Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
62
GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
SOLUTIONS TO EXPAND FOREIGN EXCHANGE BUSINESS AT VIETNAM JOINT
STOCK COMMERCIAL BANK FOR INDUSTRY AND TRADE - DANANG BRANCH
SVTH: Trần Thị Thảo Nhi
Lớp 32k07.1, Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế
GVHD: PGS-TS Lâm Chí Dũng
Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế
TÓM TẮT
Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì hoạt động ngoại thương của nước ta thật sự khởi
sắc. Điều này đã làm cho thị trường kinh doanh ngoại tệ ngày càng trở nên sôi động và hấp dẫn
hơn đối với nhiều ngân hàng. Thêm vào đó, với xu hướng cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện
nay thì việc các ngân hàng chuyển mình sang các hoạt động phi truyền thống, đặc biệt là hoạt
động kinh doanh ngoại tệ, là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cấp thiết của thực tiễn. Thông qua tìm
hiểu về tình hình kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng Công Thương – Chi nhánh Đà Nẵng và khảo
sát nhu cầu sử dụng sản phẩm hối đoái phái sinh trong công tác phòng ngừa rủi ro tỷ giá, đầu
cơ… của các doanh nghiệp tại thành phố Đà Nẵng, bài viết muốn đề cập đến những thành quả
cũng như những hạn chế trong hoạt động này của chi nhánh trong thời gian qua và những tiềm
năng trong kinh doanh các sản phẩm hối đoái phái sinh. Để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
giúp ngân hàng mở rộng hoạt động này hơn nữa trong tương lai.
ABSTRACT
Since Vietnam participated in WTO, foreign trade activities of our country have prospered.
This makes the foreign currency market more active and attractive to a lot of banks. In addition to,
with the tendency of competing more violently among the banks, banks’ gradual transformation
from traditional activities into untraditional ones is totally suitable for pratical demands. After
researching the situation of trading foreign currency at Vietnam Joint Stock Commercial Bank for
Industry and Trade – Danang branch and surveying the businesses’ needs of using derivative
19,630 51.39 25,443 51.78 19,297 60.01
Tổng 38,199 100 49,137 100 32,157 100
Năm 2008Năm 2007
Chỉ tiêu
Năm 2009
(Nguồn: Phòng tổng hợp ngân hàng Công Thương – Chi nhánh Đà Nẵng)
Bảng 2: Doanh số bán ngoại tệ theo đối tượng
ST TT (%) ST TT (%) ST TT (%)
Khách hàng cá nhân 5,627 14.75 7,847 15.97 3,936 11.88
Tổ chức kinh tế 29,224 76.6 38,081 77.5 29,197 88.12
Ngân hàng Công
Thương Việt Nam
3,300 8.65 3,209 6.53 0 0
Tổng 38,152 100 49,557 100 33,133 100
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
(Nguồn: Phòng tổng hợp ngân hàng Công Thương – Chi nhánh Đà Nẵng)
Từ bảng 1 và 2 chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng nguồn cung ngoại tệ chủ yếu cho
chi nhánh là mua từ ngân hàng Công Thương Việt Nam và cầu ngoại tệ của chi nhánh phần
lớn là bán cho các tổ chức kinh tế hay là các doanh nghiệp nhập khẩu. Như vậy, do mất cân
đối giữa khách hàng xuất khẩu và khách hàng nhập khẩu nên buộc chi nhánh phải gia tăng
mua ngoại tệ từ ngân hàng Công Thương Việt Nam và việc nguồn cung ngoại tệ quá dựa
vào hội sở chính làm cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh mất đi tính tự chủ,
như thế là không hiệu quả chi nhánh cần tăng cường mua ngoại tệ từ dân cư và tổ chức
kinh tế nhiều hơn nữa. Đặc biệt vào năm 2009, khi nguồn cung ngoại tệ trở nên khan hiếm
- do doanh nghiệp và dân cư găm giữ ngoại tệ chờ tỷ giá lên nên không chịu bán cho ngân
hàng - làm cho doanh số mua và bán trong năm này giảm mạnh, thấp nhất trong 3 năm gần
đây.
Hoán đổi 1 0,8
Quyền chọn 0 0
Qua bảng 3, chúng ta có thể nhận xét rằng việc sử dụng các sản phẩm hối đoái phái
sinh trong thực tế còn gặp rất nhiều hạn chế (chỉ có 8/130 doanh nghiệp được hỏi có trả lời
đang sử dụng sản phẩm này). Và theo bảng 4 nguyên nhân chính của tình trạng là do tỷ giá
trong thời gian qua ít biến động và do doanh nghiệp không am hiểu lắm về sản phẩm này.
0 50,000 100,000 150,000
Giao ngay
Hoán đổi
38,199
0
0
0
49,137
0
0
0
32,157
0
0
0
2007 2008 2009
Hình 1: Doanh số mua ngoại tệ theo nghiệp vụ
0 50,000 100,000 150,000
Giao ngay
Kỳ hạn
Hoán đổi
phái sinh?”. Theo bảng 4 và 5 do doanh nghiệp không am hiểu nhiều về lĩnh vực này,
chính vì thế điều mà doanh nghiệp mong muốn nhất ở ngân hàng là hãy nâng cao sự hiểu
biết cho chính họ.
Bảng 5: Điều mà doanh nghiệp muốn ngân hàng làm để tạo điều kiện cho họ sử dụng
các sản phẩm hối đoái phái sinh
Giải pháp Số người Tỷ lệ (%)
Tổ chức hội thảo, hội nghị 59 48.4
Giảm mức ký quỹ/phí 10 8.2
Nhân viên ngân hàng tư vấn 45 36.9
Khác 8 6.6
Tổng 122 100
Theo quan điểm Marketing, bí quyết chính giúp ngân hàng có thể gia tăng được lợi
nhuận chính là hiểu và thỏa mãn được những mong đợi của khách hàng. Do đó khi thỏa
mãn được những mong đợi trên thì nhu cầu về sản phẩm phái sinh là khá cao (theo bảng
6).
Bảng 6: Nhu cầu về sản phẩm hối đoái phái sinh của doanh nghiệp.
Ý kiến Số người Tỷ lệ (%)
Muốn sử dụng 79 64,8
Không muốn sử dụng 13 10,7
Chưa quyết định 30 24,6
Tổng 122 100
2.3. Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng ngân hàng Công
Thương – Chi nhánh Đà Nẵng
Kết quả đạt được
- Với lợi thế về uy tín cũng như thâm niên lâu năm trong lĩnh vực này đã tạo lợi thế
cho chi nhánh trong việc thu hút và duy trì mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp, đặc biệt
là những doanh nghiệp lớn.
- Quy trình nghiệp vụ rõ ràng, đơn giản tạo điều kiện cho doanh nghiệp giao dịch
nghiệp phải cam kết bán lại nguồn USD thu về từ hợp đồng xuất khẩu cho ngân hàng ngân
hàng Công Thương – Chi nhánh Đà Nẵng theo tỷ giá tại thời điểm giải ngân (Chính sách
ưu đãi ở đây có thể là lãi suất và điều kiện vay vốn)
- Đối với doanh nghiệp nhập khẩu thì họ lại có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán
tiền hàng cho đối tác nước ngoài. Chính vì vậy, trong điều kiện khan hiếm ngoại tệ như
hiện nay thì chi nhánh cần đẩy mạnh cho vay USD với lãi suất ưu đãi nhằm thu hút và lôi
kéo được họ.
2.4.2. Thứ hai, là giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm hối đoái phái sinh. Như chúng
ta đã biết, những điều kiện để phát triển sản phẩm hối đoái phái sinh là tỷ giá phải biến
động theo một biên động lớn và ngẫu nhiên, tiếp đến nhân viên kinh doanh ngoại tệ phải
có trình độ chuyên môn cao và cuối cùng ngân hàng phải có những trang thiết bị hiện đại
để có thể cập nhập nhanh trước những thay đổi chóng mặt của thị trường. Do đó, tác giả
có một số đề xuất sau:
- Về chính sách Marketing: Theo kết quả khảo sát đã thực hiện ở mục 2.2 thì