng như tần số các lỗi cần được tính đến khi
đánh giá các sai sót. Việc xác định sự khác biệt giữa các lỗi không có khả năng gây
ra thiệt hại và các lỗi có khả năng cho kết quả bất lợi cho phép chúng ta tập trung
vào các lỗi có hại nhiều hơn và đưa ra chiến lược để giảm thiểu chúng. Hơn nữa, kết
quả đánh giá mức độ nghiêm trọng cũng có thể được sử dụng để ước tính rủi ro của
bệnh nhân bị tổn hại bởi dùng thuốc.
Đã có một số phương pháp đánh giá mức độ nghiêm trọng của lỗi thuốc
được mô tả trong các tài liệu: phương pháp dựa trên các chỉ số quá trình, phương
pháp dựa trên kết quả tác động thực tế trên bệnh nhân một số nghiên cứu lại
đánh giá trên hậu quả tiềm năng trên bệnh nhân, và có những nghiên cứu dựa
trên sự kết hợp của các phương pháp này. Tuy nhiên, bất kì một công cụ đo
lường nào cũng cần phải có giá trị (ví dụ, là một thước đo chính xác mức độ
nghiêm trọng của lỗi thuốc), đáng tin cậy (ví dụ, cho cùng một kết quả tương tự
đối với các sai sót tương tự, bất kể ai đánh giá lỗi và thời điểm nào), và phương
pháp đó phải thực tế, dễ áp dụng.
Phương pháp dựa trên các chỉ số quá trình thường xem xét các tác động
dược lý của thuốc có liên quan hoặc các loại lỗi xảy ra. Mặc dù cách tiếp cận
đơn giản và đáng tin cậy, nhưng giá trị của phương pháp này đã không được

nghiêm trọng lâm sàng tiềm năng của các sai sót gặp phải trên thang điểm từ 0
đến 10 (0 tương ứng với "không có ảnh hưởng", 10 tương ứng với “tử vong”).
15

Người ta đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá phương pháp này. Mục tiêu
là xác định số lượng tối thiểu của các thẩm phán cần thiết để tạo điểm đáng tin
cậy, xác định xem nghề nghiệp của các thẩm phán ảnh hưởng đến điểm số, và để
kiểm tra tính hợp lệ của quá trình chấm điểm. Ba mươi chuyên gia chăm sóc sức
khỏe từ bốn bệnh viện ở Anh được mời để ghi điểm đánh giá về hậu quả tiềm
năng trên bệnh nhân cho 50 trường hợp sai sót thuốc trên thang điểm từ 0 đến
10, trong đó 0 đại diện một trường hợp không có hiệu lực tiềm năng và 10
trường hợp mà có thể dẫn đến tử vong. Có 16 trường hợp báo cáo sai sót trong
các tài liệu có thông tin về hậu quả thực tế của sai sót trên bệnh nhân để đánh giá
tính hiệu lực của điểm số với tiền đề là, nếu phương pháp chấm điểm là hợp lệ,
điểm số tương ứng cho những trường hợp này sẽ phản ánh mức độ nghiêm trọng
của các kết quả. Mười trong số các sai sót đó được đánh giá hai lần. Các dữ liệu
được phân tích bằng cách áp dụng lý thuyết khái quát với hai mô hình: một dựa
trên 10 trường hợp đã được đánh giá hai lần, bỏ qua ảnh hưởng của sự khác biệt
về nghề nghiệp và một dựa trên tất cả 50 trường hợp, bỏ qua ảnh hưởng của thời
điểm đánh giá. Hệ số khái quát hóa của 0,8 hoặc hơn được coi là đại diện cho độ
tin cậy chấp nhận được.
Nghiên cứu đã đi đến kết luận: phương pháp đánh giá mức độ nghiêm trọng
của các sai sót trong sử dụng thuốc bằng cách yêu cầu các chuyên gia ghi điểm
đánh giá hậu quả tiềm năng của sai sót mà không đòi hỏi kiến thức về kết cục
bệnh nhân là một phương pháp đáng tin cậy. Cần ít nhất bốn chuyên gia đánh giá
để thu được điểm số đáng tin cậy. Độ tin cậy và hiệu lực của phưong pháp không
bị ảnh hưởng bởi nghề nghiệp của các chuyên gia hoặc số lần mà các sai sót được
ghi nhận. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho rằng, trong thực tế, ít nhất một thẩm
phán nên được lựa chọn từ một trong ba lĩnh vực để thu được các kết quả của tất
cả các chuyên gia chăm sóc sức khỏe từ các lĩnh vực có liên quan [21].

nguyện (ĐTTN).
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các quan sát của nghiên cứu viên về giai đoạn
chuẩn bị và dùng thuốc trên bệnh nhân nhi được thực hiện trong thời gian quan sát.
- Tiêu chuẩn loại trừ: những trường hợp không thích hợp cho việc quan
sát (cấp cứu…), những trường hợp điều dưỡng biết hoặc đoán được mục đích
nghiên cứu.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu quan sát, tiến cứu
- Phương pháp: quan sát trực tiếp.
- Quan sát viên đi cùng với điều dưỡng khi điều dưỡng tiến hành chuẩn bị
và thực hiện thuốc cho bệnh nhân. Thông tin thu được từ sự quan sát quá trình
chuẩn bị và thực hành thuốc của điều dưỡng. Điều dưỡng không được thông báo
chính xác về mục đích của nghiên cứu.

Trích đoạn Phân loại theo mức độ nghiêm trọng tiềm năng của sai sót Sai sót liên quan đến dạng bào chế và đường dùng của thuốc Ảnh hƣởng tiềm năng trên lâm sàng của các sai sót
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status