MỞ ĐẦU
Đông Nam Á là một khu vực lịch sử văn hoá, có nền tảng chung từ thời
tiền sử, được sản sinh và phát triển trong một môi trường sinh thái tự nhiên xã
hội của khu vực. Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước được phân bố từ bờ
Nam sông Dương Tử đến Đông Bắc Ấn Độ sang cả châu Đại Dương.
Trên cơ sở tầng văn hoá chung đó qua tiếp biến với những nền văn hoá
khác, đặc biệt là tiếp xúc với văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc đã tạo thành những
nền văn hoá quốc gia khác nhau. Tất cả đã tạo nên tính thống nhất trong tính đa
dạng của văn hoá khu vực. Ngày nay, Đông Nam Á là một khu vực bao gồm 10
quốc gia độc lập, có thể chế chính trị xã hội khác nhau: Việt Nam, Lào,
Campuchia, Myanmar, Malaysia, Philippines, Indonesia, Brunei, Thái lan,
Singapo.
Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh cổ xưa phương Đông. Dân
tộc Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển,
đã trở thành một dân tộc vĩ đại tràn đầy sức sống trong cộng đồng các dân tộc
thế giới. “Dân tộc trung Hoa đã thu hút được muôn phương mà lại có phong thái
độc đáo, hình thành nên nền văn hoá Trung Hoa rực rỡ muôn màu mà lại đa
nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc mạc tươi đẹp”(1). Văn hoá Trung
Quốc là nền văn minh độc lập sừng sững tại phía Đông thế giới với một dáng vẻ
riêng biệt của mình.
Đương nhiên trong quá trình phát triển lịch sử, Đông Nam Á chịu ảnh
hưởng của các nền văn minh bên ngoài, song sự tác động ấy không vì thế mà
biến khu vực này thành khu vực “Hán hoá” hay “Ấn Độ hoá”… mà nó đã lựa
chọn những gì thích hợp, đồng thời phục tùng các đặc điểm của mình chứ
không phải tiếp thu tất cả những gì xa lạ. Hay nói cách khác, văn hoá Đông Nam
Á tiếp nhận bằng sự khúc xạ.
(1)Cao Thụ Huân (cb) – Pháp quy và cơ cấu Trung Quốc – Nxb Thế giới – 2002,
tr.5
1
I. VỊ TRÍ CỦA ĐÔNG NAM Á VỚI SỰ TIẾP XÚC VĂN HÓA VỚI
TRUNG HOA
Kết thúc cuộc “Hán Sở tranh hùng”, nhà Hán đã thống nhất nước Trung
Hoa từ Bắc vào Nam và phát triển đất nước theo một chiều ngược lại. Với triết
lý thực dụng, nền văn minh Trung Hoa tập trung vào chính trị – xã hội, tạo nên
một thiết chế của chế độ quân chủ mà tiêu biểu là hệ thống quan niệm “tu thân,
tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng giáo. Nền văn minh Trung Hoa đã
đóng góp cho nhân loại không ít những phát minh lớn trong khoa học kỹ thuật
(kim nam châm, nghề in, nghề làm giấy, chế tạo thuốc súng,…) và trong đời
sống văn hoá (chữ viết, Nho giáo, nghệ thuật hội hoạ, nền y học,…).
Theo nhiều học giả thì các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán đều có
những mối liên hệ “đồng văn”. Ở đó, sự thống nhất quốc gia dựa trên cơ sở văn
học chính trị chứ không phải bằng kinh tế thị trường. Xã hội coi trọng văn hoá
giáo dục, ham học hỏi, mê chữ nghĩa văn chương hơn là tài sản, gia thế, chức
tước và hình thành một đạo lý sống có “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”, một lối ứng xử
mang tính cộng đồng bền chặt. Khi bước vào hiện đại, các nước này đều chủ
trương “Đông học vi thể, Tây học vi dụng”, tạo nên mô hình phát triển có hiệu
quả trong việc kết hợp giữa khoa học kỹ thuật phương Tây với việc quản lý xã
hội phương Đông.
Tuy nhiên quá trình hội tụ của văn hóa Trung Hoa diễn ra theo con đường
“mưu đồ bá vương” với tính “hiếu đại, hỉ công, cùng binh, độc vũ” mang tính áp
đặt, đồng hoá với tư tưởng dân tộc nước lớn, nên làm cho các quốc gia lân cận
hết sức e ngại.
(2)Donald G. Mc. Cloud – System and process in Southeast Asia Westwie
press – USA – 1986, tr.10
3
III. SỰ TIẾP XÚC VỚI VĂN HÓA TRUNG HOA CỦA VĂN HÓA
ĐÔNG NAM Á
Nếu như nền văn minh nông nghiệp lúa nước của cư dân Đông Nam Á
thời tiền sử và sơ sử đã có những đóng góp vào cơ tầng của các nền văn minh cổ
Trung Hoa (vùng Hoa Nam), thì đến những thế kỷ trước và sau Công nguyên,
nền văn minh này đã có những ảnh hưởng dù rất khác nhau, đến quá trình hình
thông thương ra thế giới: con đường tơ lụa trên đường bộ về phía Tây Nam và
con đường tơ lụa trên biển đi về phía Đông Nam. Đó là cửa ngõ của Trung Quốc
đi qua biển Đông - nơi sinh sống của cư dân Đông Nam Á cả hải đảo lẫn lục địa.
Do đó mối quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á trên lục địa đã quan trọng
nhưng trên biển còn quan trọng hơn.
1.2. Về phía Đông Nam Á
Một là, Đông Nam Á là nơi hội tụ các nền văn minh lớn của Châu Á. Do
đó, các dân tộc Đông Nam Á dù lớn hay nhỏ đều tỏ ra có bản lĩnh và có kinh
nghiệm trong tiếp xúc văn hoá dù dưới hình thức cưỡng bức hay tự nguyện.
Hai là, Đông Nam Á vốn nằm ở ngã tư đường giao lưu quốc tế, cư dân ở
đây có truyền thống khoan dung văn hoá. Tôn trọng sự khác biệt của người khác
để người khác tôn trọng sự khác biệt của mình. Hơn nữa, cộng sinh văn hoá vốn
là truyền thống của một khu vực mà ở đó tất cả các quốc gia đều là các quốc gia
đa dân tộc không có ngoại lệ. “Thống nhất trong đa dạng” là nội lực của văn hoá
Đông Nam Á và do vậy họ có đủ bản lĩnh để sẵn sàng cộng sinh hoà bình với
các văn hoá ngoại lai, tránh được những bi kịch của các cuộc đụng độ giữa các
nền văn minh.
Ba là, văn hoá Đông Nam Á vốn là một chỉnh thể văn hoá từ thời cổ đại,
những sợi dây bền chắc của bề dầy văn hoá hàng ngàn năm giữa các dân tộc ở
Đông Nam Á là nền tảng sâu sắc và vữn chắc cho sự liên kết thành công của khu
vực.
2. Con đường tiếp xúc
5
Trên cơ tầng văn hoá Đông Nam Á thời tiền sử, các dân tộc ở đây đã tiếp
nhận văn hoá Trung Hoa ở những mức độ đậm nhạt khác nhau, trong những
điều kiện lịch sử cụ thể, với cách cư xử không giống nhau.
Trước tiên, thương nghiệp đóng vai trò chuyển tải văn hoá theo con
đường mà ta thường gọi là con đường dân gian. Tiếp theo là vai trò của các quan
đô hộ mà ta gọi con đường này là con đường triều đình.
Thương nghiệp bao giờ cũng đi trước. Ở Đông Nam Á có ba sản phẩm