VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN CAO GIANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CHO VAY TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, năm 2015
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN CAO GIANG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CHO VAY TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẢO VIỆT
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Ngêi híng dÉn khoa häc:
PGS.TS: NGUYỄN TRỌNG XUÂN
HÀ NỘI, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu của cá nhân
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Trọng Xuân
- Các số liệu, thông tin được trích dẫn theo đúng quy định
- Dữ liệu khảo sát là trung thực
BẢNG
Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 34
Bảng 2.2: Hoạt động kinh doanh của CN 40
3
3
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ theo loại tiền 46
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ theo thời gian 47
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế 49
Bảng 2.6: Chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng 50
Bảng 2.7: Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn 52
Bảng 2.8: Chỉ tiêu nợ quá hạn 52
Bảng 2.9: Vòng quay vốn tín dụng 54
Bảng 2.10: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng 55
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Sở Giao dịch 37
4
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay, hoạt động tín dụng là một
nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu
thu nhập, nhưng đây cũng là hoạt động phức tạp, tiềm ẩn những rủi ro lớn cho các
NHTM. Tín dụng trong điều kiện nền kinh tế mở, cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp tục
đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng và đang đặt ra những yêu
cầu mới về nâng cao hiệu quả hoạt động.
Ngân hàng TMCP Bảo Việt là một ngân hàng trẻ, mới ra đời từ năm 2008,
song đã đạt được những thành công nhất định. Trong quá trình tồn tại và phát triển,
câu hỏi đặt ra đối với nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu chính sách của ngân hàng là
làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng. Trong quá trình công tác
tại ngân hàng TMCP Bảo Việt , tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: ‘‘Giải pháp nâng
Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng
Bảo Việt để thấy những thành công cũng như những mặt còn hạn chế trong hoạt
động tín dụng, từ đó tìm ra nguyên nhân tại BVB Sở giao dịch.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng phù
hợp với thực trạng hoạt động tín dụng và điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn, từ
đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Sở giao dịch
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt –
Chi nhánh Sở giao dịch
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay tại Sở giao dịch ngân hàng TMCP
Bảo Việt trong giai đoạn từ năm 2011 - 2014
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu, thông tin nội bộ: Báo
cáo thường niên hàng năm của Ngân hàng TMCP Bảo Việt, Báo cáo tài chính của
BVB – Sở giao dịch, các số liệu được chiết xuất trên phần mềm T24, các số liệu
thông tin trên mạng Internet, …Các nguồn dữ liệu này được ghi chú chi tiết trong
6
6
phần tài liệu tham khảo.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên phương diện lý luận: Đóng góp những vấn đề cơ bản về tín dụng và chất
lượng tín dụng ngân hàng. Từ đó cho thấy ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín
dụng trong hệ thống ngân hàng Bảo Việt nói chung và chi nhánh Sở giao dịch nói
riêng.
Trên phương diện thực tiễn: Luận văn phân tích thực trạng chất lượng tại
BVB Sở giao dịch, làm rõ các nguyên nhân dẫn tới chất lượng tín dụng còn nhiều
hạn chế tại chi nhánh. Căn cứ vào tình hình thực tế ngân hàng, tác giả đề xuất các
giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng trong thời gian tới, đảm bảo hoạt động
thực tiễn của BVB Sở giao dịch và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trên địa
bàn.
thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định. Trong quá trình phát triển
của nền kinh tế, tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng giữa cá nhân, tổ chức trong nền
kinh tế. Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó
sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai.
Niềm tin của người cho vay đặt ở khách hàng, đó là sự hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Vậy có thể hiểu khái niệm tín dụng là sự vận động giá trị từ người đi vay và sẽ quay
về với người cho vay cả gốc lẫn lãi trong kỳ hạn xác định.
8
8
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị từ
người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định quay về với người sở
hữu với lượng giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Hoặc tín dụng là phạm trù kinh tế chỉ
mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi sau một thời
gian nhất định.
Như vậy theo tác giả tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn
trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả hai bên, do đó nó là một quan
hệ bình đẳng, cả hai bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận .
Tín dụng ngân hàng
Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô
cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín
dụng cho các doanh nghiệp và các thể nhân khác trong nền kinh tế. Nó không phải là
quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là
quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian đó là các ngân
hàng thương mại. Tín dụng ngân hàng có nhiều cách định nghĩa:
‘‘Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn
vốn huy động để cấp tín dụng’’, (Luật các tổ chức tín dụng, 2004)’’ [116, tr.2]
‘‘Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác’’, (Luật các tổ chức tín dụng, 2010)’’
Tín dụng dài hạn: ‘‘ cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 60
tháng trở lên” [3, tr.2] mục đích của khoản vay thường được sử dụng để tài trợ cho
các dự án đầu tư, cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất
có quy mô lớn.
1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng được cung cấp cho
các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
10
10
Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ,
các thiết bị gia đình Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
Cho vay kinh doanh bất động sản: bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn
hạn và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn tài trợ cho việc
mua đất canh tác, nhà, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản. Đối với loại
hình cho vay này, thông thường ngân hàng được bảo đảm bằng chính tài sản thực:
đất đai, toà nhà và các công trình khác.
Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản tín dụng dành cho
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
Với cách phân loại này, ngân hàng sẽ có quy trình nghiệp vụ cụ thể để đảm
bảo ngân hàng có đủ tiền để cho vay và thu hồi nợ theo đánh giá mức độ rủi ro và
mức lãi suất được đặt ra cho từng loại.
1.1.2.3 Căn cứ theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay:
Cho vay bằng đồng bản tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách
hàng bằng VND. Việt Nam quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì chỉ được
vay bằng VND.
Cho vay bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách
hàng bằng đồng ngoại tệ. Nước ta quy định, cho vay bằng ngoại tệ chỉ phục vụ cho
nhập khẩu; đối với khách hàng thu mua hàng xuất khẩu thì Ngân hàng cho vay bằng
ngoại tệ nhưng phải bán luôn cho ngân hàng và dùng VND đi mua hàng xuất khẩu.
nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Căn cứ các cách phân loại
cho vay của ngân hàng mà các nhà làm luật Việt Nam có thể xây dựng thành những
quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thực tiễn và nghiệp vụ tài chính của các
TCTD, tạo điều kiện giúp mỗi TCTD có thể xây dựng cho mình những chiến lược,
chính sách kinh doanh mang tầm vĩ mô, có tính khả thi cao và hiệu quả để nâng cao
được chất lượng tín dụng. Thực hiện tốt việc phân loại tín dụng sẽ giúp cho ngân
hàng nghiên cứu việc vận dụng vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ
sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng. Từ đó có sự quản lý phù hợp nhất để
nâng cao chất lượng tín dụng.
12
12
1.1.3. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin: Khi ngân hàng phát vay cho
khách hàng thì khi đó ngân hàng tin tưởng rằng khách hàng có khả năng hoàn trả
được gốc và lãi vốn vay, thẩm định khách hàng là bước bắt buộc khi cho vay nhưng
nếu như không có sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả nợ của khách hàng trong
tương lai thì ngân hàng cũng sẽ không giải ngân vốn.
Tín dụng ngân hàng hoạt động dựa trên nguyên tắc giá trị hoàn trả phải lớn
hơn so với giá trị cho vay ban đầu bao gồm cả gốc lẫn lãi: Sở dĩ như vậy là vì vốn
hoạt động của ngân hàng chủ yếu là nguồn tiền từ huy động, vốn chủ sở hữu ít khi
được sử dụng để sản xuất kinh doanh mà được sử dụng chủ yếu để đầu tư vào tài
sản cố định. Chính vì vậy, sau một thời gian nhất định, ngân hàng phải trả lãi cho
người gửi. Mặt khác ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động…
Do đó, người vay ngoài việc trả gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi cũng
chính là nguồn thu nhập của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển.
Tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên tắc có thời hạn: Đặc trưng này của tín
dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời. Ngân hàng khi cho khách hàng vay
vốn, dựa vào mục đích sử dụng vốn vay, hoạt động kinh doanh của khách hàng, quá
trình chu chuyển vốn và dựa vào kỳ hạn của nguồn vốn ngân hàng huy động được
để xác định thời hạn vay phù hợp cho khách hàng nhằm đảm bảo ngân hàng có thể
cách đầu tư kiếm lời. Ngoài ra còn có các khoản tiền để dành của dân cư, khi chưa
có nhu cầu sử dụng, họ cũng muốn đầu tư để kiếm lời. Tất cả tạo thành nguồn vốn
tiềm tàng trong nền kinh tế. Trong khi đó có một số doanh nghiệp, cá nhân thiếu
vốn để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình, một số cá nhân trong xã hội cần
vốn để đầu tư hay tiêu dùng… Như vậy, tín dụng ngân hàng đã thoả mãn nhu cầu
người có vốn và người cần vốn.
Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình tập trung và
điều hoà vốn trong nền kinh tế.
Thông qua hoạt động "đi vay để cho vay" tín dụng ngân hàng đã làm nhiệm vụ
đưa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu. Điều này được thể hiện ở việc tín dụng thu
14
14
hút các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân để cho vay đầu
tư phát triển kinh tế. Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong
phú cùng với việc thoả mãn nhu cầu lợi ích của người gửi tiền mà các ngân hàng
thương mại đã thu hút được hầu hết các nguồn tiền nhàn rỗi từ trong dân cư và từ
đó đáp ứng được nhu cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế; qua đó đã góp
phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và
lãi. Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mọi thành phần kinh
tế và cho vay khi họ tạm thời thiếu vốn. Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng ngoài
việc được cung ứng vốn một cách kịp thời đầy đủ còn được ngân hàng hỗ trợ trong
quá trình sử dụng vốn thông qua những ý kiến tư vấn khi lập phương án sản xuất
kinh doanh. Mặt khác, khi sử dụng vốn vay, khách hàng có quan hệ ràng buộc với
ngân hàng bởi trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong một thời gian nhất
định. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cân nhắc làm thế nào để sử dụng vốn có
hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí, tăng vòng quay của vốn đảm bảo kinh doanh có
hiệu quả cho doanh nghiệp, đồng thời tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân
hàng, đặc biệt là dịch vụ tín dụng vì nó là một nguồn tài trợ quan trọng đối với mỗi
doanh nghiệp. Mục tiêu của họ là tối đa hoá giá trị tài sản của mình hay nói cụ thể
hơn là tối đa hoá giá trị sử dụng của khoản vốn vay. Chính vì thế với khách hàng để
đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, cái họ quan tâm đầu tiên là lãi suất, kỳ
hạn, quy mô, phương thức giải ngân và phương thức thu nợ của khoản tín dụng mà
ngân hàng cung cấp có thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục
được giải quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý. Nếu tất
cả các yếu tố này đều đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó
được coi là có chất lượng tốt và ngược lại. Do đó, theo quan điểm của khách hàng
thì chất lượng tín dụng là: Sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng về khoản tín dụng
trên các phương diện, lãi suất, quy mô, thời hạn, phương thức giải ngân, phương
16
16
thức thu nợ
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Thông qua các khoản tín dụng mà Ngân
hàng cung cấp cho các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế, các hoạt động như tái sản
xuất mở rộng, đầu tư phát triển theo chiều sâu sẽ được tiến hành và góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế. Như vậy, đứng trên quan điểm của xã hội để đánh giá chất
lượng tín dụng thì chất lượng tín dụng là: sự đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội mà các khoản tín dụng của ngân hàng đem lại. Tín dụng phục vụ sản xuất
và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng
trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các
quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế, góp phần xây dựng thị
trường tài chính lành mạnh, hiệu quả và ổn định.
Đối với Ngân hàng thương mại: Cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào trong
nền kinh tế Ngân hàng cũng phải hoạt động kinh doanh làm sao để đem lại càng
nhiều thu nhập cho chủ sở hữu thì càng tốt. Vì thế theo quan điểm của Ngân hàng
thì chất lượng tín dụng với các yếu tố cấu thành cơ bản đó là mức độ an toàn của tín
dụng và khả năng sinh lời do hoạt động tín dụng mang lại. Như vậy CLTD là chỉ
tiêu tổng hợp phản ánh hoạt động tín dụng của NHTM trong quá trình cạnh tranh để
Ngân hàng riêng lẻ không thể đáp ứng được, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các
Ngân hàng trong việc tài trợ cho khách hàng (đồng tài trợ hay tín dụng hợp vốn).
1.2.2.2. Đối với nền kinh tế
Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế xã hội. Để có chất lượng tín
dụng, ngoài sự nỗ lực của bản thân các NHTM, đòi hỏi nền kinh tế phải ổn định và
phải có một cơ chế, chính sách phù hợp, sự kết hợp nhịp nhàng có hiệu quả giữa các
cấp, các ngành tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của tín dụng.
Trên quan điểm toàn xã hội thì vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng cũng là
vấn đề cần thiết. Bởi một đồng vốn của Ngân hàng cho vay là đầu mối trong tất cả
các mối quan hệ kinh tế, nếu người sử dụng vốn đó hiệu quả thì cũng đồng nghĩa
với việc có hiệu quả đối với Ngân hàng và xã hội bởi nó sẽ góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế, đóng góp sự phát triển xã hội.
18
18
1.2.2.3. Đối với khách hàng
Thông qua công tác quản lý chất lượng của NHTM giúp khách hàng rút ngắn
được thời gian thẩm định và phê duyệt các khoản vay, tạo điều kiện cho khách hàng
kịp thời tiếp cận các cơ hội kinh doanh. Trên cơ sở đánh giá chất lượng từng khoản
vay giúp khách hàng có thể thỏa thuận với ngân hàng, đưa ra các điều kiện vay vốn
phù hợp như lãi suất, kỳ hạn, tài sản đảm bảo. Bên cạnh việc đánh giá chất lượng
các khoản vay của KH một cách thường xuyên, khi ngân hàng có cơ sở dữ liệu về
khách hàng sẽ tư vấn cho ngân hàng thực hiện phương án kinh doanh một cách hiệu
quả nhất.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng cho vay của NHTM
Để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM người ta dựa rất nhiều vào các
chỉ tiêu khác nhau. Trong luận văn này tác giả lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh đặc
trưng nhất về chất lượng tín dụng cụ thể như sau:
1.2.3.1. Chỉ tiêu phản ánh quy mô tín dụng
Doanh số cho vay: Phản ánh lượng vốn mà Ngân hàng cho doanh nghiệp vay
theo hợp đồng tín dụng, nó được tính bằng cách cộng tất cả khoản cho vay trong
hàng thương mại tại một thời điểm nhất định, thường là cuối quý hoặc cuối năm.
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
1.2.3.4. Tỷ lệ nợ xấu
Nợ quá hạn là chỉ tiêu không mong muốn, trên thực tế các ngân hàng luôn
giảm thiểu tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp nhất. Chỉ tiêu này phản ánh rõ nhất chất
lượng tín dụng của Ngân hàng. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn cao điều đó chứng tỏ khả năng
thu hồi nợ đúng hạn kém, Ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc đảm bảo khả năng
thanh toán, giảm thu nhập, nếu quá cao có thể dẫn đến phá sản. Nếu tỷ lệ nợ quá
hạn thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của Ngân hàng tốt, mức độ rủi ro thấp, chất
lượng tín dụng tốt nguyên nhân là do các khoản nợ luôn được trả đúng hạn. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một
ngân hàng. Bởi vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã
thực hiện tốt các khâu trong quy trình tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ
lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo
đúng quy định.Tỷ lệ nợ xấu
20
20
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ = Nợ xấu
Tổng dư nợ
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà
nước, các khoản dư nợ tín dụng khách hàng của ngân hàng được phân loại từ Nhóm
1 đến Nhóm 5, tương ứng với các loại Nợ đủ tiêu chuẩn (Nhóm 1), Nợ cần chú ý
(2), Nợ dưới tiêu chuẩn (3), Nợ nghi ngờ (4) và Nợ có khả năng mất vốn (5). Và
cũng theo điều 2 của quyết định này thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4
và 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ
chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của
ngân hàng, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng cho vay. Tỷ
lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên có thể là dấu hiệu cho
thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho