Phân tích một số hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
ĐỖ TÚ ANH
PHÂN TÍCH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG
CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 60720412
Người hướng dẫn khoa học:
GS, TS. Nguyễn Thanh Bình

HÀ NỘI 2013 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận
được sự dạy dỗ, hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô
giáo, các cán bộ công tác tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, gia đình và bạn
bè. Đến nay, luận văn đã được hoàn thành.
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới GS. TS Nguyễn Thanh Bình, ng
ười thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong bộ môn Quản
lý và kinh tế dược đã cho tôi những kiến thức và những kinh nghiêm quý báu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, các phòng
ban và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện, dạy d

và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường.

4
1.2 Thực trạng công tác cung ứng thuốctrong bệnh viện hiện nay
6
1.3 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa
11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
2.1. Đối tượng nghiên cứu 19
2.2. Phương pháp nghiên cứu
19
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
19
2.2.2. Nội dung và các chỉ số nghiên cứu
20
2.2.3. Cách thu thập số liệu
20
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
24
3.1.Phân tích DMT đã sử dụng tại BVĐK tỉnh Thanh Hóa năm 2012 24
3.1.1 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nhóm dược lý 24
3.1.2 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc 29
3.1.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ đơn thành phần, đa thành phần 30
3.1.4 Cơ cấu thuốc tiêu thụ phân theo biệt dược gốc/ Thuốc theo tên INN/
Thuốc theo tên thương mại 31
3.1.5 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo quy chế chuyên môn 33
3.1.6 Tỷ lệ thuốc mua ngoài và các thuốc không sử dụng đến trong Danh mục
33
3.1.7 Tỷ lệ các thuố

DMTCY : Danh mục thuốc chủ yếu
DMTBV : Danh mục thuốc bệnh viện
GMP : Good Manufacturing Practice (Thực hành tốt sản xuất
thuốc)
GSP : Good Storage Practise ( Thực hành tốt bảo quản thuốc)

HĐ : Hoạt động
HĐT&ĐT : Hội đồng thuốc và điều trị
INN :
International Nonproprietary Names ( Tên chung quốc tế)
WHO : World Health Organization ( Tổ chức y tế thế giới).

DANH MỤC HÌNH

STT Tên Trang
Hình 1.1
Chu trình cung ứng thuốc tại bệnh viện
2

Hệ thống kho bảo quản thuốc, vật tư, hóa chất
42
Hình 3.8
Quy trình cấp phát thuốc tại BVĐK tỉnh Thanh hóa
50
Hình 3.9
Quy trình cấp phát thuốc cho bệnh nhân ngoại trú
51
Hình 3.10
Quy trình cấp phát thuốc nội trú
52
DANH MỤC BẢNG
STT Tên Trang
Bảng 1.1
Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK Thanh Hóa năm 2012
14
Bảng 1.2
Tỉ lệ cơ cấu nhân lực bộ phận, chuyên môn so với quy định
14
Bảng 2.1
Các tài liệu cần thu thập

Tỉ lệ thuốc chủ yếu trong DMTBV
36
Bảng 3.11
Cơ cấu thuốc theo phân tích ABC
37
Bảng 3.12
Cơ cấu các thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý
38
Bảng 3.13
Phân loại các kháng sinh thuộc hạng A
40
Bảng 3.14
Kết quả khảo sát việc sắp xếp thuốc trong kho
43
Bảng 3.15
Kết quả khảo sát việc ghi chép sổ sách về điều kiện bảo quản
thuốc tại kho ống
45
Bảng 3.16
Kết quả khảo sát việc ghi chép sổ sách về điều kiện bảo quản
thuốc tại kho viên
45
Bảng 3.17
Kết quả khảo sát việc ghi chép sổ sách về điều kiện bảo quản
thuốc tại kho dịch truyền
46
Bảng 3.18
Kết quả khảo sát việc ghi chép sổ sách về điều kiện bảo quản
thuốc tại kho thuốc BHYT
47

là tuy
ến cao nhất của năng lực chăm sóc y tế của tỉnh Thanh hóa. Bệnh viện hiện có
gần 800 giường bệnh và trung bình hàng năm sử dụng khoảng 100 tỷ đồng tiền
thuốc. Việc cung ứng và sử dụng thuốc trong Bệnh viện Đa khoa Thanh hóa cũng
đang được Sở Y tế và bản thân Ban Lãnh đạo bệnh viện đặt ra như một mục tiêu
của nghiên cứu nâng cao năng lực quản lý v
ề thuốc trong bệnh viện, giúp bệnh viện
ngày càng nâng cao hiệu quả đầu tư chăm sóc y tế nói chung trong địa bàn. Đây
chính là nhiệm vụ mục tiêu của nghiên cứu này:
“Phân tích một số hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh
hóa”, trong đó 2 mục tiêu là:
1) Phân tích hoạt động lựa chọn thuốc của Hội đồng thuốc và điều trị thông
qua danh mục thuốc
được sử dụng tại bệnh viện năm 2012.
2) Phân tích hoạt động tồn trữ, cấp phát thuốc tại bệnh viện trong năm 2012.
2

Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện

Cung ứng thuốc bệnh viện là một chuỗi các hoạt động từ lựa chọn thuốc, đến
mua sắm thuốc, phân phối thuốc và cuối cùng là sử dụng thuốc. Chu trình này được
mô tả theo sơ đồ dưới đây:


chuẩn.
- Phân tích sử dụng thuốc để xác định vấn đề.
- Thực hiện các can thiệp để nâng cao thực hành sử dụng thuốc.
- Xử trí các phản ứng có hại của thuốc và các sai sót trong điều trị.
- Thông báo cho tất cả các thành viên về những quy đị
nh, chính sách liên
quan tới sử dụng thuốc.
Theo các chức năng trên ta thấy HĐT&ĐT trực tiếp tham gia vào hoạt động
lựa chọn và quản lý sử dụng thuốc, nhưng lại không trực tiếp tham gia vào hoạt
động mua sắm và phân phối thuốc. Trong 2 hoạt động này, HĐT&ĐT có vai trò
phối hợp với bên mua thuốc và phân phối thuốc để đảm bảo bộ phận mua thuốc
thực hiện theo đúng yêu cầ
u của HĐT&ĐT về DMT đã được xây dựng và các chính
sách về thuốc[32].
Liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, tổng quan đi sâu vào 2 hoạt động: lựa
chọn và tồn trữ cấp phát thuốc như sau:
1.1.1. Hoạt động lựa chọn thuốc

Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại thuốc để cung ứng. Đây là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của Hội đồng thuốc và điều trị, là bước đầu tiên
và là khâu quan trọng nhất của quá trình cung ứng thuốc. DMTBV là cơ sở để đảm
bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch điều trị hợp lý, an toàn và hiệu quả, vì
vậ
y danh mục thuốc bệnh viện phải có số lượng và chủng loại đá ứng nhu cầu điều
trị, phù hợp với mô hình bệnh tật, kinh phí, trình độ chuyên môn, trang thiết bị của
bệnh viện. Việc lựa chọn thuốc phải dựa vào các yếu tố sau:
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Phác đồ điều trị.
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế


mỗi bệnh viện và các tiêu chí lựa chọn thuốc đã được Bộ Y tế quy định như trên, và
do đó, DMT sẽ có sự khác nhau giữa các bệnh viện.
1.1.2. Tồn trữ và cấp phát thu
ốc
Sau khi thuốc được nhập kho, khoa Dược tồn trữ và cấp phát đến các khoa
lâm sàng và phục vụ bệnh nhân.
Mỗi bệnh viện sẽ tùy theo điều kiện, đặc điểm của bệnh viện để xây dựng
quy trình cấp phát phù hợp với bệnh viện mình. Việc xây dựng quy trình cấp phát
thuốc càng khoa học bao nhiêu thì các khoa lâm sàng và khoa Dược càng chủ động
5

được việc cấp phát bấy nhiêu và hiệu quả công việc càng cao. Trong quá trình cấp
phát thuốc, Dược sĩ phải thực hiện 3 kiểm tra, 3 đối chiếu:
- 3 kiểm tra:
+ Thể thức phiếu xuất kho, đơn thuốc, liều dùng, cách dùng.
+ Bao bì, nhãn thuốc.
+ Chất lượng thuốc
- 3 đối chiếu:
+ Tên thuốc trong đơn.
+ Nồng độ, hàm lượng thuốc trong đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao.
+ Số l
ượng, số khoản thuốc ở đơn, phiếu với số thuốc sẽ giao.
Tồn trữ và bảo quản thuốc: Tồn trữ bao gồm cả quá trình xuất nhập kho hợp
lý, kiểm tra, kiểm kê, dự trù và các biện pháp kỹ thuật bảo quản hàng hóa. Trong
quá trình tồn trữ và bảo quản thuốc cần thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên
môn Dược[25].
Xây dựng cơ sở tồn kho hợp lý cũng là m
ột công việc quan trọng trong cung
ứng thuốc. Xây dựng cơ sở tồn kho phải dựa trên nguyên tắc: đảm bảo nhu cầu điều
trị và đảm bảo tính kinh tế, không để tồn đọng hàng gây ảnh hưởng đến chất lượng

Danh mục thuốc bệnh viện. Năm 2013, Bộ Y tế ban hành thông tư 21/2013/ TT-
BYT thay thế cho thông tư 08/BYT-TT, quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động
của HĐT&ĐT. Thông tư này là cơ sở pháp lý để HĐT&ĐT thực hiện các chức
năng của mình trong chu trình cung ứng thuốc, trong đó, có hướng dẫn cụ thể về
việc lựa chọn thuốc để xây dựng DMTBV.
Tuy vậy, cho đến nay việc xây dựng danh mục thuốc mặc dù đã được thực
hiện ở nhiều bệnh viện nhưng vẫn còn gần 10% bệnh viện chưa xây dựng danh mục
thuốc bệnh viện, 36% (10/28) bệnh viện vẫ
n thường xuyên kê đơn thuốc ngoài danh
mục [7]. Ưu tiên thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu, thuốc sản xuất trong nước, hạn chế
sử dụng thuốc đa thành phần, thuốc có nguồn gốc nhập ngoại luôn được chủ trương
trong lựa chọn thuốc [10][12][14] Nhưng trên thực tế, mặc dù giá trị sử dụng thuốc
sản xuất trong nước tăng theo xu hướng tăng chung c
ủa kinh phí mua thuốc, nhưng
tỉ lệ thuốc nội so với tổng số tiền thuốc tại bệnh viện hằng năm lại có sự chuyển
biến khác nhau theo từng phân tuyến bệnh viện. Theo thống kê của Cục quản lý
dược, năm 2010, tổng tiền mua thuốc của các bệnh viện trung ương tăng 26,9% so
với năm 2009 nhưng tỉ lệ sử dụng thuốc nội lại bị giảm 0,4%. Tại các bệnh viện
tỉnh/ thành phố, bệnh viện huyện, kinh phí mua thuốc tăng tương ứng 17,4% và
28%, đồng thời tỉ lệ sử dụng thuốc nội tăng nhẹ 0,7% và 0,9%. Tỉ lệ thuốc nội sử
dụng nói chung cho tất cả các bệnh viện tăng 0,5% từ 38,3% lên 38,7%. Cho đến
7

năm 2010, tỉ lệ thuốc ngoại vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong kinh phí mua thuốc: 88,1%
tại Bệnh viện trung ương ; 66,12% tại bệnh viện tỉnh/ thành phố; 38,5% tại các bệnh
viện huyện và chiếm 61,3% kinh phí mua thuốc chung cho tất cả các bệnh viện
[12]. Việc sử dụng thuốc ngoại với tỉ lệ lớn như trên sẽ gây lãng phí nguồn kinh phí
cho thuốc đồng thời không khuyến khích được sản xu
ất trong nước. Nguyên nhân
khách quan dẫn tới tình trạng trên là thuốc sản xuất trong nước chủ yếu mới đáp

Một số công cụ hữu ích dùng để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong
bệnh viện hiện nay là phương phương pháp phân tích ABC, phân tích VEN hoặc kết
hợp ma trận ABC/VEN. Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa
lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào
chiếm tỷ lệ
lớn trong ngân sách. Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng
của các nhóm thuốc: nhóm V (Vital) là nhóm quan trọng nhất; nhóm E
(Essential) cũng quan trọng nhưng ít hơn nhóm V; nhóm N (Non Essential) ít quan
trọng, không cần phải sẵn có. Phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập
quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng; hướng
dẫn hoạt động quản lý tồn trữ và quyết định giá thuốc phù hợp.
Phân tích ABC, VEN đã b
ước đầu được sử dụng tại Việt nam. Đặc biệt trong
năm 2013, Bộ Y tế đã ra thông tư yêu cầu HĐT&ĐT tại các bệnh viện sử dụng một
số phương pháp phân tích, trong đó có 2 phương pháp trên để đánh giá việc sử dụng
thuốc đồng thời làm nền tảng xây dựng DMTBV phù hợp. Cho đến nay, cũng đã có
nhiều nghiên cứu sử dụng 2 phương pháp này để phân tích, đánh giá hoặc can thiệp
tới hoạt động xây dựng DMTBV của HĐT&ĐT như : Một nghiên cứu sử dụng phân
tích ABC danh mục thuốc tại 3 bệnh viện : Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện Nhi
trung ương, Bệnh viện Lao phổi Trung ương đã chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc tại
Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện Lao phổi trung ương là có lẽ chưa hợp lý khi
mà tỉ lệ theo chủng loại nhóm A khá thấp : 9,6% tại BV Nhi Trung ương và 9,9%
tại Bệnh viện Lao phổi ; Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện nhân dân 115 đã sử
dụng ma trận ABC/ VEN để làm cơ sở thực hiện can thiệp vào việc xây dựng DMT.
Nghiên cứu đã đạt được kết quả đáng kể khi giảm tới 167 chủng loại thuốc trong
tổng số 541 thuốc trong Danh mục,…[19]. Việc phân tích DMT bằng công cụ phân
tích ABC tại nhiều bệnh viện đã chỉ ra vẫn còn tồn tại nhiều loại thuốc có hiệu quả
điều trị không rõ ràng trong DMT nhưng lại được tiêu thụ với số lượng rất lớn và
chiếm tỉ trọng không nhỏ trong kinh phí mua thuốc như vitamin, thuốc bổ,…
[18][17].

mới tới tính kinh tế trong tồn trữ [24]. Cũng trên cơ sở đó, Bộ Y tế đã yêu cầu lượng
thuốc tồn trữ trong các cơ sở y tế phải đủ dùng trong 2-3 tháng. Tuy nhiên, trên thực
tế tại nhiều bệnh viện, do hạn chế về nguồn kinh phí mua thuốc nên tình trạng trống
kho vẫn thường xuyên xảy ra. Bên cạnh đó, ít xảy ra hơn là tình trạng tồn kho do hệ
thông cung ứng yếu kém.
10

Việc bảo quản thuốc trong kho đa số được thực hiện đúng yêu cầu với các
thuốc đặc biệt như thuốc gây nghiện, hướng thần, thuốc yêu cầu bảo quản lạnh. Tuy
nhiên với các thuốc thông thường thì việc duy trì các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm là 2 yếu
tố quan trọng trong bảo quản thuốc tại các bệnh viện lại chưa được đánh giá lạ
i một
cách chính xác. Đa số hệ thống kho tàng phục vụ bảo quản thuốc tại các bệnh viện
đều chưa đạt tiêu chuẩn GSP.
Đối với hoạt động cấp phát thuốc, từ năm 2004, Bộ Y tế đã ra chỉ thị
05/2004/CT-BYT về chấn chỉnh công tác cung ứng thuốc tại các bệnh viện, theo đó,
Khoa dược phải tổ chức cấp phát thuốc tới các khoa lâm sàng. Nhưng cho đến nay,
thi
ếu thốn nhân lực dược tại nhiều bệnh viện là một vấn đề lớn khiến khoa dược vẫn
chưa thực hiện, hoặc thực hiện chưa đầy đủ nhiệm vụ này; Bên cạnh đó, tại nhiều
bệnh viện, quy trình quản lý thuốc trong kho vẫn được thực hiện với nhiều giai đoạn
thủ công, chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, do đó v
ẫn thường xuyên
xảy ra sai sót trong ghi chép. Việc rà soát lại rất mất thời gian và gây lãng phí nguồn
nhân lực vốn đã hạn hẹp của khoa dược. Do vậy, nghiên cứu ứng dụng công nghệ
thông tin trong cung ứng thuốc để nâng cao chất lượng và giảm thiểu công việc
đang là mục tiêu của nhiều bệnh viện lớn trong nước[17][16].
Về Giám sát sử dụng thuốc: Sự phát triển mạnh mẽ của ngành dược tạo ra sự

đa dạng chủng loại thuốc, số lượng thuốc cũng như tên biệt dược của các loại thuốc.

nhiều hạn chế do nhiều lý do như: thiếu nhân lực với trình độ phù hợp, tập trung
nhân lực không cần thiết vào công tác đấu thầu thuốc,…[26].
Tại bệnh viện Đa khoa t
ỉnh Thanh hóa, một nghiên cứu về Hoạt động xây dựng
danh mục thuốc của HĐT&ĐT năm 2010 đã được thực hiện và chỉ ra rằng việc xây
dựng danh mục thuốc của HĐT&ĐT tại bệnh viện cũng đã được thực hiện, tuy
nhiên, còn nhiều điều chưa hợp lý như HĐT&ĐT chưa có tiêu chí cụ thể bằng văn
bản để lựa chọn thuốc vào danh mục, tỉ lệ sử dụng thuốc nội còn quá cao, có hiện
tượng lạm dụng kháng sinh, thuốc bổ và các loại vitamin,…Tuy nhiên, chưa có
nghiên cứu nào khác về các giai đoạn còn lại của chu trình cung ứng thuốc tại bệnh
viện. Do đó, luận văn được thực hiện với mong muốn đánh giá lại hoạt động lựa
chọn thuốc của HĐT&ĐT trong năm 2012, đồng thời phân tích hiệu quả công tác
tồn trữ, cấp phát thuốc tại bệnh viện- là một phần chu trình cung ứng thuốc mà chưa
có ai nghiên cứu tại bệnh viện này. Từ đó, góp phần nhìn ra những vấn đề còn tồn
tại và đề xuất một sô giải pháp phù hợp.
1.3. Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh hóa

Bệnh viện đa khoa Thanh Hóa là Bệnh viện hạng 1, trực thuộc Bộ y tế với
quy mô tương đối lớn về tầm cỡ, quy mô, diện phát triển so với các bệnh viện tỉnh
12

khu vực phía Bắc với 750 giường bệnh và 856 cán bộ. Hiện Bệnh viện đang tiếp tục
xây dựng và mở rộng lên 1200 giường trong tương lai để đáp ứng nhu cầu khám
chữa bệnh của người dân.
1.3.1 Mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ của bệnh viện

 Mô hình tổ chức:
Mô hình tổ chức của BVĐK tỉnh Thanh hóa được mô tả theo hình 1.4
 Chức năng nhiệm vụ của Bệnh Viện:
- Cấp cứu và khám chữa bệnh

1. Cấp cứu ngoại
2. Gây mê hồi
sức
3. Ngoại tổng hợp
4. Ngoại gan mật
5. Ngoại tiết niệu
6. Ngoại chấn
thương
7. Ngoại chỉnh
hình – bỏng
8. Phẫu thuần
thần kinh –
lồng ngực
9. Ung bướu
10. Răng hàm mặt
11. Tai mũi họng
12. Mắt
Nội
1. Khoa Khám
Bệnh
2. Cấp cứu nội
3. Nội tiêu hóa
4. Tim mạch hô
hấp
5. Thần kinh
6. Khoa xương
khớp nội tiết
7. Thận lọc máu
8. Da liễu
9. Đông y

14 Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức bệnh viện
1.3.2. Cơ cấu nhân lực tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh hóa

Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bệnh
viện. Cơ cấu nhân lực của BV đa khoa Thanh Hóa được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1
: Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện ĐK Thanh Hóa năm 2012

Từ số liệu ở bảng cho ta thấy tỉ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn so với quy định tại
Thông tư liên tịch số 08/2007/ TTLT-BYT-BNV như sau:
Bảng 1.2
: Tỉ lệ cơ cấu nhân lực bộ phận, chuyên môn so với quy định
STT Trình độ Số cán bộ Tỉ lệ %
1 Bác sĩ 168
23.2
2 Dược sỹ (đại học và
sau đại học)
5
0.7
3 Dược sĩ trung học 41
5.7
4 Điều dưỡng, kĩ thuật
viên
377


a) Mô hình tổ chức

Khoa Dược bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh hóa được tổ chức theo mô hình: Hình 1.3:
Sơ đồ tổ chức khoa Dược
b) Chức năng của khoa Dược

Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám Đốc
bệnh viện. Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám Đốc bệnh
viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp
thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.
c) Nhiệm vụ của khoa Dược

sĩ trung học 1/2,5
Trưởng khoa Dược
Tổ pha chế
Tổ thông
tin thuốc và
DLS
Kho,cấp phát Tổ thống kê
Tổ nhà
thuốc
Kho
dịch
truyền
Kho
hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status