Bài luận
MỤC LỤC
MỤC LỤC...................................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................1
2.3. Đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam............25
2.3.1.Thành công..............................................................................................................25
2.3.3.Nguyên nhân của những hạn chế:...........................................................................26
3.1. Một số lưu ý đối với Việt Nam trong thu hút FDI từ Hàn Quốc..................................28
3.2. Một số đề xuất nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả FDI từ Hàn Quốc vào Việt Nam..28
3.2.1. Đối với Nhà nước...................................................................................................28
3.2.2. Đối với Doanh nghiệp............................................................................................30
KẾT LUẬN...............................................................................................................................33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................33
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
Bài luận
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
HQ: Hàn Quốc
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
Bài luận
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu của tất cả các nền kinh tế trên
thế giới, quá trình vận chuyển các luồng vốn quốc tế nhằm thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của các quốc gia cũng là một tất yếu. Việt Nam là một nền kinh tế đang
phát triển với một xuất phát điểm thấp, hội nhập kinh tế quốc tế mang lại rất
nhiều thuận lợi nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức nếu sự quản lý
nền kinh tế không khoa học và phù hợp. Với mục tiêu phát triển nền kinh tế đất
nước, nâng cao mức sống của người dân, Việt Nam không những cần khai thác
sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc và những điểm cần lưu ý
đối với Việt Nam trong thu hút FDI từ Hàn Quốc”, ngoài phần mở đầu và kết
luận, nội dung được kết cấu thành ba chương như sau:
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
HÀN QUỐCCHƯƠNG II: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC
NGOÀI CỦA HÀN QUỐC VÀ FDI CỦA HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM
CHƯƠNG III: MỘT SỐ LƯU Ý VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM THU
HÚT, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ FDI TỪ HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM
Do hạn chế về nguồn tài liệu và thời gian nghiên cứu nên Bài tiểu luận
còn nhiều thiếu sót, nhóm nghiên cứu rất mong sự thông cảm và góp ý của cô
giáo để bài nghiên cứu thêm hoàn thiện.
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn cô!
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
2
Bài luận
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ
CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
CỦA HÀN QUỐC
1.1. Cơ sở lý luận về Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.Khái niệm
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong
hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài
sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì
mục tiêu phát triển. Về mặt địa lý có hai loại đầu tư, đó là đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu
tư và sử dụng vốn là một chủ thể; có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân
người nước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử
cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư phê duyệt.
*Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty liên doanh)
Đây là hình thức mà các doanh nghiệp có các bên nước ngoài và nước chủ
nhà cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro
theo tỷ lệ vốn góp của mỗi bên. Thông thường nhà đầu tư nước ngoài không
được góp ít hơn một tỷ lệ đã được quy định trong luật đầu tư của nước nhận đầu
tư.
*Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là hình thức đầu tư mà doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài
thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh.
Mỗi dạng FDI đều có những hạn chế cũng như lợi thế cho các bên tham
gia đầu tư. Thông thường trong thời gian đầu tiếp nhận đầu tư, nước chủ nhà
khuyến khích áp dụng hình thức liên doanh, thậm chí trong một số lĩnh vực đầu
tư chỉ cho phép liên doanh để kiểm soát nhà đầu tư nước ngoài. Khi hoạt động
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
4
Bài luận
đầu tư trực tiếp nước ngoài đã ổn định thì hình thức doanh nghiệp 100% vốn
FDI là hình thức chủ yếu.
1.1.4.Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đối với nước Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài:
Các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép
chi phí sản xuất thấp hơn.
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương.
Khai thác chuyên gia, nguồn lao động và công nghệ: Không phải FDI chỉ
đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều
ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa nhằm khai thác khả năng công nghệ
gấp hơn 2 lần năm 1990: (iii) 5 năm 2001-2005: tốc độ tăng GDP đạt 7,5%
(nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%;
(iv) Năm 2006 đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng
10,37%, dịch vụ tăng 8,29% và (iv) Năm 2007 đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng
3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 8,6%.
ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao
năng lực sản xuất công nghiệp:
Trong 20 năm qua ĐTNN đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng
của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng
bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các
ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công
trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công
trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và
đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công
nghiệp phục vụ xuất khẩu...
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao
hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH),
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
6
Bài luận
tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua
các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2005 và năm
2006).
Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5
năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ
thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và
2005. Đặc biệt, một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc..) tỷ lệ
này đạt đến 65-70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn.
ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của
các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác
động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa
doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và
năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Sự lan
tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo
hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh
nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước
nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
ĐTNN đóng góp đáng kể vào NSNN và các cân đối vĩ mô:
Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam,
mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng.
Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp
ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước.
ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối
ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc
chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách
quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu...
ĐTNN góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế
quốc tế:
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
8
Bài luận
hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực
ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước,
chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt
khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005, 2006 và 2007.
ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100%
dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35%
Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước
ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp
định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích
và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà
đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải
thiện.
b. Mặt hạn chế:
Tuy đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, nhưng hoạt động ĐTNN
tại Việt Nam còn những mặt hạn chế như sau:
Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ:
Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực,
ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn
những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi
nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài.
Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư
thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, do
đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các
tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án ĐTNN nhất. Trong khi đó, các tỉnh
miềm núi, vùng sâu, vùng xa, những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ
phát triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đãi
cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm.
Tình trạng đó đã dẫn đến một nghịch lý, những địa phương có trình độ phát
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
10
Bài luận
triển cao thì thu hút được ĐTNN nhiều, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt
quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước. Trong khi đó, những vùng có
trình độ kém phát triển thì có ít dự án ĐTNN, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn
thấp.
Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu
Ngày nay, Hàn Quốc đã trở thành một đất nước giàu có, là nền kinh tế đứng
thứ 8 thế giới. Sau chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh
chóng từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những
nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP bình quân đầu
người của Hàn Quốc nhảy vọt từ 100 USD năm 1963 lên 10,000 USD năm 1995
và 25,000 USD vào năm 2007. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi
năm.
Trong những năm 1970 đến 1980, kinh tế Hàn Quốc tập trung phát triển
ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô và đã thu được những thành công đáng
kinh ngạc: Hiện Hàn Quốc có Posco là công ty sản xuất thép lớn thứ 3 trên thế
giới và ngành sản xuất ô tô cũng phát triển nhanh chóng điển hình là Hyundai
Kia Automotive Group góp phần đưa Hàn Quốc trỏ thành cường quốc đứng thứ
5 trên thế giới về ngành này.
Năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của OECD, một mốc quan trọng
trong lịch sử phát trỉên kinh tế của họ. Ngành dịch vụ phát trỉên nhanh, chiếm
khoảng 70% GDP. Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng
lên nhanh chóng thậm chí còn cao hơn các quốc gia phát triển khác ở châu Âu
và Bắc Mỹ.
Hiện nay, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tăng một phần là do sự
đầu tư và xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như Trung
Quốc, Việt Nam và Indonesia. Ngày 25/4/2008 Hàn Quốc vừa ra quyết định
thành lập 3 khu kinh tế tự do (FEZs), một phần trong nỗ lực nhằm thu hút thêm
đầu tư nước ngoài và thức đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Ngoài ra đầu tư
Nhóm 1 Lớp: Cao học Kinh tế đối ngoại 18
12