BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÙY TRANG
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VI NANG
GLIPIZID BẰNG PHƯƠNG PHÁP
ĐÔNG TỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
TS. Nguyễn Ngọc Chiến
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Công nghiệp Dược
2. Viện Công nghệ Dược phẩm
Quốc gia
HÀ NỘI - 2013 LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành nhất tới: thầy giáo TS. Nguyễn Ngọc Chiến - Giảng viên bộ môn Công
nghiệp Dược - Trường Đại học Dược Hà Nội - người thầy đã luôn tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ tôi trên con đường học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Hạnh Thủy cùng toàn thể các
thầy, cô giáo và các anh chị kỹ thuật viên bộ môn Công Nghiệp Dược - những
người đã luôn hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
1.1.1.
Công thức 2
1.1.2. Tính chất lý hóa 2
1.1.3. Dược động học 2
1.1.4. Tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng 2
1.1.5. Chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng 3
1.2. Tổng quan về dạng bào chế vi nang 3
1.2.1.
Khái niệm 3
1.2.2. Cấu tạo, thành phần: 4
1.2.3. Phân loại 5
1.2.4. Ứng dụng của vi nang 5
1.2.5. Phương pháp bào chế vi nang 6
1.3. Vài nét về natri alginat 11
1.4. Một số nghiên cứu liên quan về dạng bào chế vi tiểu phân glipizid 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị 16
2.1.1.
Nguyên liệu 16
2.1.2. Thiết bị 16
2.2. Nội dung nghiên cứu 16
2.2.1.
Xây dựng công thức bào chế vi nang glipizid bằng phương pháp đông
tụ tạo muối
16
2.2.2. Đề xuất tiêu chuẩn cơ sở cho vi nang bào chế được 17
2.3. Phương pháp thực nghiệm 17
2.3.1.
Xây dựng đường chuẩn của glipizid trong môi trường đệm phosphat 7,4
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
D/N Dầu trong nước
DC Dược chất DC/VN Dược chất trong vi nang
DCM Dicloromethan
DMSO Dimethylsulfoxid
DOSS Dioctylsulfosuccinat
GPZ Glipizid
HPMC Hydroxypropyl methylcellulose
kl/tt Khối lượng trên thể tích
LMP Low methoxy pectin
N/D Nước trong dầu
PVA Polyvinyl alcol
RESS Dung dịch siêu tới hạn
dược – dược chất, nồng độ alginat, nồng độ CaCl
2
, loại
dung môi đến vi nang
26
Bảng 3.3.
Đặc tính vi nang bào chế được khi thay đổi tỷ lệ dược chất
– tá dược
27
Bảng 3.4.
Đặc tính vi nang bào chế được khi thay đổi nồng độ
alginat
29
Bảng 3.5.
Đặc tính vi nang bào chế được khi thay đổi nồng độ CaCl
2
31
Bảng 3.6.
Đặc tính vi nang bào chế được khi sử dụng các dung môi
khác nhau
32
Bảng 3.7.
Đặc tính vi nang bào chế được khi thay đổi thời gian ủ
34
Bảng 3.8.
Các công thức vi nang có tốc độ khuấy khác nhau của môi
trường
35
Bảng 3.9.
Hình 1.2.
Một số hình ảnh vi nang
5
Hình 1.3.
Cấu trúc alginat
11 Hình 1.4.
Cấu trúc vỉ trứng của hạt gel calci alginat
12
Hình 3.1.
Đồ thị biểu diễn mối tương quang giữa mật độ quang và
nồng độ dung dịch GPZ trong môi trường đệm phosphat 7,4
tại bước sóng 223 nm
24
Hình 3.2.
% GPZ giải phóng từ các vi nang có tỷ lệ tá dược – dược
chất khác nhau
27
Hình 3.3.
% GPZ giải phóng từ các vi nang có nồng độ alginat khác
nhau
29
Hình 3.4.
% GPZ giải phóng từ các vi nang sử dụng nồng độ CaCl
2
nước (37,2 mg/L) và phụ thuộc pH nên có thể dẫn đến giảm khả năng giải phóng ra
khỏi dạng bào chế và khả năng hòa tan của dược chất làm thuốc hấp thu kém, ảnh
hưởng đến sinh khả dụng trong quá trình dùng thuốc.
Trên thực tế đã có nhiều dạng bào chế của glipizid được nghiên cứu như viên
nén giải phóng kéo dài, vi nang, vi cầu với các mục đích khác nhau. Bào chế
glipizid dưới dạng vi nang sử dụng tá dược alginat có nhiều ưu điểm như có diện
tích tiếp xúc bề mặt lớn, có thời gian lưu trong đường tiêu hóa hằng định, giảm sự
sai khác sinh khả dụng giữa các cá thể, ngoài ra vi nang alginat còn có thuộc tính
kết dính sinh học và khả năng kiểm soát giải phóng kéo dài giúp giảm số lần dùng
thuốc cho bệnh nhân.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế vi nang
glipizid bằng phương pháp đông tụ” với mục tiêu:
1. Nghiên cứu xây dựng được công thức bào chế vi nang glipizid giải phóng
kéo dài 7 tiếng bằng phương pháp đông tụ.
2. Đề xuất được tiêu chuẩn cơ sở cho vi nang bào chế được.
2 Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về glipizid
1.1.1. Công thức
+ Công thức phân tử: C
21
H
27
N
5
O
4
+ Kích thích trực tiếp tế bào đảo beta Langerhan của tuyến tụy tăng sản xuất
insulin làm giảm nồng độ glucose máu.
+ Làm tăng số lượng receptor của insulin ở các tế bào, đặc biệt là các tế bào mỡ,
hồng cầu, bạch cầu đơn nhân, do đó làm tăng tác dụng của insulin.
+ Ức chế nhẹ tác dụng của glucagon nên cũng gây hạ glucose máu [1], [2].
1.1.5. Chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng
1.1.5.1. Chỉ định
Đái tháo đường typ II mà không kiểm soát được bằng điều chỉnh chế độ ăn
đơn độc [1], [2].
1.1.5.2. Chống chỉ định
+ Đái tháo đường nhiễm toan thể ceton hôn mê hoặc không hôn mê, suy gan.
+ Mẫn cảm với GPZ và đái tháo đường typ I.
+ Thận trọng với người suy thận [1], [2].
1.1.5.3. Liều dùng, cách dùng
+ Cách dùng: Uống 1 lần vào buổi sáng (30 phút trước khi ăn).
+ Liều dùng: Dựa vào kết quả kiểm tra glucose máu và nước tiểu, tùy từng
người bệnh để đạt hiệu quả. Liều thường dùng là 2,5-5 mg/ngày. Sử dụng với liều
15-20 mg/ngày có thể kiểm soát thỏa đáng nồng độ glucose trong máu suốt ngày đối
với người bệnh ăn theo lối thông thường. Sử dụng quá 15-20 mg/ngày phải chia
thành nhiều liều nhỏ trước các bữa ăn. Liều tối đa khuyến cáo là 15 mg/ngày [2].
1.2. Tổng quan về dạng bào chế vi nang
1.2.1. Khái niệm
Vi nang (microcapsule) là những tiểu phân hình cầu hoặc không xác định,
kích thước từ 0,1 micromet tới 5 mm (thông thường từ 100 đến 500 micromet). Các
vi nang được chế tạo bởi quá trình bao dược chất lỏng hoặc rắn bằng một màng bao
4
mỏng polyme liên tục [4]. Vi nang hóa là quá trình bao gói những giọt chất lỏng
nhỏ hoặc phân tử nhỏ bằng một lớp màng thích hợp [29]. Một số tài liệu xếp kích
thước vi nang nằm trong khoảng từ 1 micromet đến 1000 micromet [15], [29].
Vi nang được phân loại dựa vào hình thái và kích thước
+ Vi nang đơn nhân (nhân – vỏ) chứa lớp vỏ bao quanh lớp nhân.
+ Vi nang đa nhân gồm nhiều nhân (lõi) bao gói trong một lớp vỏ.
+ Vi nang dạng cốt: vật liệu chế tạo nhân được phân tán đồng nhất trong vật
liệu tạo vỏ [12], [15], [29].
Ngoài ra còn có loại đơn nhân và nhiều lớp vỏ, hoặc dạng kết tụ của nhiều vi
nang [15].
Hình 1.2. Một số hình ảnh vi nang [15].
1.2.4. Ứng dụng của vi nang
Vi nang và công nghệ vi nang hóa được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như
công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, nông nghiệp, thuốc thú y, công
nghiệp hóa chất, công nghiệp in, công nghệ sinh học, công nghệ nano… [12], [29].
Tuy rằng không phải dược chất nào cũng có thể bào chế dưới dạng vi nang,
hơn nữa vỏ vi nang rất khó đồng nhất và không gián đoạn, nhưng công nghệ vi nang
hóa đã là một trong những bước tiến bộ của ngành Dược, góp phần giải quyết
những vấn đề khó khăn trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm [4]. Dược chất được đưa
vào vi nang với nhiều mục đích khác nhau, có thể kể đến như:
6
+ Bảo vệ dược chất trước ảnh hưởng của môi trường (ví dụ bào chế aspirin
kéo dài kháng acid dịch vị tốt) [29], bảo vệ các chất nhạy cảm với độ ẩm, ánh sáng,
chất oxi hóa (nifedipin, vitamin A, vitamin K) [15].
+ Chuyển các dược chất ở dạng lỏng thành các hệ chất rắn khô (giả rắn) thuận
lợi cho việc vận chuyển, bảo quản (eprazinon) [29], hoặc thành các dạng bột có độ
trơn chảy cao thuận lợi cho việc bào chế (dễ dàng đưa vào viên nén) [15].
+ Tách các phần tương kỵ với nhau (ví dụ để tăng độ ổn định của cặp tương
kỵ aspirin và clorpheniramin maleat bằng cách tạo thành vi nang của từng chất
trước khi trộn chung với nhau) [15], [29].
+ Giảm độc tính và tương tác với dịch vị (KCl, sắt sulfat…).
Đông tụ đơn giản là quá trình loại nước của các chất keo thân nước dùng
trong hệ, do đó làm giảm độ tan của chất keo. Trong phương pháp này thường chỉ
sử dụng một loại polyme (gelatin, polyvinyl alcol, carboxymethyl cellulose). Quá
trình làm giảm độ tan của chất keo có thể bằng các cách sau: thêm vào một dung
môi có thể trộn lẫn với nước (ethanol, aceton, isopropanol…); thêm vào một muối
vô cơ hay thay đổi nhiệt độ [28].
Đông tụ phức hợp là quá trình tương tác giữa các phân tử tích điện âm và tích
điện dương của hay hoặc nhiều hợp chất cao phân tử, có thể do sự thay đổi nồng độ
các chất tan cao phân tử hoặc thay đổi pH. Các polyme càng có sự khác nhau về
điểm đẳng điện càng dễ tạo thành hạt đông tụ.
Ví dụ điển hình cho phương pháp này là quá trình đông tụ phức hợp của
gelatin và gôm arabic. Quá trình này chỉ xảy ra khi pH nhỏ hơn điểm đẳng điện của
gelatin, khi đó gelatin trở thành chuỗi tích điện dương, trong khi gôm arabic vẫn
tích điện âm, hiện tượng đông tụ xảy ra [28]. Có thể khái quát phương pháp tiến
hành như sau: vật liệu lõi được nhũ hóa hoặc phân tán vào một trong hai dung dịch
(gelatin hoặc dung dịch gôm arabic), sau đó thêm dung dịch còn lại vào hệ, duy trì
nhiệt độ cao hơn nhiệt độ gel hóa của gelatin (35
o
C), pH được điều chỉnh nằm trong
khoảng 3,8 – 4,3 và tiếp tục khuấy trộn. Hệ được đưa về 50
o
C, quá trình đông tụ
xảy ra, màng bao cần được làm ổn định bằng liên kết chéo khi có mặt
glutaraldehyd, cuối cùng rửa và làm khô để thu được vi nang [4], [6].
8
Tách pha còn có thể được thực hiện do thêm vào một polyme khác không
tương đồng, do thêm vào hệ một dung môi thứ hai, do sự hóa muối (đông tụ thông
thường), hoặc do tương tác giữa các polyme (đông tụ phức hợp) [4].
Tách pha do sự hóa muối (đông tụ thông thường)
muối gồm: loại dược chất và đặc tính của nó; loại và nồng độ polyme sử dụng (tính
toán phù hợp với số đơn vị liên kết chéo); các chất thêm vào; tỷ lệ tá dược – dược
chất; thời gian ủ; loại, nồng độ, nhiệt độ tác nhân liên kết chéo; điều kiện làm
khô [22], [27].
Đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về kĩ thuật này. Pay Khazaeli cùng cộng sự
đã tạo vi nang ibuprofen trên cơ sở nguyên tắc đông tụ do tạo muối (ion hóa tạo
gel). Thử nghiệm được tiến hành gồm các bước: tạo hỗn dịch đồng nhất của
ibuprofen (2%) trong dung dịch alginat nồng độ thích hợp; nhỏ giọt vào dung dịch
muối vô cơ của các kim loại hóa trị II khác nhau (Ca, Ba, Mn, Co, Sn, Pb) qua kim
21G tại nhiệt độ phòng; tiến hành ủ, gạn, sấy thích hợp thu được vi nang [17].
Trong nghiên cứu của mình, Polona Smrdel và cộng sự đã khảo sát ảnh hưởng
của các thông số: thời gian ủ, nhiệt độ và nồng độ dung dịch CaCl
2
, điều kiện sấy
đến hình dạng, kích thước của hạt alginat bào chế bằng phương pháp đông tụ tạo gel
với theophyllin là dược chất. Kết quả thu được cho thấy khi tiến hành với thời gian
ủ lâu và nhiệt độ dung dịch CaCl
2
cao sẽ cho hạt cầu và nhỏ; hạt được sấy theo
phương pháp đông khô cho hình dạng cầu nhất và kích thước lớn nhất nhưng tốc độ
giải phóng dược chất lại cao nhất [27].
1.2.5.2. Kĩ thuật hóa rắn nhũ tương
Vi nang có thể được tạo ra từ nhũ tương gồm hay hay nhiều chất lỏng không
đồng tan với nhau. Nhũ tương tạo thành có thể là loại dầu/nước (D/N) hoặc
nước/dầu (N/D) phụ thuộc vào độ tan của dược chất trong nước và polyme sử dụng.
Và dựa vào kĩ thuật hóa rắn nhũ tương mà có thể chia thành ba phương pháp: bốc
hơi dung môi, thay đổi dung môi và tạo liên kết chéo. Các thông số quá trình ảnh
hưởng lớn đến vi nang tạo thành (phương pháp phân tán, tỷ lệ bay hơi dung môi,
nhiệt độ, tốc độ khuấy…) [15], [28].
1.2.5.3. Phương pháp sử dụng chất lỏng siêu tới hạn
thì các thông số quá trình cũng ảnh hưởng đến vi nang tạo thành như nhiệt độ khí
vào, tốc độ cấp khí, tốc độ cấp dịch, áp lực phun, kích thước đầu phun… [28].
Ming Guan Piao và cộng sự đã tiến hành bào chế vi nang piroxicam bằng
phương pháp phun sấy với tá dược bao là gelatin nhằm mục đích tăng sinh khả dụng
cho dược chất khó tan này. Đầu tiên, piroxicam được hòa tan hoàn toàn trong
11
ethanol (1 g/ 70 ml), dung dịch này cùng với natri laurylsulfat (0,6 g) được thêm
vào dung dịch gelatin đã chuẩn bị sẵn (4 g gelatin trong 30 ml nước), đun nóng đến
50
o
C. Dung dịch sau cùng đưa vào máy phun sấy để chế tạo vi nang. Các thông số
được kiểm soát gồm: kích thước đầu súng phun 0,7 mm, nhiệt độ đầu vào 105
o
C,
tốc độ cấp dịch 5 ml/phút, áp lực khí nén 5 kg/cm
2
[18].
1.3. Vài nét về natri alginat
Cấu tạo:
Alginat là một trong các loại chuỗi polysaccharid anion được chiết tách từ loài
tảo nâu, bao gồm : acid β-1,4-D-mannuronic (chuỗi M) và α-1,4-L-guluronic (chuỗi
G) liên kết với nhau bằng liên kết 1,4 glycosid [19].
Hình 1.3. Cấu trúc alginat
Đặc điểm, tính chất có liên quan đến bào chế vi nang:
+ Độ nhớt: khác nhau tùy số lượng nhánh của phân tử alginat. Độ nhớt thay
đổi phụ thuộc nồng độ, nhiệt độ, pH và sự có mặt của ion kim loại [24].
+ Sự gel hóa: dung dịch natri alginat có khả năng tạo gel khi phản ứng với
các ion kim loại hóa trị II, III. Sự tạo gel được giải thích qua mô hình vỉ trứng. Bình
Điển hình như trong phương pháp đông tụ hóa muối đã được đề cập, natri
alginat là chất mang hay được sử dụng. Phương pháp dựa trên nguyên tắc tạo gel
calci alginat bao gói lấy dược chất bên trong (có tài liệu gọi là ion hóa cố định gel).
Các bước tiến hành được mô phỏng như sau: tạo hệ đồng nhất gồm natri alginat,
dược chất, tá dược (hỗn dịch, nhũ tương), sau đó được phun (nhỏ giọt) vào dung
dịch calci clorid, khi đó sẽ tạo thành hạt gel calci alginat và dược chất được bao gói
bên trong tạo thành vi nang, tiến hành ủ, gạn, rửa và sấy để thu được sản phẩm [8],
[25], [30], [31], [34].
1.4. Một số nghiên cứu liên quan về dạng bào chế vi tiểu phân glipizid
Đã có rất nhiều nghiên cứu bào chế các dạng vi tiểu phân của glipizid với
nhiều mục đích như để kiểm soát giải phóng, tạo khả năng kết dính sinh học…
13
Để chế tạo vi cầu glipizid bám dính sử dụng natri alginat bằng phương pháp
đông tụ thông thường (hóa muối) sử dụng CaCl
2
làm tác nhân tạo liên kết,
Yaswanth Allamneni đã tiến hành với 12 công thức khảo sát theo cùng một quy
trình: phân tán dược chất vào 50 ml dung dịch alginat trong đệm 7,4 tạo thành hỗn
dịch đồng nhất dưới tác dụng của khuấy từ ở tốc độ 400 rpm; hỗn dịch này được
bơm nhỏ giọt qua đầu kim cỡ 22G vào 100 ml dung dịch CaCl
2
nồng độ thích hợp
được khuấy ở 100 rpm (khoảng cách từ đầu kim đến bề mặt dung dịch muối Ca
được giữ cố định là 6 cm); các vi cầu tạo thành được ủ trong một thời gian thích
hợp và sau đó được lọc và sấy ở nhiệt độ 30 – 40
o
C. Kết quả vi cầu thu được là
riêng biệt, hình cầu, trơn chảy tốt. Vi cầu tạo ra được đánh giá ở các mặt: hiệu suất
vi cầu hóa, kích thước, khả năng giải phóng dược chất, thử nghiệm rửa trôi…
karaya) dựa trên phương pháp đông tụ thông thường sử dụng CaCl
2
làm tác nhân
tạo liên kết chéo. Vi cầu tạo ra được đánh giá về hình dạng, kích thước, hiệu suất
lưu giữ, khả năng giải phóng dược chất, khả năng kết dính… 12 công thức được bào
chế để khảo sát các loại polyme khác nhau, tỷ lệ phối hợp khác nhau và nồng độ
CaCl
2
khác nhau. Nghiên cứu chứng minh việc kết hợp giữa LMP và gôm guar cho
kết quả khả quan nhất (hiệu suất cao, trương nở tốt, giải phóng kéo dài, bám dính
tốt) [16].
Trong nghiên cứu của Sai Krishna Putta và cộng sự về bào chế và đánh giá vi
nang glipizid kết dính với tá dược alginat và gôm kondagogu, vi nang được bào chế
theo hai cách: đông tụ thông thường và gel hóa nhũ tương. Trong phương pháp thứ
nhất, dược chất được phân tán vào dung dịch của alginat và gôm để tạo hỗn dịch
đồng nhất, hỗn dịch này được nhỏ giọt vào dung dịch CaCl
2
, sau đó ủ, gạn, rửa, sấy
qua đêm ở nhiệt độ phòng để thu được vi nang. Ở phương pháp thứ hai, cũng tạo
hỗn dịch của dược chất trong dung dịch alginat và gôm, tiếp đó nhỏ giọt hỗn dịch
vào dung dịch dầu parafin trong điều kiện khuấy trộn nhằm tạo các giọt nhũ hóa,
một lượng dung dịch CaCl
2
được nhỏ vào và cũng tiếp tục giữ khuấy trộn liên tục
trong 15 phút để tạo thành các vi nang, vi nang được gạn, rửa với ether dầu hỏa và
làm khô trong máy sấy tầng sôi. Nghiên cứu cho thấy dược chất giải phóng chậm
khỏi vi nang và phụ thuộc vào tỷ lệ nhân – vỏ cũng như phương pháp bào chế. Kết
quả là phương pháp gel hóa nhũ tương phù hợp hơn với mục đích giải phóng kéo
dài, các vi nang thu được có tính bám dính tốt trong thử nghiệm rửa trôi [23].
15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị
2.1.1. Nguyên liệu
Bảng 2.1. Nguyên liệu và hóa chất nghiên cứu
STT
Tên nguyên liệu, hóa chất
Nguồn gốc
Tiêu chuẩn
1
Glipizid
Ấn Độ
USP
2
Natri alginat
Trung Quốc
TCNSX
3
Aerosil
Trung Quốc
TCNSX
4
Calci clorid
Trung Quốc
TCNSX
5
Methanol
Trung Quốc
TCNSX
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến một số chỉ tiêu chất lượng của vi
nang bào chế được
+ Khảo sát ảnh hưởng của yếu tố công thức đến các chỉ tiêu chất lượng của vi
nang bào chế được
Tỷ lệ alginat – dược chất.
Nồng độ dung dịch alginat.
Nồng độ dung dịch CaCl
2.
Loại dung môi ngâm trương nở alginat.
+ Khảo sát ảnh hưởng của thông số quá trình đến các chỉ tiêu chất lượng của
vi nang bào chế được
Thời gian ủ vi nang.
Nhiệt độ tạo vi nang.
Tốc độ nhỏ giọt.
Tốc độ khuấy dung dịch CaCl
2
trong quá trình nhỏ giọt.
+ Khảo sát ảnh hưởng Aerosil của lên hình dạng của vi nang sau khi sấy
Xây dựng công thức vi nang bào chế bằng phương pháp đông tụ hóa muối
Mỗi yếu tố khảo sát tìm được các thông số quá trình và công thức (loại, tỷ lệ
tá dược) tốt nhất để bào chế được vi nang phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Vi
nang bào chế được sẽ được đánh giá các đặc tính sau:
+ Hình dạng, kích thước.
+ Hiệu suất bào chế.
+ Hiệu suất vi nang hóa, hàm lượng dược chất trong vi nang.
+ Khả năng giải phóng dược chất.
2.2.2. Đề xuất tiêu chuẩn cơ sở cho vi nang bào chế được
Từ các kết quả đã khảo sát, lựa chọn các tiêu chuẩn cơ sở cho vi nang
glipizid bào chế được.