BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI LÊ THỊ GIANG
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG AN THẦN,
GIẢI LO ÂU THỰC NGHIỆM
CỦA CÂY XẤU HỔ
(MIMOSA PUDICA L., MIMOSACEAE) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2013 BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
môn Dược lực và Dược liệu đã quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn
thành khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy cô giáo cùng cán bộ trường
Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, mang lại cho tôi những kiến
thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo và các phòng ban khác
trong trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
tốt chương trình đào tạo tại trường.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự yêu thương và biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn
bè đã luôn bên tôi, ủng hộ tôi và là chỗ dựa tinh thần của tôi khi gặp khó khăn trong
học tập cũng như trong cuộc sống.
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2013
Sinh viên Lê Thị Giang
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………. 1
1.3.3 Thành phần hóa học…………………………………………….
1.3.4 Tác dụng dược lý tâm thần/thần kinh của xấu hổ……………
13
13
14
14
16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 20
2.1. Nguyên liệu, hóa chất và thiết bị…………………………………
2.1.1 Dược liệu xấu hổ và dịch chiết…………………………
2.1.2. Hóa chất, thuốc thử……………………………………
2.1.3. Động vật thí nghiệm……………………………………
18
18
20
21 2.1.4. Dụng cụ, thiết bị, máy móc………………………… …… 21
2.2. Nội dung nghiên cứu……………………………………………….
2.2.1 Đánh giá tác dụng giải lo âu của dịch chiết nước toàn phần của
dược liệu xấu hổ với các mức liều khác nhau………………………
2.2.2 Đánh giá tác dụng giải lo âu của các phân đoạn từ dịch chiết
nước xấu hổ…………………………………………………………
2.2.3 Đánh giá tác dụng giải lo âu của phân đoạn có tác dụng nhất
của xấu hổ ở các mức liều khác nhau………………………………
25
26
26
27
28
29
29
30
2.4. Xử lý số liệu
31 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
32
3.1. Tác dụng giải lo âu của dịch chiết nước toàn phần của dược liệu
xấu hổ với các mức liều khác nhau…………………………………….
36
37
38 38 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASD Acute stress disorder
Avoidance,
Avoid
Thời gian né tránh
Baseline Thời gian tiềm tàng nền
BZD Benzodiazepin
CHCl
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Tên Bảng
Trang
3.1
Tác dụng giải lo âu của diazepam và dịch chiết nước toàn
phần của dược liệu xấu hổ ở ba mức liều 1200 mg/kg; 2400
mg/kg và 4800 mg/kg.
32 3.2
Ảnh hưởng của clomipramin, các mức liều của dịch chiết
nước toàn phần của xấu hổ lên các thời gian baseline,
avoidance 1, avoidance 2, escape.
33
3.3
Tác dụng giải lo âu của diazepam, dịch chiết nước toàn phần
và các phân đoạn dịch chiết của dược liệu xấu hổ.
34
3.4
Tác dụng giải lo âu của diazepam và phân đoạn nước còn lại
của xấu hổ trên mô hình chữ thập nâng cao.
Quy trình chuẩn bị cắn chiết phân đoạn từ dịch chiết nước
của xấu hổ.
20
2.4 Dụng cụ chữ thập nâng cao. 22
2.5 Dụng cụ chữ T nâng cao. 22
2.6 Dụng cụ cho thí nghiệm bơi cưỡng bức. 23
2.7 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu. 24 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của xã hội, hiện nay có xu hướng ngày càng gia tăng
các rối loạn tâm thần như căng thẳng, stress, mất ngủ, lo âu, trầm cảm. Theo thống
kê của Viện sức khỏe tâm thần Hoa Kỳ (NIHM, 2008), rối loạn lo âu là loại rối loạn
tâm thần phổ biến nhất tại Mỹ, ảnh hưởng đến khoảng 40 triệu người (tương đương
18% dân số) gây hậu quả lớn về sức khỏe, tâm lý, kinh tế và chất lượng cuộc sống
cho bệnh nhân nói riêng và xã hội nói chung. Bên cạnh liệu pháp tâm lý, việc sử
dụng thuốc giải lo âu đóng vai trò quan trọng, chủ yếu bằng các thuốc có nguồn gốc
tổng hợp hóa dược như các dẫn chất của benzodiazepin, buspiron, các thuốc chống
trầm cảm ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin và thuốc chống trầm cảm 3 vòng
[23]. Tuy nhiên, hạn chế của việc sử dụng các thuốc tổng hợp này là tác dụng phụ,
tình trạng lệ thuộc thuốc, quen thuốc, hội chứng cai thuốc xảy ra khi dừng điều trị
và nguy cơ tương tác thuốc với nhiều nhóm thuốc khác. Vì vậy, một hướng tiếp cận
mới là nghiên cứu tìm ra và sử dụng các thuốc có nguồn gốc dược liệu có hiệu quả
và độ an toàn cao trong điều trị rối loạn lo âu như một liệu pháp bổ sung và thay thế
cho việc sử dụng các thuốc tổng hợp hóa dược [57].
Xấu hổ (Mimosa pudica L., họ Mimosaceae), là dược liệu phân bố ở nhiều nơi
trên thế giới: một số nước châu Á như Việt Nam, Ấn Độ; các nước Châu Phi, Châu
Cần phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý. Sự phân biệt này có thể dựa
trên các tiêu chuẩn như khả năng kiểm soát lo âu, cường độ, thời gian kéo dài và
hành vi kèm theo. Lo âu được xem như là bình thường khi phù hợp với tình huống
và mất đi khi tình huống đã được giải quyết. Lo âu bệnh lý là lo âu không có
nguyên nhân rõ rệt hoặc quá mức so với mong đợi, các triệu chứng thường nặng và
gây nhiều khó chịu, kéo dài dai dẳng, ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của
người bệnh và có thể kèm theo những ý nghĩ hoặc hành vi có vẻ quá mức hoặc vô lý
(như né tránh, hành vi cưỡng chế…). Trong khi lo âu bình thường có thể được điều
trị hiệu quả bằng cách trấn an hoặc liệu pháp tâm lý đơn giản thì bệnh nhân mắc lo
âu bệnh lý cần được khám toàn diện về cơ năng và tâm thần để được điều trị phù
hợp theo nguyên nhân.
Ngoài các rối loạn lo âu (RLLA) trong đó lo âu là triệu chứng quan trọng và
nổi bật nhất, lo âu còn gặp trong nhiều bệnh lý tâm thần và bệnh hệ thống khác.
Trầm cảm và lo âu thường đi kèm với nhau; khoảng 3/4 bệnh nhân trầm cảm có lo
âu kèm theo và trên 1/2 bệnh nhân lo âu có biểu hiện trầm cảm rõ rệt [27]. Nhiều
bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể cảm thấy lo âu dữ dội cũng như ở bệnh nhân
sảng hoặc sa sút tâm thần. Lo âu cũng có thể vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của
nghiện rượu hoặc nghiện ma túy. Nhiều bệnh hệ thống cũng kết hợp với lo âu, trong
4 trường hợp này lo âu là do các tác động sinh lý trực tiếp của bệnh hệ thống nhưng
cũng có thể do điều trị hoặc nhận thức tiêu cực của người bệnh về bệnh của mình.
1.1.2. Dịch tễ
Mặc dù đã được Sigmund Freud nghiên cứu từ gần một thế kỷ trước với tên
gọi loạn thần kinh lo âu (anxiety neurosis), cho đến nay RLLA vẫn luôn là một lĩnh
vực mới mẻ, thu hút quan tâm của nhiều nhóm nghiên cứu. Chỉ mới trong vòng vài
thập niên trở lại đây, các nhà khoa học và thầy thuốc thực hành đã xây dựng các tiêu
chuẩn chẩn đoán, đánh giá tỷ lệ của các RLLA khác nhau, hiểu được phần nào cơ
sở tâm lý - sinh học cũng như phát triển một số liệu pháp hóa dược và tâm lý có
- Rối loạn ám sợ khoảng rộng không có tiền sử rối loạn hoảng sợ
- Rối loạn ám ảnh xã hội (social phorbia)
- Rối loạn stress sau chấn thương (post-traumatic stress disorder, PTSD)
- Rối loạn stress cấp (acute stress disorder, ASD)
1.1.4. Sinh hóa thần kinh trong rối loạn lo âu
Các nghiên cứu sinh lý bệnh và dược lý tại thời điểm hiện tại đề xuất mối liên
quan của RLLA với 3 cơ chế chính [27]:
- Kiểu noradrenalin: lo âu, tăng nhạy cảm và phản ứng quá mức với các tác nhân
kích thích dẫn đến điều hòa xuống (down regulation) receptor
2
adrenergic trung
ương.
- Kiểu benzodiazepin: triệu chứng lo âu có thể do giảm hoạt động hệ GABA
A
, chất
dẫn truyền ức chế của thần kinh trung ương.
- Kiểu serotonin: các triệu chứng của rối loạn hoảng sợ liên quan đến sự thâm hụt
serotonin dẫn tới giảm hoạt động của con đường dẫn truyền serotonin.
Trong rối loạn lo âu toàn thể (GAD), hiệu quả điều trị của các benzodiazepin
và buspiron đã hướng các nghiên cứu sinh học vào các hệ thống dẫn truyền thần
kinh GABA và serotonin. Các benzodiazepin (chất chủ vận receptor benzodiazepin)
có tác dụng làm giảm lo âu trong khi flumazenil (chất đối kháng receptor
benzodiazepin) lại làm tăng lo âu. Mặc dù chưa có bằng chứng về sự bất thường của
các receptor benzodiazepin trong rối loạn lo âu toàn thể, một số nhà nghiên cứu đã
tập trung vào thùy chẩm là vùng có mật độ receptor benzodiazepin cao nhất trong
não; các vùng não khác được cho là có liên quan đến rối loạn lo âu toàn thể gồm:
6 các hạch đáy não, hệ viền và vỏ não thùy trán. Do buspiron là chất chủ vận receptor
gây ra các hoạt động giống hoảng loạn ở các bệnh nhân rối loạn hoảng loạn [27].
1.1.5. Điều trị rối loạn lo âu bằng thuốc hóa dược
Bên cạnh liệu pháp tâm lý, việc sử dụng các thuốc hóa dược đóng vai trò quan
trọng trong điều trị tất cả các thể lo âu. Ba nhóm thuốc giải lo chính sử dụng trong
7 điều trị bao gồm: thuốc chống trầm cảm, các benzodiazepin và các chất chủ vận
receptor 5-HT
1A
của serotonin [1][23][27].
Các thuốc chống trầm cảm ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin (SSRI)
- Thuốc sử dụng: fluoxetin, paroxetin, fluvoxamin, sertralin, citalopram,
escitalopram.
- Cơ chế: Ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin về bọc dự trữ ở tận cùng tế bào thần
kinh trước synap, làm tăng hoạt tính serotoninergic trung ương.
- Chỉ định điều trị lo âu: Các SSRI hiện là nhóm thuốc lựa chọn đầu tay trong
nhiều thể lo âu bao gồm: rối loạn ám ảnh cưỡng chế (fluvoxamin, paroxetin,
sertralin và fluoxetin), rối loạn hoảng loạn (paroxetin và sertralin), rối loạn ám ảnh
xã hội (paroxetin và sertralin), rối loạn stress sau chấn thương (paroxetin, sertralin
và fluoxetin) do hoạt phổ giải lo âu rộng và khả năng dung nạp tương đối tốt so với
các nhóm thuốc khác.
- Tác dụng không mong muốn: rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, tiêu chảy, chán ăn, đầy
bụng), rối loạn tình dục (giảm ham muốn, giảm cực khoái), rối loạn giấc ngủ, hội
chứng cai thuốc và tương tác thuốc (ức chế enzym chuyển hóa thuốc CYP2D6,
CYP2C19, gây hội chứng serotonin khi dùng cùng tryptophan, lithi, IMAO và các
thuốc chống trầm cảm 3 vòng).
Các thuốc chống trầm cảm ba vòng
- Thuốc sử dụng: imipramin, clomipramin, doxepin.
- Cơ chế: Ức chế tái thu hồi serotonin và noradrenalin về bọc dự trữ ở tận cùng tế
vòng, BZD khởi phát tác dụng rất nhanh, do đó thường được chỉ định phối hợp điều
trị với SSRI trong giai đoạn đầu.
- Tác dụng không mong muốn: an thần, tổn thương về nhận thức (khó tập trung,
giảm trí nhớ, quên thông tin mới), mất phối hợp vận động, suy hô hấp, lạm dụng
thuốc (tái phát, bật lại và hội chứng cai thuốc).
Chất chủ vận từng phần receptor 5-HT
1A
(buspiron)
- Chỉ định điều trị lo âu: Chỉ có hiệu quả trong điều trị rối loạn lo âu toàn thể. Do
khởi phát tác dụng chậm đồng thời không chắc chắn về hiệu quả chống tái phát khi
dùng lâu dài nên buspiron được coi là thuốc lựa chọn thay thế.
- Tác dụng không mong muốn: buồn nôn, chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, buồn ngủ
(lúc bắt đầu dùng thuốc), đôi khi gây rối loạn vận động, chứng máy cơ. Nhìn chung,
buspiron dung nạp tốt hơn so với BZD, ít gây bất lợi hơn trên đối tượng bệnh nhân
cao tuổi.
1.1.6. Sử dụng dược liệu trong điều trị rối loạn lo âu
Việc sử dụng các thuốc hóa dược trong điều trị RLLA hiện nay khá phổ biến.
Ưu điểm của các thuốc này là đã được chứng minh hiệu quả rõ rệt trên lâm sàng.
9 Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các thuốc có nguồn gốc hóa dược là các tác dụng
phụ, đặc biệt khi sử dụng kéo dài, khả năng lệ thuộc thuốc, hội chứng cai thuốc xảy
ra khi dừng điều trị và nguy cơ tương tác thuốc bất lợi với nhiều nhóm thuốc khác.
Vì vậy, sử dụng các thuốc và sản phẩm có nguồn gốc dược liệu hiện được coi là
hướng tiếp cận bổ sung và thay thế cho các thuốc có nguồn gốc hóa dược trong điều
trị rối loạn lo âu, đồng thời khắc phục những hạn chế của thuốc hóa dược. Nghiên
cứu của Kessler (2001) cho thấy 57% trong số 2055 bệnh nhân có RLLA được
phỏng vấn cho biết họ đã sử dụng dược liệu trong vòng 12 tháng trở lại để điều trị
các triệu chứng của RLLA [46].
cao ở chuột bình thường và ở chuột stress do cô lập và đã áp dụng để đánh giá tác
dụng của chế phẩm Sleepy care [11][12].
1.2. Mô hình dược lý đánh giá tác dụng giải lo âu của thuốc
Hiện nay, các mô hình động vật được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu tâm
thần kinh, cho phép nghiên cứu các cơ chế của hành vi cụ thể và sinh lý bệnh, trở
thành một phần không thể thiếu trong việc phát triển và đánh giá đáp ứng điều trị
của thuốc. Hơn nữa, việc sử dụng các mô hình này là điều kiện bắt buộc trong quá
trình thử nghiệm một hợp chất mới tác dụng lên hệ thần kinh trung ương (CNS).
Các mô hình lo âu trên động vật đã được phân loại theo tính chất của sự kích
thích và những đáp ứng gây ra và cho thấy rằng các tế bào thần kinh kiểm soát sự lo
lắng có thể khác nhau tùy thuộc vào việc phân tích tín hiệu kích thích là bẩm sinh
hay học được. Mô hình lo âu trên động vật được chia thành hai nhóm chính
[26][27]:
- Nhóm 1: liên quan đến phản xạ có điều kiện của động vật với việc thường xuyên
căng thẳng và đau đớn (Conditioned responses).
+ Mô hình xung đột (Conflict tests: Geller-Seifter conflict, Vogel conflict)
+ Thử nghiệm bốn tấm (Four-plate test)
+ Thử nghiệm phản ứng cảm xúc có điều kiện (Conditioned emotional response)
+ Mô hình kích thích điện não (Electrical brain stimulation)
+ Thử nghiệm gây sợ hãi (Fear-potentiated startle)
+ Thử nghiệm né tránh chủ động/thụ động (Active/passive avoidance)
- Nhóm 2: thử nghiệm quan sát hành vi liên quan đến các phản ứng bẩm sinh
(innate) hoặc tự phát (spontaneous) của động vật thí nghiệm. Dựa trên sự sợ hãi và
11 lo lắng khi đặt động vật vào điều kiện kích thích gây căng thẳng nhưng không liên
quan đến cảm giác đau hoặc sự khó chịu của động vật thí nghiệm.
+ Mô hình chữ thập nâng cao (Elevated plus maze, EPM), chữ T nâng cao (Elevated
T maze, ETM).
1.2.2. Mô hình chữ T nâng cao
Rối loạn lo âu rất đa dạng trong các biểu hiện cũng như trong đáp ứng điều trị.
Do đó, cần có một mô hình động vật để phân biệt các rối loạn lo âu khác nhau. Mô
hình chữ T nâng cao (Elevated T maze, ETM) là mô hình mới được phát triển để tạo
ra cả sợ hãi có điều kiện và không điều kiện ở chuột [61]. Nguyên tắc của mô hình
dựa trên tâm lý sợ hãi và lo lắng của động vật thử nghiệm với những khu vực hở và
cao, thái độ thăm dò, thích khám phá môi trường lạ; đồng thời thái độ tránh môi
trường đó khi tiếp xúc trở lại. Né tránh ức chế (inhibitory avoidance) - đại diện cho
sợ hãi được đo bằng cách ghi lại thời gian cần thiết để rời khỏi cánh tay kín trong ba
thử nghiệm liên tiếp. Khi được đặt ở đầu cánh tay kín, chuột sẽ không nhìn thấy
cánh tay mở và được tự do di chuyển khám phá mô hình, việc rời khỏi cánh tay kín
là một thử thách đối với động vật thử nghiệm do tích lũy cảm giác sợ hãi vốn có của
chúng đối với môi trường hở và cao của cánh tay mở. Điều này sẽ cho phép động
vật học cách tránh ức chế nếu lặp lại thí nghiệm như trên. Mặt khác, khi chuột được
đặt ở cuối của cánh tay mở, động vật có thể di chuyển về phía cánh tay kín để thực
hiện phản ứng chạy trốn (escape) [39]. Như vậy, nếu như né tránh ức chế từ cánh
tay mở được coi là biểu hiện của sự sợ hãi học được thì phản ứng chạy trốn khỏi
cánh tay mở sẽ đại diện cho sự sợ hãi bẩm sinh. Chuột được sử dụng thuốc giải lo
âu không còn lo âu, sợ hãi với những khu vực cao, hở mà thể hiện bản năng thăm
dò, thích khám phá môi trường lạ thể hiện qua việc làm giảm thời gian né tránh ức
chế (giảm thời gian chuột lưu lại tay kín) và tăng thời gian chạy trốn (tăng thời gian
chuột lưu lại tay mở trong thí nghiệm trốn thoát) [65]. Đây là mô hình hữu ích trong
việc đánh giá và phân biệt tác dụng chống rối loạn lo âu toàn thể và chống rối loạn
hoảng sợ của một thuốc [20][44][56][60][63]. Mô hình ETM đã được dùng đánh giá
tác dụng giải lo âu của một số dược liệu như Erythrina mulungu [53], Kielmeyera
coriacea Mart. [25], Hypericum perforatum L. (ban Châu Âu) [24]…
13 Cây nhỏ, mọc thành bụi lớn, cao 30-40 cm. Thân cành lòa xòa, có lông và gai
nhỏ. Lá kép chân vịt, mọc so le, có cuống dài, mang 4 nhánh lá chét xếp lông chim;
lá chét nhỏ ở gốc và đầu nhánh, to hơn ở phần giữa, tất cả đều cụp lại khi đụng phải.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá gồm rất nhiều hoa nhỏ xếp thành đầu tròn, màu tím hồng; đài
nhỏ hình đấu; tràng 4 cánh dính nhau ở nửa dưới; nhị 4, rất mảnh, bầu 4 noãn. Quả
thắt lại giữa các hạt, có nhiều lông cứng. Mùa hoa quả: tháng 6-8. Ở Việt Nam, xấu
hổ phân bố rải rác khắp nơi, từ đồng bằng đến miền núi có độ cao dưới 1000m [5].
1.3.2 Bộ phận dùng, thu hái, chế biến
- Phần trên mặt đất, thu hái vào mùa hè khi cây đang phát triển xanh tốt, cắt lấy
phần trên mặt đất, rửa sạch, phơi khô.
- Rễ đào quanh năm rửa sạch, thái mỏng, phơi khô [5].
1.3.3. Thành phần hóa học
* Các hợp chất vô cơ:
- Xấu hổ đã được biết đến như một loài cây có hàm lượng selen cao. Hàm lượng
selen trong cây có sự dao động lớn theo mùa và theo vùng thu hái. Cây xấu hổ mọc
ở các tỉnh khác nhau ở Việt Nam có hàm lượng selen khác nhau. Hàm lượng selen
trong một số mẫu thu hái ở Đà Nẵng là lớn nhất, những mẫu thu hái ở Hải Phòng,
Vĩnh Phúc (vùng đất chua) có chứa ít selen hơn những nơi khác [4]. Đặc biệt,
nghiên cứu mẫu xấu hổ được thu hái ở Đồng Nai không cho thấy sự có mặt của hợp
chất selen [13].
- Một số nguyên tố vô cơ khác cũng đã được xác định là có trong cả lá, thân và rễ
Xấu hổ: Al, Si, Mg, Ca, Fe, Mn, Ti, Cu, Pb, Na [13].
* Các hợp chất hữu cơ:
Các nghiên cứu về thành phần hóa học của Mimosa pudica (M. pudica) cho
thấy trong cây có mặt một số nhóm chất hữu cơ như: alcaloid, flavonoid, saponin,
tanin, sterol, các acid amin và acid hữu cơ [6][15][17].
- Alcaloid: Phần lớn các nghiên cứu đã phân lập được một alcaloid có tên là
mimosin. Chất này được tìm thấy trong cả rễ, lá, cành, tương tự như chất leucenin
OH
OH
OH
O
OH
O
HO
OH
O
O
CH
3
OH
OH OH
O
OH
OH
OH
7, 8, 3’, 4’ - tetrahydroxyl - 6 - C -
[alpha - L - rhamnopyranosyl - (1
→ 2)
beta - D - glucopyranosyl – flavon
5, 7, 4’ - trihydroxyl - 8 - C - [alpha - L
- rhamnopyranosyl - (1
→ 2) beta
- D -
glucopyranosyl - flavon
Hình 1.2 Công thức cấu tạo một số C - glycosyl flavonoid phân lập từ Mimosa
pudica L.
[5][16].
- Tác dụng chống co giật
+ Nghiên cứu của Ngo Bum và cộng sự cho thấy nước sắc lá xấu hổ có tác dụng
bảo vệ chuột chống lại các cơn co giật gây ra bởi pentylentetrazol (PTZ) và
strychnin, chống lại cơn động kinh gây ra bởi N-methyl-D-aspartate (NMDA) [51].
+ Cao nước xấu hổ đã được nghiên cứu có tác dụng làm giảm các cơn co giật, làm
chậm thời gian xuất hiện co giật và giảm tỷ lệ chết ở chuột nhắt trắng do cardiazol
[4][16].
- Tác dụng giải lo âu
+ Mbomo và cộng sự ghi nhận dịch chiết nước của M. pudica có tác dụng giải lo âu
trên mô hình chữ T nâng cao dựa trên quan sát hành vi ở chuột nhắt, chủ yếu là
hành vi né tránh ức chế [22].
+ M. pudica được sử dụng trong y học cổ truyền Cameroon để điều trị chứng mất
ngủ, động kinh, lo âu và kích động [52].