BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH KÝ
SINH TRÙNG ĐƯỜNG MÁU DO TRYPANOSOMA EVANSI
TRÊN LỢN GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM NGỌC THẠCH
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
chất, Khoa Thú y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình đã giúp đỡ,
động viên tôi hoàn thành chương trình học tập.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Huyền Trang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do T.evansi 3
1.2. Một số hiểu biết về Trypanosoma evansi 5
1.2.1. Vị trí của T.evansi trong hệ thống phân loại động vật học 5
1.2.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của T.evansi
6
2.4.2. Giống Trypanosoma evansi 36
2.5. Nội dung nghiên cứu 37
2.6. Phương pháp nghiên cứu 37
2.6.1. Gây nhiễm thực nghiệm T.evansi trên động vật thí nghiệm 37
2.6.2. Phương pháp gây nhiễm 37
2.6.3. Các chỉ tiêu lâm sàng 37
2.6.4. Một số chỉ tiêu huyết học 38
2.6.5. Phương pháp xử lý số liệu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi trên lợn 40
3.2. Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của lợn được gây nhiễm
thực nghiệm Trypanosoma evansi 42
3.2.1. Thân nhiệt của lợn được gây nhiễm T.evansi 42
3.2.2. Tần số hô hấp của lợn được gây nhiễm T.evansi 44
3.2.3. Tần số tim của lợn được gây nhiễm T.evansi 45
3.3. Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của lợn được gây nhiễm T. evansi 46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.4. Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn được gây nhiễm thực
nghiệm Trypanosoma evansi 49
3.4.1. Số lượng hồng cầu 49
3.4.2. Tỉ khối huyết cầu 52
3.4.3. Thể tích trung bình của hồng cầu 52
3.4.4. Hàm lượng huyết sắc tố 53
3.4.5. Lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu 55
3.4.6. Số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu của lợn sau khi gây nhiễm T. evansi 55
3.4.7. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu lợn sau gây
nhiễm T.evansi 60
3.4.8. Hàm lượng protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết thanh
Bảng 3.3. Biểu hiện lâm sàng của lợn được gây nhiễm T.evansi (n = 6) 46
Bảng 3.4. Bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm T.evansi (n = 6) 47
Bảng 3.5. Số lượng hồng cầu, tỉ khối huyết cầu và thể tích trung bình của
hồng cầu lợn sau khi gây nhiễm T.evansi (n = 6) 50
Bảng 3.6. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình của
lợn sau khi gây nhiễm T.evansi (n = 6 ) 54
Bảng 3.7. Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở lợn sau khi gây
nhiễm T.evansi (n = 6) 58
Bảng 3.8. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu của lợn
sau khi gây nhiễm T.evansi (n = 6) 61
Bảng 3.9. Protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết thanh của
lợn sau khi gây nhiễm T.evansi (n = 6) 66
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ TrangHình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma 9
Hình 3.1. Trypanosoma evansi trong máu lợn gây nhiễm thực nghiệm 41
Hình 3.2. Diễn biến thân nhiệt của lợn khỏe mạnh và sau gây nhiễm
T.evansi 43
Hình 3. 3. Lợn tiêu chảy phân lỏng 47
Hình 3.4. Lợn xuất huyết điểm trên da 47
Hình 3.5. Xoang bao tim tích nước sau khi gây nhiễm T.evansi 48
Hình 3.6. Tim lợn sưng sau khi gây nhiễm T.evansi 48
Hình 3.7. Lách lợn sau khi gây nhiễm T.evansi: sưng, nhạt màu, xuất
LATEX
Latex agglutination test
PCR
Polymerase Chain Reaction
SAT
Slide Agglutination test
T.evansi Trypanosoma evansi
TMT
Tiên mao trùng
VAT
Variant Antigennic Types
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
ở những lợn này tiêm truyền cho chuột bạch và kiểm tra có 7 lợn nhiễm
T.evansi (Gill, B.S. Singh, J, 1987).
Sirivan, R., Mepuch, Y (1987) cho biết: ở trại lợn nái của tỉnh Suphaburi Thái Lan,
tỉ lệ lợn nái sảy thai do nhiễm T.evansi tương đối cao (31,83%), tác giả cũng cho biết nhiều
báo cáo khác đã phát hiện bệnh TMT ở trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo.
Trong số các loài cảm nhiễm với T.evansi thì lợn là một trong những vật nuôi
quan trọng đối với nhà nông nhưng lại là đối tượng mắc bệnh ít được quan tâm
nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế đó cùng với những thiệt hại nghiêm trọng do
T.evansi gây ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh ký sinh trùng đường máu do
Trypanosoma evansi trên lợn gây bệnh thực nghiệm.”
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evans trên lợn gây
bệnh thực nghiệm.
- Xác định được sự biến đổi bệnh lý (các chỉ tiêu huyết học, triệu chứng lâm
sàng và bệnh tích đại thể ở các cơ quan) của lợn gây nhiễm T.evansi. Từ đó có thể
nắm được các biến đổi bệnh lý của gia súc khi mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do T.evansi
1920-1925 với tổng số 424 con, trong đó: ngựa 402 con, tỉ lệ chết 95%; bò 4 con và
tỉ lệ chết là 1%; trâu 14 con và tỉ lệ chết là 3%; chó 4 con và tỉ lệ chết là 1%
(Houdemer, 1925).
Năm 1955, Trịnh Văn Thịnh cho biết: Các nhà khoa học đã phát hiện ổ dịch
Tiên mao trùng ở Việt Bắc và Tây Bắc làm chết 2 bò, ngựa. Cũng tại đây năm 1956
lại xảy ra ổ dịch làm chết 56 con trong số bò ngựa ốm.
Năm 1972, Nguyễn Hữu Nha phát hiện ổ dịch Tiên mao trùng ở bò ngoại
(lang trắng đen) tại nông trường Thái Bình (Quảng Ninh) làm thiệt hại 32 bò. Cũng
năm 1972, Phạm Sỹ Lăng công bố kết quả điều tra tại 15 huyện thuộc Hà Nội, Nam
Hà, Quảng Nam, Thanh Hóa, Bắc Thái với 2.457 trâu, số trâu nhiễm Tiên mao
trùng là 251 con chiếm tỉ lệ 9,6%; và 364 bò có 15 con nhiễm Tiên mao trùng
chiếm tỉ lệ 4%.
Năm 2002, Holland W.G đã nghiên cứu lịch sử phát triển, hình thái, tính chất
sinh vật học của Tiên mao trùng và đi đến kết luận: tất cả đều là chủng gốc châu Á,
gốc châu Phi, gốc châu Mỹ và gốc châu Âu của một loài duy nhất T.evansi.
Richardson (1903), Lapage.G. (1968) đã ghi nhận những loài TMT chính ký
sinh ở động vật có vú và người như sau:
1. Trypanosoma evansi, Steel 1885 ký sinh ở động vật có vú.
2. Trypanosoma brucei, Plimmeret Bradford 1899, ký sinh ở động vật có vú.
3. Trypanosoma equiperdum, Boflein 1901 ký sinh ở ngựa, la.
4. Trypanosoma gambiense, Dutton 1902 ký sinh ở người.
5. Trypanosoma congolense, Broden 1904 ký sinh ở động vật có vú.
6. Trypanosoma vivax, Viermamn 1905 ký sinh ở động vật có vú.
7. Trypanosoma cruzi, Chagas 1909 ký sinh ở người.
8. Trypanosoma rhodesiense, Stephen et Fantham 1910 ký sinh ở người.
9. Trypanosoma simiae ký sinh ở lợn.
Tiên mao trùng chưa rõ tác hại gây bệnh:
10. Trypanosoma lewisi, Kent 1880 ký sinh ở động vật gậm nhấm.
11. Trypanosoma theileri, Laveran 1902 ký sinh ở trâu, bò.
12. Trypanosoma melophagium, Flu 1908 ký sinh ở dê, cừu.
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài Trvpanosoma (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense
Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis
Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Berenil điều trị trên động vật thí nghiệm.
Một số loài Tiên mao trùng có thể quan sát thấy nhiều hình thái trong quá
trình phát triển ở ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng. Hình thái Tiên mao trùng thường
gặp là:
1. Thể Crithidia: thể cơ động ở trước, gần thân, từ thể cơ động xuất phát một
roi, giới hạn một màng rung động ngắn, roi tự do ở phía trước.
2. Thể Leptomonas: thể cơ động hoàn toàn ở phía trước, từ thể cơ động xuất
hiện một roi tự do, không có màng rung động.
3. Thể Leishmania: hình bầu dục hay hình cầu có một nhân to, một bào tử
thể hình gậy, từ đó xuất phát mội cái roi chưa thành hình kết thúc ở giữa thân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
4. Thể Trypanosoma: hình dạng bình thường, nhưng có roi dính vào thân, chạy
thẳng lên phía trước, không tạo thành màng rung.
Theo Well (1981), hiện nay người ta đã đưa ra những khái niệm để
phân
biệt hình thái của Tiên mao trùng theo 6
dạng:
1. Trypamastigote: Tiên mao trùng có hình dạng bình
thường.
2. Spimastigote: Tiên mao trùng có hình thái như
Crithidia.
3. Chosnomastigote: Tiên mao trùng có roi chạy thẳng theo thân,
không
tạo
thành màng rung động, không có những nếp gấp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
kích thước trung bình của mỗi vòng khoảng 20Kb tuỳ theo loài. Các DNA của
maxicircle là giống nhau và có chứa các gen mã hoá cho các enzym giúp cho quá
trình trao đổi chất của Tiên mao trùng. Nhưng một điều đặc biệt là Trypanosoma
evansi lại không có DNA maxicircle. Điều đó giải thích tại sao trong vòng đời phát
triển của mình, Trypanosoma evansi không có khả năng nhân lên trong vật chủ môi
giới truyền bệnh giống T.brucei hay T.equiperdum.
- Nhân: nhân Tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng.
Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân, về
phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN). Từ kinetoplast có một roi
chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của
Tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi
ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Nguyễn
Quốc Doanh, 1999).
Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma
A - Roi H - Phần thân chính
B - Tổ hợp cytoskeleton I - Bộ máy Golgi
C - Nhân J - Lưới nội sinh chất
D - Ty thể K - Màng rung
E - Thể cơ động kinetoplast L - Nơi tiếp xúc của roi với màng rung
F - Thể đặc M - Nơi tiếp xúc của roi với thân
G - Túi tiên mao
-10
4
chuỗi vòng nhỏ). Tuy nhiên, sự khác nhau cũng thấy xuất hiện ngay
trong cùng một loài Trypanosoma evansi, với tỉ lệ khác ít nhất là 4%.
1.2.3. Một số đặc tính sinh học của Trypanosoma evansi
Đặc tính sinh học của T.evansi là cơ sở khoa học để tìm ra các biện pháp tiêu
diệt mầm bệnh cũng như nuôi cấy mầm bệnh ở ngoài cơ thể động vật. Đồng thời
cũng có thể chủ động về giống T.evansi trong nghiên cứu và sản xuất kháng nguyên
phục vụ cho công tác chẩn đoán bệnh.
Theo Phan Địch Lân (2004), T.evansi sống trong máu (huyết tương, ngoài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
hồng cầu) của nhiều loài động vật như trâu, bò, ngựa, chó, mèo, lạc đà, voi, hươu,
hoẵng, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch.
Theo Lương Văn Huấn và cs. (1997), T.evansi ký sinh trong máu, đôi khi
trong tổ chức nhiều loại động vật có vú, trong quá trình tiến hoá đi vào ống tiêu hoá
của những loài động vật không xương sống khác, chúng tự nuôi dưỡng bằng cách
thẩm thấu các chất dinh dưỡng có trong huyết thanh của máu hay dịch thể mà
chúng sống trong đó. T.evansi ký sinh trong máu nhiều loại động vật, chúng sinh
sản bằng cách trực phân theo chiều dọc. Đầu tiên T.evansi tăng thể tích, thể cơ
động phân chia, nhân cũng phân chia theo. Tuỳ theo sự phân chia, T.evansi có thể
phân thành hai hoặc bốn T.evansi mới, hình thành một cái roi mới. Sau đó nguyên
sinh chất sẽ phân chia, bắt đầu từ phía trước giữa cái roi, sự phân chia tiếp tục
cho đến phía sau thân thể. Hai cơ thể mới sinh còn dính với nhau một thời gian ở
phía sau thân của chúng, rồi tách hẳn nhau ra. Bình thường hai cơ thể này bằng
nhau, nhưng cũng có khi một bé một lớn. Sự phân chia này chỉ thực hiện trong máu
động vật có vú.
Trong
khó phân biệt với Trypanosoma evansi về hình thái, khả năng gây bệnh.
T.evansi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm không có kết quả, nuôi cấy ở nhiệt
độ thấp T.evansi có hình dạng tương tự như đang phát triển đã tìm thấy ở ruồi Tse
tse. Trypanosoma evansi không có khả năng gây nhiễm cho động vật khi nuôi cấy.
Những chủng đơn hình thái của Trypanosoma brucei bị mất khả năng phát triển
trong ký chủ trung gian cũng không nuôi cấy được (Toure, S.M.,1979).
1.3. Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng
1.3.1. Cấu trúc kháng nguyên của T.evansi
Kháng nguyên của T.evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi.
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Trong quá trình ký sinh trong cơ thể vật chủ, phần lớn các thành phần kháng
nguyên của Tiên mao trùng không bị biến đổi. Bằng phương pháp điện di miễn dịch
huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T.evansi, các nhà khoa học đã phát hiện tới 30
thành phần kháng nguyên khác nhau. Tất cả các loại Tiên mao trùng thuộc cùng
một nhóm hầu như có cùng một loại kháng nguyên ổn định và chúng giống nhau
một phần với các chủng Tiên mao trùng khác nhóm. Thí dụ như T.brucei thuộc
giống phụ Trypanozoon, loài T.congolense thuộc giống phụ Nannomonas đến 60%
giống nhau, T.vivax thuộc giống phụ Duttonella có miễn dịch chéo với
Trypanozoon và Nannomonas.
Có ba loại kháng nguyên không biến đổi (ISG: Invanant Surface
Glycoprotein) ở màng nguyên sinh chất của tế bào. Loại ISG 65, ISG 75 được phân
bố trên toàn bộ màng tế bào ước lượng số lượng khoảng 50.000 - 60.000 phân tử
giống nhau. Ở T.evansi sống, kháng nguyên này không thể kết hợp được với kháng
thể của vật chủ (Johanson và cs., 2008). Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc
tính ưa nước, các ISG này nằm chen vào phần VSG. Bằng phương pháp miễn dịch
huỳnh quang và phương pháp đánh dấu iode màng tế bào Tiên mao trùng, có thể
phát hiện và phân lập được các phân tử này. Loại thứ ba, ISG 100 gần đây mới phát
hiện. Chúng có đặc tính ưa nước và không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
tính của kho kháng nguyên đã cho. Các type kháng nguyên biến đổi (VAT) xuất
hiện theo một trật tự nửa xác định. Nghĩa là các VAT sớm có xu hướng xuất hiện
thành các VAT mới được phát hiện cách nhau vài ngày, nhưng nhịp điệu này không
duy trì được ở giai đoạn nhiễm muộn. Có lẽ là do miễn dịch bảo hộ của vật chủ dẫn
đến Tiên mao trùng phải tái tạo ra VAT ngoại lệ (ít trội).
Một số nghiên cứu đã áp dụng các kỹ thuật IFAT, Trypanolyse để định VAT
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
trong một quần thể dị loại và nghiên cứu sự biến đổi kháng nguyên của T.brucei đã
phân dòng. Từ sóng Tiên mao trùng đầu tiên, một quần thể Tiên mao trùng có tính
đồng gen khoảng 99% và tạo thành một loại kháng nguyên chính: loại đồng gen
(homotype). Ngoài ra còn phát hiện thấy nhiều loại kháng nguyên khác dị loại
(heterotype). Sau khi hệ thống miễn dịch loại bỏ kháng nguyên đồng loại, kháng
nguyên dị loại tăng nhanh. Các sóng Tiên mao trùng kế tiếp nhau có thể chứa nhiều
VAT chủ yếu và chúng sẽ bị thải loại nhanh và thay thế loại VAT khác và các VAT
này loại thải ở mức độ chậm hơn.
Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng
nguyên biến đổi của Tiên mao trùng. Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng
nguyên lớp vỏ của Tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất.
- Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG),
làm tiêu tan Tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá
của gen. Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng
các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng
đốivới kháng nguyên mới này.
Các VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt. Từ kho chứa hàng nghìn
gen khác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra
một loại kháng nguyên VSG. Gen hoạt hoá này nhờ men ARN được sao chép thông
qua ARN thông tin (ARNm). Nơi sao chép gọi là điểm biểu hiện gen (expression
khác. Do có sự thay thế một phần của gen nên tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng.
1.3.2 Miễn dịch học của bệnh Tiên mao trùng
Để sinh tồn và phát triển, ký sinh trùng phải sống nhờ và sử dụng chất dinh
dưỡng trên cơ thể khác làm thức ăn duy trì sự sống. Tuy vật chủ luôn có những đáp
ứng miễn dịch đối với sự tác động có hại của chúng song mỗi loại ký sinh trùng lại
có những cách phản ứng khác nhau đối với những tác động đó. Vì vậy, đã gây khó
khăn cho công tác chẩn đoán và điều trị bệnh.
Qua một số nghiên cứu cho thấy: Tiên mao
trùng có khả năng
giải phóng ra
các yếu tố ức chế miễn dịch, chúng có 2
phương
thức lẩn tránh đáp ứng miễn dịch
rất có hiệu quả. Thứ nhất là trở thành
tính
kháng nguyên thấp (hypoantigenis) hoặc
không có tính kháng
nguyên
(nolmmunogenie). Cách thức thứ hai là có khả năng
thay đổi kháng
nguyên
bề mặt rất nhanh, giữ được kháng nguyên cũ. Trypanosoma
theileri ở trâu,
bò,
Trypanosoma lewisi ở chuột, cả hai loài này đều là Trypanosoma
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
không
gây
xuất
hiện ở giai đoạn sau đó,
không có khả năng đáp lại những TMT
mới
này.
Tính chu kỳ của sự xuất hiện TMT trong máu có thể được
giải
thích như
sau: khi TMT xâm nhập, cơ thể đáp ứng miễn dịch
bằng
cách sinh ra kháng thể,
làm cho số lượng TMT giảm đi trong
máu.
Tuy nhiên số lượng nhỏ sống sót được
lại tiếp tục phát triển, kháng nguyên
bề
mặt mới, một quần thể lạ được tạo ra. Sự
thay đổi chu kỳ của số lượng
TMT
này với mỗi đỉnh cao,
là
biểu hiện sự xuất hiện một
quần thể có tính kháng nguyên mới chúng có
thể
tiếp tục trong một thời gian
dài.
Authie, E (1974), cũng cho biết: trong cùng một giống gia súc,
sự
mẫn
cảm của các loài Tiên mao trùng cũng khác nhau. Ở châu Phi, bò