LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mọi doanh
nghiệp phải hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự quyết định và tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đòi
hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì không còn cách nào khác
phải biết đổi mới cho phù hợp từ việc nghiên cứu xem sản xuất cái gì, sản xuất
như thế nào đến việc tổ chức điều hành sản xuất ra sao để với chi phí thấp nhất
sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng. Đứng trước thực tế như vậy Hacatex cũng không ngừng vận động luôn
bám sát để nắm bắt sự thay đổi của thị trường, mạnh dạn áp dụng những thành
tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, tổ chức điều chỉnh lại cơ cấu
lao động, tác phong làm việc công nghiệp trong công ty … Với mục tiêu chất
lượng sản phẩm đặt lên hàng đầu, sản phẩm của HACATEX dù còn mới mẻ
nhưng đã nhanh chóng được thị trường nội địa chấp nhận và trong tương lai
không xa sản phẩm của công ty sẽ vươn ra thị trường khu vực và thế giới.
Trong thời gian ngắn ngủi chỉ có 7 tuần thực tập tại Công ty nhưng em đã
thấy một không khí làm việc rất sôi nổi, nó giúp em hiểu được thực tế hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và của công ty nói
riêng trong cơ chế thị trường, giúp em so sánh, kiểm nghiệm và áp dụng những
gì mình đã được lĩnh hội từ các thầy cô đến thực tế sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú trong công ty nhất là các cô chú
trong phòng Tổ chức hành chính đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Mạnh Hùng - giảng viên
khoa Kinh tế đã nhiệt tình hướng dẫn em, giúp em hoàn thành báo cáo thực tập
tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2004
Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Dương
PHẦN I:
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Với công nghệ mới và hướng đi đúng đắn đã giúp nhà máy từ chỗ làm
ăn thua lỗ, quy mô nhỏ với tổng vốn đầu tư ban đầu chỉ 475.406VNĐ
(thời giá năm 1968), số cán bộ công nhân viên chỉ 174 người trong đó
có 144 công nhân trực tiếp sản xuất, đến năm 1988 -sau hơn 10 năm
hoạt động tổng vốn đầu tư đă lên tới trên 5 tỷ VNĐ (thời giá năm
1968), tổng sản lượng đạt trên 10 tỷ VNĐ và số cán bộ công nhân viên
lên tới 1.079 người trong đó có 986 công nhân trực tiếp sản xuất. Điều
này chứng tỏ mặc dù trong cơ chế bao cấp sản xuất kinh doanh dưới sự
chỉ đạo của Nhà nước nhưng nhà máy đã không lệ thuộc mà luôn nỗ
lực phấn đấu để ngày càng phát triển.
Năm 1988 nhà máy đạt đỉnh cao về tiêu thụ sản phẩm, gồm có: 3,308
triệu m
2
vải mành và 2,8 triệu m
2
vải bạt các loại. Song song với việc
sản xuất nhà máy tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng như: văn phòng,
nhà xưởng, kho bãi, khuôn viên trong nhà máy cùng với việc không
ngừng đầu tư thêm máy móc thiết bị tạo điều kiện và môi trường làm
việc tốt hơn cho công nhân. Đây có thể coi là thời kỳ tăng trưởng của
nhà máy.
Trước thực trạng đất nước vào giữa thập kỷ 1980 đầy những khó khăn
gay gắt và phức tạp đã đặt ra một yêu cầu khách quan, bức xúc có ý
nghĩa sống còn với nền kinh tế nước nhà. Đại hội lần thứ VI của Đảng
đã có sự đổi mới về tư duy kinh tế, cụ thể là trong chỉ thị số 10 của Bộ
Chính Trị đã nêu rõ: xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp chuyển sang
nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, tự do kinh doanh, tự do cạnh
tranh dưới sự quản lý của Nhà nước.
Vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 tình hình trên thế
giới cũng hết sức phức tạp, sự khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và
ngoài về xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu nguyên vật liệu vì phần lớn
nguyên liệu của Công ty phải nhập từ nước ngoài.
Tuy vậy, Công ty vẫn hoạt động theo cơ chế hạch toán độc lập và chủ
động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình không ngừng
cải tiến về bộ máy quản lý cũng như công nghệ để nâng cao năng xuất
4
sản xuất và chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
Cuối những năm 1990 mặt hàng vải bạt của Công ty đã bước vào giai
đoạn suy thoái và vải mành phải cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm
ngoại nhập cả về chất lượng và giá cả. Đứng trước thực trạng đó vào
đầu những năm 2000, Công ty đã nghiên cứu và mạnh dạn đầu tư, thay
thế hàng loạt các máy móc thiết bị mới. Cụ thể năm 2002 đã có ba dự
án đi vào hoạt động:
-Tháng 1/2002 đầu cuộn vải của dây chuyền nhúng keo được thay thế
với tổng mức đầu tư trên 2 tỷ đồng và kết quả là chấm dứt được lỗi
ngoại quan của vải mành nhúng keo như lồi, lõm bề mặt nhũn xốp,
mặt bên không phẳng, giảm 99% lỗi loại B&C….
- Tháng 9/2002 Công ty đầu tư thêm hai máy xe ALLMASAURER
của Cộng hoà liên bang Đức và một máy dệt mành PICANOL của Bỉ
vào sản xuất với tổng vốn đầu tư 21.970.494.400 VNĐ. Dây chuyền
này có năng suất tăng gấp từ 5 đến 7 lần so với dây chuyền cũ.
- Và đặc biệt phải kể đến là dây chuyền sản xuất vải không dệt lần đầu
tiên có mặt tại Việt Nam, dây chuyền này được khởi công lắp đặt vào
tháng 11/2001 và đến tháng 10/2002 được đưa vào sản xuất để kỷ
niệm ngày Giải phóng Thủ đô. Tổng vốn đầu tư cho dây chuyền này
lên tới 63.622.939.000VNĐ. Đây là dây chuyền khá hiện đại có mặt
lần đầu tiên tại Việt Nam với quy trình sản xuất hoàn toàn tự động. Vải
không dệt được sử dụng cho các ngành công nghiệp, giao thông, thuỷ
lợi, đồ gia dụng (như làm thảm)….
quý tại các hội chợ, triển lãm trong nước. Hàng năm công ty đã tạo
công ăn việc làm cho rất nhiều lao động dư thừa góp phần vào việc ổn
định trật tự xã hội ....
Hiện nay Công ty gồm 4 xí nghiệp:
• Xí nghiệp sản xuất vải bạt.
• Xí nghiệp sản xuất vải mành.
• Xí nghiệp sản xuất vải không dệt.
• Xí nghiệp may.
(Như đã nói ở trên sản phẩm vải bạt đã bước vào giai đoạn suy thoái
nên sớm muộn nó sẽ được thay thế bằng một mặt hàng khác)
6
Tổng số cán bộ công nhân viên trong Công ty là 782 người (tính đến
hết 31/12/2003) trong đó có 672 công nhân sản xuất. Lao động của
công ty đa phần là lao động nữ chiếm khoảng 75%. Trình độ của
người lao động được Công ty rất chú trọng: Trình độ ĐH và trên ĐH
chiếm 6,5%; THCN& CĐ chiếm:6.79%; thợ bậc 6+7là:11,69%; thợ
bậc 5 là:20,69%; thợ bậc 3+4là :17,29%. Tuy nhiên tỷ lệ này chưa cao,
Công ty cần phải chú trọng hơn nữa trong thời gian tới. Đời sống vật
chất cũng như tinh thần của người lao động ngày càng được quan tâm
…
Thành công của Haicatex đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát
triển của ngành dệt may Việt Nam và trong sự nghiệp xây dựng đất
nước.
II. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của HAICATEX :
1-Nhiệm vụ sản xuất sản phẩm của Công ty:
Công ty chuyên sản xuất các loại vải công nghiệp phục vụ cho các
ngành công nghiệp khác như giao thông, thuỷ lợi, sản xuất đồ dân
dụng….Tuỳ vào tính năng của mỗi loại mà nó đáp ứng cho mỗi ngành
nghề khác nhau. Công ty sản xuất 4 loại sản phẩm:
• Vải Mành :Vải mành được sản xuất để cung cấp cho
cả sản phẩm còn cao.Trong thời gian tới công ty sẽ gặp không ít khó
khăn khi Hiệp định cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA được áp dụng
vào năm 2006 đối với các nước ASEAN khi đó thuế nhập khẩu giảm
xuống chỉ còn 0-5% và tiến tới Việt Nam ra nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) vào năm 2005 sẽ mở ra không ít cơ hội nhưng
cũng đầy khó khăn và thách thức.
Cùng với việc cố gắng hoàn thành tốt các mục tiêu sản xuất kinh
doanh của mình công ty cũng cố gắng hoàn thành tốt nhịệm vụ của
mình đối với nhà nước, dưới đây là tình hình thực hiện nghĩa đóng
góp vào Ngân sách nhà nước(NSNN) của công ty trong ba năm gần
đây:
Chỉ tiêu
2001 2002 2003 02/01(%) 03/02(%)
8
Nộp NSNN(tr.đ)
11.715 12.89 23.846
5
110.03 185
Nhìn bảng trên ta thấy chỉ tiêu nộp NSNN của công ty tăng khá cao
trong mấy năm vừa qua, nó thể hiện sự lỗ lực không ngừng của công
ty.
2- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty:
Haicatex bao gồm 4 xí nghiệp thành viên:
1. Xí nghiệp Bạt
2. Xí nghiệp Mành
3. Xí nghiệp Vải Không Dệt
4. Xí nghiệp May
Tương ứng sản xuất 4 loại sản phẩm mỗi sản phẩm có một quy trình
sản xuất khác nhau, công nghệ sản xuất độc lập, mức độ phức tạp của
mỗi quy trình phụ thuộc vào yêu cầu sản xuất của từng loại sản phẩm.
210% so với 20002 và dự kiến năm 2004 sẽ tăng 130% so với
2003.
Các quy trình sản xuất được mô tả như sau:
Dệt
10
Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Vải Mành Nhúng Keo
Lỗi
Đạt
Đạt Lỗi Đạt
Đạt
Lỗi Dệt
11
Sợi dọc
Xe lần 1
Sợi đơn
Xe lần 2
Sợi đơn
Sợi ngang
Kiể
m
tra
Nhập kho
Dệt
Go
Nhập kho
12
Xơ P.P, P.E
Hệ thống máy
xuyên kim
Máy xếp chống
Máy xé trộn
Nhập kho th nh à
phẩm
Máy trải
Đóng gói
Máy ho n thià ện
Quy trình công nghệ may
Lỗi
Đạt
III. Đánh gía công nghệ sản xuất sản phẩm của Haicatex:
13
Nguyên liệu
( Vải)
Giáp mẫu , cắt
Kiể
m
tra
Chỉnh sửa
Vắt sổ
2-Thu thập thông tin về một số kỹ thuật sẵn có và sẽ có trong tương lai gần.
Trên cơ sở đó nhà đầu tư phải tìm hiểu, lựa chọn kỹ thuật thuộc công nghệ nào
cho phù hợp với dự định phát triển sản xuất hàng hoá của mình. Những thông
tin kỹ thuật này còn là tiền đề quan trọng cho sự lựa chọn đúng đắn chiến lược
kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp.
3-Thiết kế kỹ thuật là làm cho máy móc thiết bị kỹ thuật sẵn có phù hợp với quy
trình công nghệ, phù hợp với đăc điểm điêù kiện tự nhiên tạinơi xây dựng nhà
máy.
4-Xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị. Trên cơ sở các thiết kế sẵn có tiến hành
xây dựng và lắp đặt trang thiét bị như : xây dựng nhà xưởng, hệ thông giao
14
thông, thoát nước lắp đặt máy móc thiết bị chính, phụ trợ, hệ thống điệ cấp
nước,….
5-Phát triển công nhân tức là tri thức về bản thân quá trình vận hành sản xuất
bao gồm quản lý điều hành, đào tạo công nhân kỹ thuật, bồi dưỡng kỹ năng, kỹ
xảo, thông tin về thị trường liên quan đến sản phẩm, năng lực cải tiến để nâng
cao hiệu quả sản xuất và hiệu quả sử dụng bí quyết kỹ thuật.
Công nghệ không phải là khái niệm bất biến, mà nó luôn lôn biến đỏi sao cho
phù hợp và thích ứng với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật trong một
giai đoạn cụ thể. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật như hiện nay
công nghệ rất nhanh chóng bị lạc hậu bởi công nghệ mới tiên tiến không ngừng
xuất hiện. Nắm rõ quy luật này Công ty dệt vải công nghiệp Hà Nội đã không
ngừng đầu tư đổi mới trang thiết bị, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, cập nhật
thông tin để có sự thay đổi linh hoạt và đặc biệt là cách thức tổ chức quản lý
khoa học… Điều này được thể hiện cụ thể như sau:
• Trang thiết bị: Hội nhập kinh tế vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các
doanh nghiệp Việt Nam. Để cạnh tranh được với hàng ngoại nhập, khẳng
định vị trí của mình ở thị trường trong nước và có cơ hội nắm bắt thị trường
nước ngoài, công ty đã đầu tư hàng loạt máy móc thiết bị mới.Nổi bật nhất
là năm 2002 có nhiều dự án đầu tư đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư
với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật công ty đã luôn cố gắng để hoàn
thiện cơ cấu lao động của mình như:
- Tinh gỉam lao động, xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả
- Phân công lao động hợp lý đúng người đúng việc.
- Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên như: Nhân viên văn phòng
không dưới trình độ Trung cấp; Công nhân trực tiếp sản xuất phải có tay nghề
trình độ nhất định và say mê công việc; Nhân viên kỹ thuật phải có tay mghề
cao được đào tạo từ những trường CĐ, ĐH có chất lượng.Thực tế trong những
năm gần đây cán bộ kỹ thuật của công ty được tuyển dụng từ các trường ĐH
Bách Khoa, CĐ KT KT CNI,....
- Tuyển dụng khi thật cần thiết, tránh tình trạng thân quen kém chất lượng
vì điều này ảnh hưởng đến chất lượng công việc.
16
- Thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân để họ
nắm bắt kịp thời tình hình phát triển của khoa học kỹ thuật, nghiêm khắc loại bỏ
những lao động kém hiệu quả ra khỏi chuyền.
- Xây dựng tác phong công nghiệp cho người lao động, nghiêm khắc loại
bỏ những lao động kém hiệu quả ra khỏi chuyền.
- Có chế độ khen thưởng kỷ luật rõ ràng, quan tâm hợp lý đến bản thân và
gia đình người lao động để khuyến khích họ hăng say làm việc. Luôn luôn tạo
cơ hội cho họ phát huy hết khả năng của mình
.............
Mặc dù có nhiều cố gắng để kiện toàn bộ máy cuả mình song nói chung tỷ lệ
CĐ, ĐH của công ty còn thấp chiếm dưới 10%, nên cần có biện pháp điều chỉnh
thiết thực hơn nữa.
Công ty cần thừơng xuyên có sự hợp tác, trao đổi thông tin với người lao động
để phát huy sự sáng tạo và khả năng tiềm ẩn trong mỗi người.
Quan tâm hơn nữa đến đời sống người lao động.
• Thông tin (Infowave): Thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Thông tin là căn cứ để
thống không thể tách rời.
• Bộ phận sản xuất chính: Bộ phận sản xuất chính bao gồm các phân xưởng
trực tiếp sản xuất
- Phân xưởng sợi: Có nhiệm vụ kéo sợi để cung cấp cho các phân xưởng dệt.
- Phân xưởng dệt: Có nhiệm vụ dệt thành các mảnh vải theo mẫu mã kích thước
của phòng kỹ thuật đưa xuống.
- Phân xưởng nhúng keo:Có nhiệm vụ đưa những mảnh vải đã được dệt xong
nhúng vào dung dịch keo và đưa vào nhập kho.
- Phân xưởng may: Có nhiệm vụ may các sản phẩm theo mẫu mã kích thước
của phòng kỹ thuật đưa xuống.
- Phân xưởng vải không dệt: có nhiệm vụ sản xuất ra những tấm vải không dệt
theo kích thước, mẫu mã và đóng gói theo quy định.
• Bộ phận sản xuất phụ:
-Phân xưởng chuẩn bị: Có nhiệm vụ chuẩn bị nguyên liệu cho phân xưởng dệt.
• Bộ phận phụ trợ:
- Trạm điện: Cung cấp điện năng cho sản xuất và sửa chữa máy móc bị hỏng.
- Xưởng cơ khí: Có nhiệm vụ sửa chữa các máy móc thiết bị khi có sự cố và
trong điều kiện cho phép chế tạo ra các phụ tùng thay thế cho máy móc thiết bị
của công ty.
18
Phòng Gian h ng Nh xeà à
Bảo Vệ giới thiệu
sản phẩm
Y
tế
C.
ty
Nh à
trẻ
Công ty
nghiệp
Vải
Không
Dệt
Xí
nghiệp
May
Phân
xưởng
I
Xưởng
Cơ Khí
PC
CC
Y
tế
C.
ty
Nh à
trẻ
Công ty
V. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty Dệt Vải Công Nghiệp Hà Nội:
1. Các cấp quản lý của công ty:
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức thành hai cấp quản lý với mô hình
trực tuyến chức năng. Đi kèm với với mỗi cấp quản lý là các phòng ban chức
năng tham mưu cho mỗi cấp, cụ thể như sau:
• Cấp I: Cấp công ty: Bao gồm Giám đốc công ty, hai phó giám đốc công ty
cùng các phòng ban chức năng trợ giúp giám đốc. Các phòng ban chức
năng kiểm tra và đưa ra các thông tin của toàn công ty về lĩnh vực mà
công tác kỹ thuật như: công nghệ sản xuất sản phẩm, máy móc thiết bị, kiểm
tra chất lượng nguyên, nhiên vật liệu đầu vào , chất lượng sản phẩm đầu ra.
21
Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất phụ trách các phòng: Sản xuất-Kinh doanh-
Xuất nhập khẩu; Phòng Kế toán- Tài chính; Phòng Kỹ thuật- Đầu tư.
* Phó giám đốc tổ chức hành chính: Là người chỉ đạo trực tiếp các
công việc về tổ chức hành chính như tuyển dụng, đào tạo lao động, chănm lo
đời sống cán bộ công nhân viên và phụ trách các phòng: Tổ chức hành chính;
Phòng Bảo vệ; Phòng Dịch vụ đời sống.
• Phòng Kỹ thuật- Đầu tư: Hướng dẫn tổ chức và giám sát thực hiện các
quy trình công nghệ. Lập kế hoạch sửa chữa bảo dưỡng máy móc thiết
bị toàn công ty. Lập các dự án về đầu tư mở rộng quy mô sản xuất và
đầu tư đổi mới công nghệ.
• Phòng Sản xuất- Kinh doanh - Xuất,nhập khẩu: Lập kế hoạch sản xuất
chịu trách nhiệm mua vật tư đầu vào và thực hiện phân phối tiêu thụ
sản phẩm, tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường
thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, xem xét các hợp đồng
và cung cấp các thông tin về sản phẩm cho khách hàng.
• Phòng Tài chính- Kế toán: Theo dõi tình hình tài chính của công ty,
tình hình sản xuất, tiêu thụ, giá thành sản phẩm từ đó tổng hợp số liệu
và phân tích tình hình tài chính và lập báo cáo tài chính cho công ty.
• Phòng Tổ chức -Hành chính: Chịu trách nhiệm về mặt tổ chức nhân
sự, kết hợp với các phòng ban khác tổ chức sắp xếp phân công lao
động hợp lý, chịu trách nhiệm về quản lý tiền lương, bảo hộ lao động
và các chế độ khác với người lao động.
• Phòng Bảo vệ quân sự: Chịu trách nhiệm về công tác an ninh, trật tự,
phòng cháy, chữa cháy bảo vệ tài sản của công ty và thực hiện công
tác quân dân, tự vệ.
• Phòng dịch vụ đời sống: Chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên
trong công ty, gồm có các chức năng như nấu ăn, trông trẻ... giúp cán
Bảo vệ
Quân sự
Phòng
Dịch vụ
Đ.sống
Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của công ty
24
Tổ sản
xuất 2
Tổ sản
xuất 1
Tổ sản
xuất N
Giám Đốc
P. GĐ Tổ chức P. GĐ Kỹ thuật
Phòng
Kế toán
T.chính
Phòng
Kỹ thuật
Đầu tư
Phòng
T.chức
H.chính
Phòng
SXKD-
XNK
Phòng
Bảo vệ
Quân sự