Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 1
LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật chuyên nghành Xây dựng Công trình thủy với đề
tài “Nghiên cứu và lựa chọn giải pháp xử lý nền móng trong xây dựng, ứng
dụng xử lý nền móng công trình Chung cư CT2 Ngô Thị Nhậm, quận Hà
Đông” được hoàn thành với sự giúp đỡ về mọi mặt và tạo điều kiện tốt nhất của
Đảng uỷ, Ban giám hiệu, phòng Đào tạo SĐH & ĐH, Khoa công trình cùng các
thầy giáo, cô giáo, các bộ môn, cán bộ công nhân viên phục vụ của Trường Đại
học Thuỷ lợi, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan và gia đình.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn
khoa học của luận văn, thầy giáo TS. Dương Đức Tiến đã trực tiếp hướng dẫn
và tận tình giúp đỡ trong thời gian thực hiện luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đối với các chuyên gia về cọc khoan nhồi
và tường Barrette đã góp ý, cho phép tham khảo các tài liệu liên quan đến lĩnh
vực nghiên cứu trong luận văn này.
Tác giả xin chân thành cám ơn Uỷ ban nhân dân phường Yết Kiêu (Nơi tác
giả công tác) đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập
công tác.
Sự thành công của luận văn gắn liền với quá trình giúp đỡ động viên nhiệt
tình từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Tác giả xin chân thành cảm ơn.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, do trình độ và điều kiện thời gian có hạn,
luận văn không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế. Tác giả rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp. Những
điều đó sẽ giúp ích rất nhiều cho cá nhân tác giả trong việc hoàn thiện và phát
triển nghề nghiệp của bản thân trong những giai đoạn tiếp theo của sự nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tác giả
2T2.5. Kết luận chương 2.2T 38
2TChương 3: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG LỰA CHỌN GIẢI PHÁP XỬ LÝ
MÓNG CHO CÔNG TRÌNH CHUNG CƯ CT2 NGÔ THỊ NHẬM, QUẬN
HÀ ĐÔNG
2T 40
2T3.1. Giới thiệu công trình chung cư CT2 Ngô Thì Nhậm.2T 40
2T3.2. Quy trình công nghệ thi công cọc khoan nhồi, tường barrette.2T 58
2T3.3. Giải pháp thi công tầng hầm.2T 76
2T3.4. Kết luận chương 3.2T 78
2TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ2T 79
2TTÀI LIỆU THAM KHẢO2T 81
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 3
DANH MỤC HÌNH VẼ, HÌNH ẢNH
2TChương 2:2T 11
2THình 2.1: Cấu tạo đoạn cọc BTCT2T 16
2THình 2.2: Cấu tạo các kiểu nối cọc2T 17
2THình 2.3: Các phương án nối cọc BTCT trong quá trình đóng2T 18
2THình 2.4: Các phương án nối cọc BTCT trong quá trình đóng2T 19
2THình 2.5: Cấu tạo cọc tròn đúc ly tâm2T 19
2THình 2.6: Các loại ván cừ thép2T 25
2THình 2.7: Ván cừ bằng bê tông cốt thép2T 25
2T 74
2THình 3.24: Đánh giá chất lượng cọc bằng phương pháp siêu âm2T 75 Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong hoàn cảnh hiện nay, nhà cao tầng ra đời là một hệ quả tất yếu của việc
tăng dân số đô thị, thiếu đất xây dựng và giá đất cao. Thể loại công trình này cho
phép có nhiều tầng hay nhiều không gian sử dụng hơn, tận dụng được mặt đất
nhiều hơn, chứa được nhiều người và hàng hoá hơn trong cùng một khu đất. Nhà
cao tầng có thể được xem là cỗ máy tạo ra của cải hoạt động trong nền kinh tế
đô thị.
Một bộ phận hết sức quan trọng trong các công trình xây dựng nói chung và
nhà cao tầng nói riêng là móng công trình. Một công trình bền vững có độ ổn
định cao, có thể sử dụng an toàn lâu dài phụ thuộc vào chất lượng móng công
trình. Cọc khoan nhồi và tường barrette là một trong những giải pháp móng
được áp dụng khá phổ biến đ
ể xây dựng nhà cao tầng trên thế giới và ở Việt
Nam vào những năm gần đây, bởi cọc khoan nhồi, tường barrette đáp ứng được
các đặc điểm riêng biệt của nhà cao tầng như:
- Tải trọng tập trung rất lớn ở chân các cột.
- Nhà cao tầng rất nhạy cảm với độ lún, đặc biệt là lún lệch vì lún sẽ gây tác
động rất lớn đến sự làm việc tổng thể của toàn bộ toà nhà.
- Nhà cao tầng thường được xây dựng trong khu vực đông dân cư, mật độ
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG
BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN MÓNG NHÀ CAO TẦNG Ở TRONG NƯỚC
VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Tổng quan lịch sử phát triển các phương pháp xử lý nền móng công
trình.
Móng là phần công trình kéo dài xuống dưới đáy mặt đất làm nhiệm vụ
chuyển tiếp giữa công trình bên trên với nền đất. Móng tiếp nhận tải trọng từ
công trình và truyền vào đất nền thông qua các phần tiếp xúc của nó với đất.
Thông thường, khả năng tiếp nhận tải trọng của các loại vật liệu công trình lớn
hơn của đất nền rất nhiều, do đó móng thường có kích thước mở rộng hơn so với
công trình bên trên để giảm tải trọng lên nền đến mức đất có thể tiếp nhận được.
Sự mở rộng này có thể theo bề ngang, theo chiều sâu hoặc cả hai hướng. Sự mở
rộng theo chiều ngang làm tăng diện tích tiếp xúc của đáy móng với đất nền do
đó làm giảm áp lực đáy móng, trong khi sự mở rộng theo chiều sâu làm tăng
diện tích mặt bên tiếp xúc với đất do đó làm tăng diện tích ma sát bên. Như vậy
móng là một bộ phận của công trình có nhiệm vụ đỡ công trình bên trên, tiếp
nhận tải trọng công trình và phân phối tải trọng đó vào đất nền thông qua phản
lực nền và ma sát bên. Móng thường có hai loại là móng nông và móng sâu :
- Móng nông: là loại móng truyền tải trọng công trình vào đất nền chủ yếu
thông qua diện tích tiếp xúc của đáy móng với đất do đó thường có kích thước
mở rộng theo phương ngang. Trong tính toán móng nông, ma sát bên của móng
với đất thường bỏ qua sự tồn tại của lớp đất trên mức đáy móng được thay thế
bằng tải trọng tương đương với tải trọng của bản thân đất. Móng nông có thể
được xây dựng cho riêng từng cấu kiện tiếp đất của công trình được gọi là móng
đơn, cho nhiều cấu kiện trong một hướng gọi là móng băng, cho trên cả hai
Trong xây dựng công trình việc lựa chọn dạng móng cọc hợp lý là một trong
những yếu tố then chốt quyết định đến độ an toàn, tin cậy và giá thành hợp lý
mang lại hiệu quả kinh tế. Cọc khoan nhồi được tạo ra bằng một quá trình nhiều
công đoạn gồm: Dùng thiết bị máy khoan, hạ lồng cốt thép vào trong lỗ khoan,
đổ bê tông tại chỗ để tạo thành cọc bê tông cốt thép. Cọc khoan nhồi có kích
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 8
thước mặt cắt, chiều dài cọc lớn (đường kính có thể đến 3m, chiều dài có thể dài
120m), chịu được tải trong ngang lớn.
So với các loại cọc khác thì cọc khoan nhồi thi công thuận lợi trong các
vùng gần công trình đã xây trước, trong khu đông dân cư, quá trình thi công ít
gây ảnh hưởng đến các công trình bên cạnh và không gây tiếng ồn lớn.
1.2. Phân tích điều kiện thi công nền móng công trình.
Hiện nay nhu cầu khai thác không gian dưới mặt đất trong xây dựng công
trình, nhất là ở các đô thị lớn, ngày càng nhiều do cần tiết kiệm đất đai và giá đất
ngày càng cao nên tìm cách cải tạo hoặc xây mới các đô thị của mình với ý
tưởng là triệt để khai thác và sử dụng không gian dưới mặt đất cho nhiều mục
đích khác nhau về kinh tế, xã hội xã hội
Các trạm bơm lớn, công trình thuỷ lợi hay thuỷ điện cũng cần đặt sâu vào
trong lòng đất các bộ phận chức năng của mình với diện tích đến hàng chục
ngàn mét vuông và sâu đến hàng trăm mét.
Việc xây dựng các loại công trình nói trên theo xu thế hiện nay dẫn đến xuất
hiện hàng loạt kiểu hố móng, biện pháp xử lý móng khác nhau mà để thực hiện
chúng người thiết kế và thi công cần có những biện pháp thi công để giữ thành
vách, công nghệ đào thích hợp về mặt kinh tế kỹ thuật – kinh tế cũng như an
toàn về môi trường và không gây ảnh hưởng xấu đến công trình lân cận đã xây
dựng trước đó.
Loại công trình xây dựng thường gặp hố móng và hào đào sâu như các toà
nghiêm ngặt.
Vì vậy việc lựa chọn giải pháp xử lý nền móng cho nền móng nhà cao tầng
đòi h
ỏi vừa đảm bảo yếu tố kinh tế và kỹ thuật, do nhà cao tầng thường có tải
trọng rất lớn, lại thường được xây dựng trong các đô thị đông dân cư nên lựa
chọn giải pháp để xử lý nền móng và biện pháp thi công nên móng quyết định sự
ổn định cũng như giá thành sản phẩm.
Phương pháp cọc khoan nhồi, tường barrette thường được áp dụng cho
những công trình có tải trọng lớn, có nhiều tầng hầm, mặt bằng thi công chật hẹp
do vậy lựa chọn dạng móng cọc hợp lý là một trong yếu tố then chốt quyết định
đến độ an toàn, tin cậy và giá thành hợp lý mang lại hiệu quả kinh tế.
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 10
1.3. Kết luận chương 1.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển các công trình xây dựng
có qui mô lớn, móng cọc ngày càng trở thành một hình thức móng sâu được
dùng nhiều cho công trình công nghiệp, nhà cao tầng, cầu đường, bến cảng … ở
những vùng đất yếu.
Cọc khoan nhồi và tường barrette là một trong những giải pháp móng được
áp dụng khá phổ biến để xây dựng nhà cao tầng trên thế giới và ở Việt Nam vào
những năm gần đây, bởi cọc khoan nhồi, tường barrette đáp ứng được các đặc
điểm riêng biệt của nhà cao tầng như:
+ Tải trọng tập trung rất lớn ở chân các cột.
+ Nhà cao tầng rất nhạy cảm với độ lún, đặc biệt là lún lệch vì lún sẽ gây tác
động rất lớn đến sự làm việc tổng thể của toàn bộ toà nhà.
+ Nhà cao tầng thường được xây dựng trong khu vực đông dân cư, mật độ
nhà có sẵn khá dày. Vì vậy vấn đề chống rung động và chống lún để đảm bảo an
toàn cho các công trình lân cận là một đặc điểm phải đặc biệt lưu ý trong xây
dựng loại nhà này.
trung du và miền núi.
Cọc gỗ (hoặc tre) có ưu điểm là tận dụng được vật liệu địa phương, biện
pháp thi công đơn giản, giá thành thấp, tiến độ thi công nhanh, thường được
người dân sử dụng để xử lý nền khi làm nhà ở.
2.1.2. Cọc thép.
Trong xây dựng hiện đại, cọc thép cũng được sử dụng nhiều cho các giải
pháp móng cọc. Cọc thép thường được chế tạo từ thép ống hoặc thép hình cán
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 12
nóng. Các đoạn cọc thép được nối hàn, chiều cao đường hàn phải theo qui định
của thiết kế.
- Đường kính cọc thép từ 16 – 150 cm.
- Độ dày thành ống từ 6 – 14 mm.
- Độ sâu đóng cọc: tùy theo đặc điểm công trình, cọc thép có thể đóng sâu
tới 50 m.
- Ưu điểm của cọc thép: trọng lương nhỏ; cọc bền và cứng, ít hư hỏng trong
quá trình vận chuyển và thi công; với các công trình móng cọc, sử dụng cọc thép
sẽ đẩy nhanh được tiến độ xây dựng. Tuy nhiên giá thành cọc thép lớn hơn
nhiều so với cọc bê tông, thiết bị dóng cọc phải chuyên dùng hơn, nên trước khi
sử dụng phải tính toán cụ thể để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Phạm vi sử dụng: Cọc thép được sử dụng trong xây dựng dân dụng và công
nghiệp, đặc biệt là các công trình cầu, bến bốc dỡ và cầu cảng.
2.1.3. Xử lý nền bằng cọc cát.
Cọc cát là một giải pháp xử lý nền được áp dụng phổ biến đối với các trường
hợp công trình có tải trọng không lớn trên địa tầng có dạng cơ bản với chiều dày
lớp đất yếu tương đối lớn.
Cọc cát có một số đặc điểm sau:
Có tác dụng làm cho độ rỗng, độ ẩm của nền giảm đi, trọng lượng thể tích,
môdun biến dạng, lực dính và góc ma sát trong tăng lên do vậy biến dạng của
+ Dự án xử lý nền các nhà kho chứa sét của nhà máy xi măng Cái Lân, thị xã
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Hiện nay hàng loạt các đường cao tốc
liên tỉnh đang sử dụng rất thành công
theo phương pháp này.
2.1.4. Xử lý nền bằng cọc xi măng đất (cọc trộn dưới đất sâu).
Cọc xi măng đất là một phương pháp mới dùng để gia cố nền đất yếu, nó sử
dụng xi măng, vôi … để làm chất đóng rắn, nhờ vào máy trộn dưới sâu để trộn
cưỡng bức đất yếu với chất đóng rắn (dung dịch hoặc dạng bột), lợi dụng một
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 14
loạt các phản ứng hoá học - vật lý xảy ra giữa chất đóng rắn với đất, làm cho đất
mềm đóng rắn lại thành một thể cọc có tính chỉnh thể, tính ổn định và có cường
độ nhất định.
Phương pháp này thích hợp với các loại đất được hình thành từ các nguyên
nhân khác nhau như đất sét bão hoà, bão hoà bùn nhão, đất bùn, đất sét và đất
sét bột … Độ sâu gia cố từ 50-:-60m nhưng lại hiệu quả nhất cho độ sâu gia cố
từ 15-:-20m và loại đất yếu khoáng vật đất sét có chứa đá cao lanh, đá cao lanh
nhiều nước và đá măng tô thì hiệu quả tương đối cao, gia cố loại đất tính sét có
chứa đá silic và hàm lượng chất hữu cơ cao, độ trung hoà pH tương đối thấp
thấp.
Cọc xi m
ăng đất được áp dụng rộng rãi trong xử lý nền móng và nền đất yếu
cho các công trình: Xây dựng giao thông, Thuỷ lợi, Sân bay, Bến cảng … làm
tường hào chống thấm cho đê đập, sữa chữa thấm mang cống và đáy cống, gia
cố đất xung quanh đường hầm, ổn định tường chắn, chống trượt cho mái dốc,
gia cố nền đường, mố cầu dẫn …
Phương pháp thi công nhanh, tiết kiệm thời gian thi công đến 50% do
không phải chờ đúc cọc và đạt đủ cường độ, kỹ thuật thi công không phức tạp,
2
P.
Ở Việt Nam hiện nay phương pháp xử lý nền bằng cọc đóng được dùng rất
phổ biến, nó được áp dụng cho những công trình có tải trọng không lớn, chiều
sâu lớp đất yếu không quá sâu như nhà dân có chiều cao < 5 tầng, móng trạm
bơm, cống tưới tiêu có qui mô lớn, móng cầu có tải trọng nhỏ…
Chính vì tính ưu việt của cọc bê tông cốt th
ép mà hiện nay ở Việt Nam có rất
nhiều Công ty sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn với chất lượng, kích cỡ rất đa
dạng.
Phương pháp tính toán đã được nhiều tổ chức, cơ quan viết các phần mềm
chuyên dụng để dùng tính toán cho cọc bê tông cốt thép đúc sẵn.
Biện pháp thi công, hiện nay có khá nhiều biện pháp thi công cọc bê tông cốt
thép đúc sẵn với các loại máy móc thiết bị đa dạng. Vì vậy việc thi công cọc bê
tông cốt thép đúc sẵn không gặp nhiều khó khăn, tốc độ thi công nhanh, đảm
bảo diều kiện kinh tế kỹ thuật.
Cọc đóng bê tông cốt thép là loại cọc được đúc sẵn. Mác bê tông từ 200 đến
350 tuỳ thuộc chiều dài, tiết diện cọc và yêu cầu thiết kế. Trong thực tế xây
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 16
dựng sử dụng nhiều nhất là loại cọc có tiết diện vuông, cấu tạo như trên hình
2.1. 0BHình 2.1: Cấu tạo đoạn cọc BTCT
Tiết diện cọc: 20x20, 25x25, 50x30, 35x35, 40x40 và 45x45 cm;
Đầu cọc đặt 5 lưới thép cách nhau 50 mm để chóng ứng suất cục bộ khi
đóng;
1BHình 2.4: Các phương án nối cọc BTCT trong quá trình đóng 2B
Hình 2.5: Cấu tạo cọc tròn đúc ly tâm
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 20
* Cọc tròn BTCT đúc lý tâm: Ngoài cọc tiết diện vuông ra, loại cọc tròn bê
tông cốt thép đúc ly tâm cũng được sử dụng nhiều trong thực tế xây dựng. Cấu
tạo của đoạn cọc bê tông cốt thép đúc ly tâm thể hiện trên hình 2.5.
Đường kính cọc 40 – 120 mm.
Chiều dài đoạn cọc 4 – 12 m.
Mũi cọc có khung thép gia cường và đầu mũi bịt thép lá.
Đầu cọc gia cường hai vòng đai xoắn để chống ứng suất cục bộ.
Bước các đai xoắn bố trí tương tự như ở cọc tiết diện vuông.
Cọc có thể nối hàn, nối bu lông.
Cọc có thể đóng sâu tới 60 m.
* Cọc BTCT ứng suất trước: Để hạn chế hiện tượng nước có thể thẩm qua
các khe nứt đó vào thân cọc làm gỉ cốt thép và phá hoại bê tông qua các khe nứt
nẻ hay xuất hiện khi vận chuyển và đóng cọc bê tông cốt thép người ta sử dụng
cọc bê tông cốt thép ứng suất trước. Do bê tông đã được nén trước, nên không
chịu ứng suất kéo, do đó không bị nứt nẻ. Ngoài ra còn giảm được lượng cốt
thép trong cọc bê tông. Cọc bê tông cốt thép ứng suất trước có thể đóng sâu tới
40 m.
* Ưu điểm:
- Ưu điểm rõ rệt của cọc ép là thi công êm, không gây chấn động tính kiểm
Hiện nay ở Việt nam có rất nhiều công ty mua lại các phần mềm tính toán
nê
n trong thiết kế việc lựa chọn các đơn vị tư vấn cũng rất phong phú.
Thiết bị thi công nhỏ gọn, nên có thể thi công trong điều kiện xây dựng chật
hẹp. Không gây ảnh hưởng bất kỳ nào đối với nền móng và kết cấu của các công
trình kế cận. Độ an toàn trong thiết kế và thi công cao.
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 22
Gía thành rẻ hơn các loại móng cọc bằng bê tông cốt thép nhờ vào khả năng
chịu tải trên mối đầu cọc cao nên số lượng cọc trong móng giảm, do đài cọc nhỏ
gọn nên tránh hiện tượng chịu tải trọng lệch tâm.
Tuy nhiên thi công cọc nhồi tạo nên môi trường sình lầy, dơ bẩn. Chất lượng
cọc tuỳ thuộc vào trình độ và công nghệ đổ bê tông cọc.
Ưu nhược điểm của khoan nhồi:
* Ưu điểm:
- Tạo được cọc bê tông cốt thép liền khối có tiết diện và độ sâu lớn, không
phải nối làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc của cọc.
- Sức chịu tải của cọc khoan nhồi rất cao. Là giải pháp hiệu quả về mặt kết
cấu và kinh tế cho móng nhà cao tầng, công trình đòi hỏi độ chịu lực cao.
- Thi công ít gây ảnh hưởng đến nền đất và công trình xung quanh (cọc đóng
và nén hay sinh ra trồi đất, nứt tường công trình lân cận).
- Giảm chi phí chế tạo và vận chuyển cọc so với phương án cọc đóng, hoặc
ép.
* Nhược điểm:
- Khó kiểm tra chất lượng cọc, chi phí kiểm tra chất lượng cọc cao.
- Cọc có nhiều khuyết tật, xác suất cọc bị hỏng cao: tiết diện không đều, bị
rỗ, bị đứt, bê tông lẫn bùn tạp chất do bị sập thành, lồng sắt bị tụt (VD: cầu
Thanh Trì thi công hơn 1000 cọc thì gần ½ số lượng là kém chất lượng và không
đạt yêu cầu).
Chí Minh đều nằm trên nền đất yếu. Vì vậy việc gia cố nền móng để có thể xây
dựng được công trình, đặc biệt là các công trình cao tầng trở nên cấp bách và
cần thiết chiều sâu xử lý lớn (H=30-:-60m) do đó cọc khoan nhồi thường được
Trường Đại Học Thủy Lợi Khuất Hữu Tuấn
Luận văn Thạc sĩ 24
lưạ chọn. Mặt khác, việc gia cố nền móng còn cho phép xây dựng các tầng hầm,
gara ôtô để tận dụng quĩ đất xây dựng ngày càng hạn hẹp. Đây là một vấn đề
rất cần sự nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế thi công của ngành xây dựng
trong những năm tới.
Một số phương pháp xử lý nền móng thường được dùng trong những năm
gần đây để xây dựng nhà cao tầng đã tỏ ra có hiệu quả và trong tương lai nó vẫn
được dùng rộng rãi, đó là phương pháp dùng cọc và tường trong đất.
Cọc dùng trong gia cố và thiết kế nền móng có rất nhiều loại, tùy theo điều
kiện thi công, địa chất công trình, thủy văn, địa hình, kinh tế mà lựa chọn cho
thích hợp.
Người ta có thể phân loại cọc theo nhiều cách khác nhau: theo mục đích sử
dụng, theo khả năng chịu lực, heo vật liệu, heo phương pháp thi công v.v
Theo mục đích sử dụng: cọc gia cố nền và cọc chịu lực (cọc của móng cọc).
Theo vật liệu chế tạo: cọc tre, cọc gỗ, cọc thép, cọc thép bê tông, cọc bê tông
cốt thép, cọc cát, cọc xi măng đất
Theo phương pháp thi công: cọc ép, cọc đóng (cọc đóng rung), cọc rung, cọc
vít, cọc nhồi (nhồi khô, nhồi ướt, cọc barrette)
Cọc barrette
là một loại cọc nhồi, thi công bằng thiết bị gầy đào hình chữ
nhật, có tiết diện rất đa dạng: chữ nhật, chữ T, chữ thập, chữ L, I, H, E, hình ba
chạc Y Cọc barrette có tiết diện thông dụng là hình chữ nhật với chiều rộng
0,6 – 1,5 m, chiều dài 2,2- 6 m và chiều sâu từ hàng chục đến hơn 100 m.
Khi thi công phần ngầm bằng phương pháp đào mở mà không có tường
trong đất thì phải dùng cừ đóng theo chu vi hố móng để chống thấm và bảo vệ