Tiếp tục nghiên cứu bào chế viên nén idapamid giải phóng kéo dài hệ cốt thân nước - Pdf 29



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRẦN THỊ LOAN

TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
BÀO CHẾ VIÊN NÉN
INDAPAMID GIẢI PHÓNG KÉO DÀI
HỆ CỐT THÂN NƯỚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ HÀ NỘI – 2014 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRẦN THỊ LOAN

TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
BÀO CHẾ VIÊN NÉN
INDAPAMID GIẢI PHÓNG KÉO DÀI

người bạn, người anh, chị, em – những người luôn ở bên, quan tâm, giúp đỡ động
viên em vượt qua khó khăn trong cuộc sống và học tập, là động lực để em học tập,
rèn luyện và nghiên cứu tại Trường Đại học Dược Hà Nội. Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Trần Thị Loan MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương I. TỔNG QUAN 2
1.1. Đại cương về thuốc tác dụng kéo dài 2
1.1.1. Khái niệm 2
1.1.2. Nguyên tắc bào chế và cơ chế giải phóng dược chất của hệ cốt hòa tan
hoặc ăn mòn 3

1.1.3. Một số tá dược kiểm soát giải phóng thường dùng trong thực nghiệm 4
1.1.4. Một số mô hình động học giải phóng dược chất từ dạng thuốc GPKD 7
1.2. Sơ lược về indapamid hemihydrat 8
1.2.1. Công thức cấu tạo và đặc điểm 8

3.4. Tối ưu hóa công thức. 34
3.4.1. Thiết kế thí nghiệm và tiến hành tối ưu hóa 34
3.4.2. Phân tích ảnh hưởng của các biến độc lập tới giải phóng dược chất 36
3.4.3. Lựa chọn công thức tối ưu 38
3.4.4. Đánh giá động học giải phóng của viên tối ưu 39
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 45
1. Kết luận 45
2. Đề xuất 46
Tài liệu tham khảo
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT
: Công thức
DC
: Dược chất
DCP
: Dicalciphosphat
DĐVN
: Dược điển Việt Nam
DSC
: Quét nhiệt lượng vi sai (Differential Scanning Calorimetry)
EC
: Ethyl cellulose
EP
: Dược điển châu Âu
FTIR
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Một số loại HPMC thường sử dụng
5
Bảng 2.1. Nguyên liệu và các hóa chất nghiên cứu
15
Bảng 2.2. Thiết bị nghiên cứu
16
Bảng 2.3. Tương quan giữa chỉ số Carr và tính chất trơn chảy của hạt/bột
17
Bảng 3.1. Hiệu mật độ quang ΔD của các dung dịch sau khi thêm chuẩn
22
Bảng 3.2. Thời gian lưu và diện tích pic đáp ứng
23
Bảng 3.3. % GPDC tại các thời điểm của viên đối chiếu
24
Bảng 3.4. Phương trình động học viên đối chiếu
24
Bảng 3.5. % dược chất giải phóng từ viên indapamid GPKD theo CT
0

25
Bảng 3.6. Công thức viên indapamid khảo sát ảnh hưởng của các loại
HPMC
26
Bảng 3.7. % GPDC từ viên thực nghiệm khảo sát ảnh hưởng của các loại
HPMC
26
Bảng 3.8. Công thức viên indapamid khi thay đổi tỷ lệ hệ cốt

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Đồ thị hấp thu dược chất trong máu của các dạng thuốc
2
Hình 1.2. Mô hình hệ cốt hòa tan hoặc ăn mòn
3
Hình 1.3. Cấu trúc phân tử HPMC
4
Hình 1.4. Công thức cấu tạo của indapamid hemihydrat
8
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa hiệu mật độ quang với
nồng độ indapamid trong dung dịch đệm pH 6,8
23
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn % GPDC từ viên thực nghiệm khảo sát vai
trò của HPMC K4M, HPMC E15LV và HPMC E4M trong hệ cốt
27
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn % GPDC từ viên thực nghiệm khảo sát ảnh
hưởng của tỷ lệ cốt đến kiểm soát giải phóng
29
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn % GPDC từ viên thực nghiệm khi thay đổi
tỷ lệ HPMC E4M
31
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn % GPDC từ viên trong thực nghiệm khảo
sát ảnh hưởng của Poloxamer trong hệ cốt
33
Hình 3.6. Mặt đáp biểu hiện sự ảnh hưởng của lượng HPMC E4M và
Poloxamer lên % GPDC thời điểm 4h (a) và 8h (b)
36

viên nén indapamid giải phóng kéo dài hệ cốt thân nước” với những mục tiêu
sau:
1. Khảo sát các yếu tố thuộc công thức ảnh hưởng đến giải phóng dược chất từ
viên nén indapamid GPKD sử dụng hệ cốt thân nước.
2. Tối ưu hóa và xây dựng được công thức bào chế viên nén indapamid 1,5mg
giải phóng kéo dài ở quy mô phòng thí nghiệm.

2

Chương I. TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về thuốc tác dụng kéo dài
1.1.1. Khái niệm
Thuốc tác dụng kéo dài (TDKD) là những chế phẩm có khả năng kéo dài quá
trình giải phóng và hấp thu dược chất từ dạng thuốc nhằm duy trì nồng độ dược chất
trong máu trong vùng điều trị trong một thời gian dài với mục đích kéo dài thời gian
điều trị, giảm số lần dùng thuốc cho người bệnh, giảm tác dụng không mong muốn,
nâng cao hiệu quả điều trị của thuốc [1].

A: Thuốc quy ước B: Dạng giải phóng nhắc lại
C: Dạng giải phóng có kiểm soát D: Dạng giải phóng kéo dài
MTC: Nồng độ tối thiểu gây độc MEC: Nồng độ tối thiểu có tác dụng
Hình 1.1. Đồ thị hấp thu dược chất trong máu của các dạng thuốc [1].
Kiểm soát giải phóng dược chất đem lại nhiều lợi ích hơn hình thức liều
thông thường. Dạng bào chế thông thường thường không thể kiểm soát được tốc độ
thuốc đưa vào cũng như đến đích của sự hấp thu và thường sự giải phóng là nhanh
và tức thời. Điều này đòi hỏi việc đưa thuốc thường xuyên để duy trì hiệu quả điều
trị, kết quả là nồng độ thuốc trong máu dao động rất rộng. Ngược lại, dạng thuốc
giải phóng có kiểm soát không chỉ duy trì được nồng độ điều trị của thuốc với
những biến động hẹp mà còn giảm được số lần dùng thuốc (Hình 1.1) [1], [9].
3

- Các yếu tố ngoại môi như pH, hệ enzym tiêu hóa, các yếu tố hóa- sinh lý của cơ
thể… ảnh hưởng tới sự tạo gel và hòa tan của cốt, từ đó ảnh hưởng tới GPDC.
- Độ tan của dược chất, kích thước tiểu phân DC, tỷ lệ DC - tá dược [1], [11], [21].
 Phương pháp bào chế viên nén TDKD sử dụng hệ cốt thân nước: cũng giống
như viên quy ước, có thể dùng phương pháp dập thẳng hoặc tạo hạt [1], [11].
1.1.3. Một số tá dược kiểm soát giải phóng thường dùng trong thực nghiệm
1.1.3.1. Hydroxypropyl methylcellulose (HPMC)
 Cấu trúc phân tử và đặc tính lý hóa

Hình 1.3. Cấu trúc phân tử HPMC [25]
Về mặt hóa học, HPMC là hỗn hợp alkyl-hydroxyalkyl cellulose ether chứa các
nhóm methoxyl và hydroxypropyl, có tên thương mại là Methocel. Loại và sự phân
bố của các nhóm thế ảnh hưởng đến đặc tính của các polyme. Các đặc tính này kết
hợp với trọng lượng phân tử khác nhau (từ 10000-1500000) tạo nên sự linh hoạt cho
sử dụng trong công thức GPKD của một loạt các thuốc với độ tan và liều lượng
khác nhau.
HPMC là tá dược tương đối ổn định, không mùi, không vị, màu trắng hoặc trắng
ngà, hút ẩm nhẹ, ổn định ở pH 3-11, chuyển dạng sol-gel khi đun nóng hoặc làm
lạnh. Điểm hóa gel phụ thuộc vào loại và nồng độ HPMC, thường là 50-90
0
C.
HPMC hoà tan trong nước lạnh tạo dung dịch keo nhớt. Ngoài ra, do là polyme
không ion hóa, HPMC giảm đáng kể khả năng tương tác hóa học hoặc tạo phức với
5

các thành phần khác trong công thức và các hệ cốt của chúng, thể hiện qua sự giải
phóng thuốc không phụ thuộc pH. Dung dịch HPMC ổn định trong một khoảng pH
rộng và đề kháng với sự thủy phân của enzyme [19], [21], [24].
HPMC được chia thành nhiều loại (loại K, E, F, A…), dựa trên sự khác nhau về
tỷ lệ phần trăm của 2 gốc methoxyl và hydroxypropyl, và mức độ polyme hóa.

GPDC của HPMC là nhanh chóng thấm ướt bề mặt, hút nước và tạo thành lớp gel
ngăn cản bên ngoài, làm chậm hòa tan dược chất ra môi trường và bảo vệ cấu trúc
viên không bị rã [21], [25].
 Cơ sở lựa chọn loại HPMC:
Các polyme khác nhau có tỷ lệ gốc methoxy và hydroxylpropyl khác nhau, do
vậy tốc độ hydrat hóa của polyme của chúng khác nhau. Gốc hydroxypropoxyl thân
nước làm tăng tỷ lệ hydrat hóa của polyme, gốc methoxyl kỵ nước làm giảm tốc độ
hydrat. HPMC K có tỷ lệ hydroxypropyl/methoxyl cao nhất, do vậy tạo thành hàng
rào gel nhanh nhất và HPMC F có tốc độ tạo gel chậm nhất do tỷ lệ
hydroxypropyl/methoxyl thấp nhất. Hai loại polyme HPMC K và E được sử dụng
phổ biến trong kiểm soát giải phóng dược chất.
Độ hòa tan của thuốc cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn polyme do
nó liên quan đến cơ chế giải phóng thuốc từ hệ cốt thân nước HPMC. Tùy thuộc
6

vào độ tan của dược chất để quyết định lựa chọn loại HPMC, lượng HPMC, kết hợp
các loại HPMC hoặc kết hợp HPMC với các tá dược khác nhằm đạt được động học
giải phóng như mong muốn [21], [25].
 Phối hợp các loại HPMC
Các sản phẩm HPMC giống nhau ở loại nhóm thế nhưng khác nhau về độ nhớt
có thể được phối hợp với nhau để thu được hỗn hợp có độ nhớt trung gian:
η
B
1/8
= F
1
η
1
1/8
+ F

đường tiêu hóa, tá dược này có thể tạo phức làm giảm hấp thu một số dược chất như
tetracyclin, phenytoin…[3], [19].
 Ứng dụng trong bào chế thuốc
DCP được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm bào chế bởi các đặc tính chịu
nén và trơn chảy tốt. Viên dập với DCP có độ bền cơ học cao, rã chậm. Trong các
công thức viên nén, DCP thường đóng vai trò là tá dược độn. Ngoài ra, DCP còn
đóng vai trò là nguyên liệu tạo cốt trơ khuếch tán, thường được bào chế theo
phương pháp dập thẳng. Có 2 loại DCP được sử dụng rộng rãi trong bào chế là DCP
7

mịn (Emcompress) được sử dụng trong các công thức tạo hạt ướt và tạo hạt khô;
DCP thô ( Di-tab) được sử dụng trong các công thức dập thẳng [1], [3].
1.1.4. Một số mô hình động học giải phóng dược chất từ dạng thuốc GPKD
Mỗi dạng thuốc rắn khi ra đời phải được nghiên cứu và kết luận quá trình
giải phóng của nó tuân theo mô hình động học nào. Các mô hình này giúp hiểu và
nghiên cứu bản chất quá trình hòa tan và GPDC từ dạng thuốc rắn. Từ đó xây dựng
đường cong so sánh mức độ hòa tan có thực sự khác nhau không. Cuối cùng thiết
lập được mối tương quan giữa tốc độ GPDC in vitro và tốc độ hòa tan in vivo [12].
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi xin trình bày mô hình động học bậc 0 và
mô hình Higuchi.
 Mô hình động học bậc 0
Phương trình giải phóng DC của động học bậc 0 có dạng:
tK
W
tC
0
0
100
)( =
(%)

- D
m
: Là hệ số khuếch tán của dược chất trong cốt.
Với một hệ cốt có sẵn, các yếu tố D
m
, C
s
,

C
0
không thay đổi thì phương trình
trên có thể viết dưới dạng: M = K.t
1/2
với K là hằng số khuếch tán của hệ.
8

Mô hình Higuchi cũng có thể viết dưới dạng:
C
(
𝑡
)
=
100
𝑊
0
𝐾
𝐻
𝑡
1/2

0
C [16], [26].
 Tính chất lý hóa
- Indapamid là dẫn xuất của clorosulphonamid có nhân indol.
- Là một hỗn hợp racemic, góc quay cực riêng : -0,02
0đến + 0,02
0
.
- Kết tinh màu trắng tan trong dầu, tan trong methanol, ethanol, acid acetic và
ethyl acetat, rất ít tan trong ether, cloroform và benzen và kém tan trong nước
(75mg/l), độ tan thay đổi ở khoảng dưới pH 8, phụ thuộc mức ion hóa của nhóm
sulphonamid, độ tan bắt đầu tăng khi pH trên 8.
9

- Hấp thụ bước sóng cực đại 241,6 nm trong dung môi methanol.
- Dễ phân hủy bởi ánh sáng [8], [16].
 Dược động học
Hấp thu: nhanh và hoàn toàn qua đường dạ dày-ruột, đạt nồng độ đỉnh trong
máu sau khi uống khoảng 2-2,5 giờ.
Phân bố: Indapamid ưa lipid và phân bố rộng rãi trong các tổ chức của cơ thể;
khoảng 71-79% thuốc gắn với protein huyết tương. Thuốc cũng gắn một cách thuận
- nghịch với carbonic anhydrase trong hồng cầu.
Chuyển hóa: Indapamid chuyển hóa mạnh ở gan, chủ yếu thành các chất liên
hợp glucuronid và sulfat.
Thải trừ: thời gian bán thải của indapamid khoảng 14 đến 18 giờ ở người trưởng
thành chức năng thận bình thường. Ở người suy giảm chức năng thận, nửa đời của
thuốc cũng không kéo dài. Khoảng 60% thuốc bài tiết qua nước tiểu trong vòng 48

không quá 5%.
- Lưu ý: do indapamid ưu tiên liên kết với hồng cầu nên nồng độ trong huyết
tương sẽ không phản ánh được nồng độ thực sự của nó trong cơ thể, do đó, phải
định lượng nồng độ indapamid trong toàn bộ máu [26].
1.2.3. Các dạng thuốc chứa indapamid trên thị trường
- Indapamid 1,5mg (Magistra C&C) – dạng viên giải phóng chậm.
- Dorover Plus (CTCP XNK Y Tế Domesco) - viên nén bao phim.
- Gloversin Plus (CTCPDP GLOMED) – viên nén bao phim.
- Indapen 2,5mg (Pharmaceuticals Works Polpharma S.A –Ba Lan) - viên nén
bao phim.
- Indatab SR 1,5mg (Torrent Pharmaceuticals Ltd) – viên giải phóng kéo dài.
- Natrilix SR 1,5mg (Les Laboratoires Servier– Pháp) – viên giải phóng kéo dài.
- Tertensif SR 1,5mg (Les Laboratoires Servier– Pháp) – viên giải phóng kéo dài.
- Fludex SR 1,5mg (Les Laboratoires Servier– Pháp) – viên giải phóng kéo dài.
1.3. Một số nghiên cứu về indapamid giải phóng kéo dài
Trong nước:
DS. Đoàn Minh Hải (2012) đã tiến hành nghiên cứu bào chế viên nén
indapamid giải phóng kéo dài bằng phương pháp tạo hạt ướt. Viên có đường kính
8mm, khối lượng trung bình 200mg. Tá dược kiểm soát giải phóng bao gồm HPMC
11

K4M (40,58%), kết hợp HPMC E15LV, Carbopol, DCP, EC. Độ hòa tan được đánh
giá bằng phương pháp cánh khuấy trong môi trường đệm phosphat pH 6,8, nhiệt độ
37±0,5
0
C, tốc độ cánh khuấy 100±1 vòng/phút. Phép thử định lượng bằng đo quang
vi sai theo bước sóng. Tác giả kết luận, khi tăng tỷ lệ HPMC K4M, EC, Carbopol,
DCP thì %GPDC có xu hướng giảm. Động học giải phóng trong 16h của công thức
tối ưu gần với viên đối chiếu Natrilix nhất [6].
Cũng với những điều kiện tương tự, Ds. Nguyễn Thị Tình (2013) khảo sát

12

vitro với thiết bị cánh khuấy theo USP 22, tốc độ quay 100 vòng/phút, trong 900ml
môi trường HCl 0,1N (mô phỏng dịch dạ dày pH 1,3) trong 2h đầu tiên và môi
trường đệm phosphat 0,05M pH 6,8 trong 22h tiếp theo. Mẫu được lấy từ các thời
điểm 2h, 4h, 6h , 8h, 12h. Định lượng hàm lượng dược chất bằng USP cho chuyên
luận viên nén indapamid sử dụng đo quang phổ UV ở 275nm. Kết quả giải phóng
được đánh giá theo mô hình Higuchi, dược chất giải phóng theo cơ chế kết hợp
khuếch tán và ăn mòn. Các tác giả kết luận, Methocel K15M và Methocel K100
LVCR khi kết hợp với 1 tỷ lệ thích hợp có thể kiểm soát giải phóng indapamid hiệu
quả trong 12h, các công thức tối ưu hóa (F5 với 20mg HPMC K15M và 15mg
HPMC K100 LV và F7 với 15mg HPMC K15M và 20mg HPMC K100 LV) có thể
sử dụng để phát triển viên nén indapamid giải phóng kéo dài thành sản phẩm
thương mại để điều trị tăng huyết áp, từ nhẹ đến nặng và suy tim mãn tính [27].
Obaidat Aiman A. (2012): nghiên cứu bào chế viên nén indapamid giải
phóng kéo dài sử dụng hệ cốt gồm một polyme trương nở (HPMC) và một polyme
ăn mòn (methyl cellulose hay MC). Đầu tiên, nghiên cứu khảo sát về ảnh hưởng của
độ nhớt đến GPDC với 3 loại HPMC K4M, HPMC K15M và HPMC K100M cùng
tỷ lệ trong công thức. Kết quả là tốc độ giải phóng giảm theo sự tăng độ nhớt, và cơ
chế giải phóng thuốc của hệ cốt gồm HPMC K15M và HPMC K100M gần với
khuếch tán Fickian hơn là cơ chế ăn mòn. Dùng HPMC K15M cho công thức tiếp
theo để khảo sát ảnh hưởng của tá dược lactose và cellulose vi tinh thể. Kết quả cho
thấy lượng lactose càng lớn, tỷ lệ giải phóng càng cao; còn với cellulose vi tinh thể,
không có công thức nào giải phóng đạt yêu cầu, công thức với tỷ lệ cao nhất cũng
chỉ giải phóng được 60% dược chất trong 12h. Cuối cùng, nghiên cứu đánh giá sự
kết hợp của HPMC K15M, MC và lactose hoặc cellulose vi tinh thể. Động học giải
phóng của công thức A (chứa độn là lactose) gần với sản phẩm đối chiếu Natrilix
hơn công thức B (độn là cellulose vi tinh thể), công thức B có chỉ số trương nở lớn
hơn và độ ăn mòn kém hơn công thức A. Tác giả kết luận, mô hình của hệ cốt giải
phóng kéo dài được kết hợp HPMC K15M và MC, bổ sung thêm tá dược độn

quốc tế về điều trị tăng huyết áp [14].
Gowda D.V. và cộng sự (2010): sử dụng phương pháp phun sấy để tiến
hành bào chế công thức indapamid 2,5 mg GPKD. Nghiên cứu đánh giá các vi hạt
của indapamid sử dụng hỗn hợp HPMC và ethyl cellulose (EC) để kiểm soát giải
phóng. HPMC và EC được hòa tan trong hỗn hợp 1:1 của dicloromethan và ethanol
(96%). Sau đó indapamid được bổ sung để đạt được các công thức với tỷ lệ
indapamid: polymer là 1:8:2, 1:8:4, 1:12:2, 1:12:4, 1:4:2 và 1:4:4. Các vi hạt được
xác định đặc tính về phân bố kích thước, hình ảnh chụp SEM và cầu thể, phổ hồng
ngoại biến đổi Fourier (FT-IR), dự đoán việc nạp thuốc và hiệu suất bẫy thuốc.
Nghiên cứu giải phóng của thuốc từ vi hạt bằng phương pháp giỏ quay theo USP
14

23, trong 900ml môi trường đệm pH 1,2 ở 2h đầu và trong đệm phosphat 7,2 ở 22h
tiếp theo. Giỏ quay với tốc độ 100 vòng/phút, duy trì nhiệt độ 37±5
0
C. Kết quả
được giải thích theo nhiều mô hình toán học và so sánh với viên nén Lorvas®.
Nghiên cứu đưa ra được công thức tối ưu với tỷ lệ thuốc và polyme là 1:4:4
(F6), kích thước vi hạt trong khoảng từ 7,83 µm đến 11,42 μm, hiệu suất đạt 97%.
Hình ảnh SEM cho thấy độ đồng nhất, không có thuốc tự do trên bề mặt vi hạt. Kết
quả DSC chỉ ra indapamid đã phân tán bên trong các vi hạt ở dạng phân tử. Nghiên
cứu giải phóng in vitro cho thấy công thức tối ưu F6 cho kết quả giải phóng trên
24h cho thấy lượng thuốc được kiểm soát tốt hơn tất cả các công thức khác trong
môi trường ruột. Và khi so sánh với viên Lorvas®, không có khác biệt đáng kể. Tác
giả kết luận, có thể kết hợp EC và HPMC K4M trong công nghệ phun sấy cho công
thức indapamid giải phóng kéo dài [15].
Lucia Maria Rus và cộng sự (2011): nghiên cứu khả năng tương thích của
indapamid với các tá dược được sử dụng trong viên nén indapamid 1,5 mg giải
phóng chậm bằng cách sử dụng các kỹ thuật phân tích nhiệt (quét nhiệt lượng vi sai
(DSC) và phân tích nhiệt trọng (TG), nhiễu xạ bột tia X (XRPD) và quang phổ hồng

TCNSX
3 Poloxamer
Tá dược dính, diện
hoạt
Sigmaaldric
(Singapore)
TCNSX
4 HPMC K4M
Tá dược kiểm soát
giải phóng
Mỹ TCNSX
5 HPMC E15M LV Mỹ TCNSX
6 HPMC E4M CR Mỹ TCNSX
7 Lactose Tá dược độn Mỹ TCNSX
8 Dicalci phosphat (DCP)
Tá dược độn, tạo
cốt trơ khuếch tán
Mỹ TCNSX
9 Magnesi stearat
Tá dược trơn
Trung quốc TCNSX
10 Aerosil Trung quốc TCNSX
11 Ethanol 96%
Dung môi hòa tan
dược chất, tá dược
dính
Việt Nam DĐVN IV
12 Kali dihydro phosphat
Hóa chất pha dung
dịch đệm

Máy thử độ hòa tan ERWERKA DT 600
Đức
3
Máy siêu âm Ultrasonic LC 60H
Đức
4
Máy đo độ cứng Pharmatest PTB 511B
Đức
5
Tủ sấy Memmert
Đức
6
Cân phân tích Metter Toledo
Thụy Sỹ
7
Máy ly tâm ROTINA 46
Đức
8
Máy đo quang phổ UV-VIS Hitachi
Mỹ
9
Cân kĩ thuật Sartorius
Đức
10
Cân hàm ẩm Pressica XM 60
Đức
11
Máy gõ xác định tỷ trọng biểu kiến ERWEKA
Đức
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status