Vai trò của E.coli và Salmonella Spp trong hội chứng tiêu chảy trên bê hướng sữa tại công ty cổ phần thực phẩm sữa TH - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VŨ THỊ LÊ NA
VAI TRÒ CỦA E.COLI VÀ SALMONELLA SPP
TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY TRÊN BÊ HƯỚNG SỮA
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM SỮA TH CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LẠI THỊ LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tôi thực hiện. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong công trình nghiên cứu nào
khác.Các tài liệu trích dẫn đều được ghi tên tác giả và tên tài liệu trích dẫn trong

đồng nghiệp và bạn bè thông cảm, góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 30 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn Vũ Thị Lê Na
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy 3
1.2 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy. 4
1.2.1 Do vi sinh vật 4
1.2.2 Những nguyên nhân khác 8

tiêu chảy. 44
3.5 Đặc tính sinh hóa học của vi khuẩn E.coli và Salmonella spp. 48
3.5.1 Đặc tính sinh học các chủng E.coli phân lập được. 48
3.5.2 Đặc tính sinh học các chủng Salmonella spp phân lập được. 50
3.6 Xác định serotype các chủng Salmonella spp phân lập được 53
3.7 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli và
Salmonella spp phân lập được. 54
3.7.1 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được. 54
3.7.2 Tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng Salmonella spp phân lập được. 55
3.8 Kết quả điều trị tiêu chảy ở trên bê. 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 67

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHI : Brain Heart Infusion
EMB : Eosin Methylene Blue Agar
TSI : Triple Sugar Iron
CFU
HCTC
E.coli
AEEC
ETEC
LT

Escherichia coli
Adherencia Enteropathogenic E.coli
Enterotoxigenic E.coli
Labile Heat Toxin
Stable Heat Toxin
Clostridium perfringens
lypopolysacharide
vi khuẩn
cộng sự
Polymerase Chain Reaction
Rough
Smooth
Mucoid

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Bảng tiêu chuẩn phân tích kết quả đường kính vòng vô khuẩn 37
3.1 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ bê tiêu chảy và chết do tiêu chảy. 38
3.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ bê tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo độ tuổi 39
3.3 Số lượng vi khuẩn E.coli trong phân bê bình thường và bê tiêu chảy. 43
3.4 Số lượng vi khuẩn Salmonella spp trong phân bê thường và phân bê
tiêu chảy. 45


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Tổng đàn bò sữa của nước ta đã tăng từ 41000 con năm 2001 lên trên 158
366 000 con năm 2012. Tổng sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm tăng trên 6 lần
từ 64 000 tấn năm 2001 lên trên 381 000 tấn năm 2012 (Tống Xuân Chinh, 2012).
Chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã và đang được đầu tư phát triển từ các chương trình
quốc gia. Từ các dự án giống, nguồn gien bò sữa cao sản đã được nhập nội góp
phần nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò.
Chăn nuôi bò sữa là một nghề có hiệu quả kinh tế cao nhưng là một nghề
mới ở Việt Nam, người chăn nuôi vẫn còn ít kinh nghiệm nên còn nhiều khó khăn,
năng suất thấp và chất lượng sữa chưa cao. Quy mô chăn nuôi bò sữa còn nhỏ,
phương thức chăn nuôi còn hạn chế, nguồn thức ăn chủ yếu tận dụng, nông dân
chưa có điều kiện để áp dụng khoa học công nghệ cao vào phát triển chăn nuôi.
Thời tiết và khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ở Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho dịch
bệnh phát triển. Đây là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng chủ yếu đến
hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò sữa.
Hội chứng tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý phức tạp do nhiều nguyên
nhân, hậu quả của nó bao giờ cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường
tiêu hóa và cuối cùng là một “quá trình nhiễm trùng” (Roeder, 1987; Hồ Văn Nam,
1985). Theo Lê Minh Chí (1995) hội chứng tiêu chảy trầm trọng ở gia súc non, phổ
biến khắp ở các vùng sinh thái nước ta, đặc biệt là ở bê nghé 70-80% tổn thất nằm
trong thời kỳ nuôi dưỡng bằng sữa và 80-90% trong số đó là hậu quả của hội chứng
tiêu chảy.
Đến nay, hội chứng tiêu chảy ở gia súc còn được khẳng định xuất hiện gắn
liền với các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, gây ra bởi vi khuẩn: Hội chứng tiêu

chảy trên bê do vi khuẩn E.coli, Salmonella spp gây ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy bê là một bệnh phổ biến đã và đang gây thiệt hại lớn
cho ngành chăn nuôi. Hội chứng tiêu chảy gây chết với tỷ lệ thấp nhưng tác hại của
nó làm biến đổi cấu trúc niêm mạc ruột non dẫn đến giảm khả năng hấp thu thức ăn
làm cho bê còi cọc, tăng tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng. Nguy hiểm hơn,
nguyên nhân của hội chứng tiêu chảy rất phức tạp đã gây ra sự nhầm lẫn trong chẩn
đoán và điều trị. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, hội chứng tiêu chảy là một hiện
tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa có liên quan đến rất nhiều các yếu tố, có yếu tố là
nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát. Xuất phát từ nguyên
nhân hay triệu chứng lâm sàng căn cứ vào đặc điểm, thời gian hoặc tính chất của
bệnh mà có các tên gọi khác nhau: hội chứng tiêu chảy, bệnh tiêu chảy không nhiễm
trùng, bệnh tiêu chảy ở gia súc sơ sinh, bệnh phân sữa…
Các nghiên cứu bệnh lý tiêu chảy ở gia súc cho thấy biểu hiện bệnh lý chủ
yếu là mất nước và chất điện giải, cuối cùng con vật bị trúng độc, kiệt sức và chết.
Vì vậy, trong điều trị hội chứng tiêu chảy việc bổ sung nước và chất điện giải là yếu
tố cần thiết.
Đối với gia súc non, tỷ lệ chết do hội chứng tiêu chảy tương đối cao. Theo

nhiều loại vi khuẩn như: E.coli, Salmonella spp, Shigella… khu trú ở dạng một hệ
sinh thái. Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng
có lợi cho cơ thể vật chủ. Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi
mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng. Dưới tác động của các yếu tố
gây bệnh, trạng thái cân bằng bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là gia súc bị
tiêu chảy.
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh: khi gặp
điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính,
phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh.
Trịnh Văn Thịnh (1964), Vũ Văn Ngữ (1979) và Trương Quang (2005) cho
rằng do một số tác nhân nào đó, trạng thái cân bằng của hệ sinh thái đường ruột bị
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản lên quá nhiều sẽ sinh ra hiện tượng
loạn khuẩn. Loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh đường tiêu
hóa và đặc biệt là hội chứng tiêu chảy.
Vi khuẩn đường ruột như E.coli, Salmonella spp, Shigella… luôn là những
nguyên nhân gây ra rối loạn về tiêu hóa, viêm ruột và tiêu chảy ở người và nhiều
loài động vật.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996), E.coli chiếm tỷ lệ cao nhất (45,6%) trong
số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy. Trong khi vi khuẩn yếm khí Cl.
perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành vai trò chính.
Hồ Văn Nam và cs (1997), Archie (2001) khẳng định rằng vi khuẩn đường
ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy.
Theo Nguyễn Ngã và cs (2000), thành phần vi khuẩn trong phân bê, nghé bị
tiêu chảy tập trung có 4 loại chính: E.coli, Salmonella spp, Shigella, Klebsiella,
trong đó chủ yếu là E.coli và Salmonella spp có tỷ lệ nhiễm tương ứng là (72,48%
và 51,32%).
Nghiên cứu của Vũ Đạt và Đoàn Thị Băng Tâm (1995) cho thấy trâu, nghé

Rotavirus thường gây ra hội chứng tiêu chảy cho lợn, bò và người. Lợn con
từ 1 đến 6 tuần tuổi thường hay mắc với các biểu hiện lâm sàng kém ăn, bỏ ăn, tiêu
chảy nhiều lần trong ngày gầy sút do mất nước và nằm bẹp ở một chỗ. Giai đoạn
cuối con vật biểu hiện thiếu máu, trụy tim mạch và chết.
Lecce (1976), Nilson (1984) đã xác định vai trò của Rotavirus trong hội
chứng tiêu hóa ở lợn. Khoon Teng Huat (1995) đã thống kê được 11 loại virus có
tác động làm tổn thương đường tiêu hóa gây viêm ruột ỉa chảy như Adenovirus type
IV, Enterovirus, Rotavirus
Theo Bergenland (1992) trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước
và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại virus: 29% phân lợn tiêu chảy
phân lập được Rotavirus trong khi TGE, Enterovirus và Parvovirus có tỷ lệ phân lập
lần lượt là 11,2%; 2% và 0,7%.
Ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân
gây ra hội chứng tiêu chảy. Ngoài tác động lấy đi chất dinh dưỡng của vật chủ, ký
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

sinh trùng còn làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa. Đây là cơ hội cho các vi
sinh vật có hại gây nhiễm trùng.
Gia súc bị mắc bệnh do giun tròn gây ra có biểu hiện gầy yếu, ăn uống kém,
da và niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu, tiêu chảy ở mức độ trung bình, không liên
tục (Phạm Ngọc Thạch, 1998).
Phan Địch Lân (1994, 2004), theo dõi 37 trâu bị sán lá gan nặng thấy có
triệu chứng gầy rạc, suy nhược cơ thể, phân lỏng không thành khuôn, có khi ỉa lỏng
(32/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37).
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006), các loại ký sinh trùng gây tiêu chảy
cho trâu bò thường gặp là Nematode, Strongyloides, Ascarissuum, Fasciola
herpatica. Qua việc nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán của trâu bò: Nguyễn Thị
Lan Anh và cs (2000) cho biết: Trâu bò thường bị nhiễm giun sán đường tiêu hóa từ

tố gây ảnh hưởng nhiều nhất tới sức khỏe đàn vật nuôi. Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ
thống điều hòa thân nhiệt ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề
kháng, khi đó hệ vi sinh vật đường tiêu hóa có điều kiện thuận lợi tăng số lượng,
độc lực và gây bệnh.
Theo các tác giả Niconxki (1986), Sử An Ninh (1993), Hồ Văn Nam và cs
(1997), khi gia súc chịu lạnh ẩm kéo dài hệ miễn dịch suy giảm do đó gia súc dễ bị
vi khuẩn cường độc gây bệnh.
Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa
phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng nghi còn yếu (Đoàn Thị Kim Dung, 2004).
Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi. Việc
thực hiện đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đem lại sức khỏe và sự tăng
trưởng cho gia súc. Khi chất lượng thức ăn thấp kém, chuồng trại không đảm bảo,
kỹ thuật nuôi chăm sóc không phù hợp là nguyên nhân làm giảm sức đề kháng gia
súc dễ mắc bệnh.
Theo nghiên cứu Trịnh Văn Thịnh (1885) và Hồ Văn Nam (1997), khẩu
phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

chất lượng như: mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dẫn đến rối
loạn tiêu hóa kèm theo viêm ruột ỉa chảy ở gia súc.
Thay đổi thức ăn đột ngột, đặc biệt là tăng hàm lượng đạm và chất béo
thường làm cho bê, nghé rối loạn tiêu hóa dẫn đến viêm ruột (Phạm Sỹ Lăng và cs,
2002; Laval, 1997); thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia
súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của
gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy.
Như vậy, có thể nói hội chứng tiêu chảy của bê, nghé là một hội chứng bệnh
lý rất phức tạp ở đường tiêu hóa, do nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố tác động.

Theo Sokol (1981), vi khuẩn E.coli thường trực trong đường ruột trở thành vi
khuẩn gây bệnh vì trong quá trình sống vi khuẩn có thể tiếp nhận các yếu tố gây
bệnh, bao gồm các yếu tố dung huyết (Hly), yếu tố cạnh tranh (Colv) và các yếu tố
bám dính. Có 5 yếu tố bám dính gồm F4 hay còn gọi là K88 (K88ac, K88ab,
K88ad); F5 hay còn gọi là K99; F6 hay còn gọi là 987P. Loại kháng nguyên F4 cho
phép vi khuẩn có khả năng bám dính vào tế bào biểu mô của toàn bộ ruột
non. Kháng nguyên F5, F6 chỉ kết dính ở tế bào biểu mô phần giữa và phần sau của
ruột non. Các kháng nguyên F4 và F6 chỉ có ở vi khuẩn E.coli gây bệnh trên lợn, F5
chủ yếu ở vi khuẩn E.coli gây bệnh trên bê. Các yếu tố gây bệnh này không được di
truyền bằng ADN của nhiễm sắc thể mà di truyền bằng ADN nằm ngoài nhiễm sắc
thể được gọi là plasmid. Qua hiện tượng di truyền bằng tiếp hợp, chính yếu tố gây
bệnh này giúp cho vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao của ruột non, xâm
nhập vào thành ruột. Từ đây, vi khuẩn thực hiện các quá trình gây bệnh và sản sinh
độc tố, gây phá hủy tế bào niêm mạc ruột, gây dung huyết, nhiễm độc huyết. Felix
B (1983) cho rằng plasmid mang mã thông tin ngoài nhiễm sắc thể của vi khuẩn.
Mã di truyền này có cấu trúc ADN hình tròn hai nhánh xoắn, có khả năng tái sinh.
Thông qua plasmid, vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh, kháng tia tử ngoại và
có khả năng tạo colicin.
Tại Iraq, Abdul-rudha và cộng sự (1984) cho biết khi nghiên cứu 103 bê bị
tiêu chảy đã thấy 41 chủng E.coli gây bệnh phân lập được thuộc 12 nhóm kháng
huyết thanh khác nhau, trong dó chủ yếu là O9 và O20 và kháng nguyên K99. Acres
(1985) nghiên cứu nhiễm khuẩn E.coli ở bê sơ sinh đã khẳng định: hội chứng tiêu
chảy do Enterotoxigenic E.coli (ETEC) là bệnh nhiễm khuẩn của bê xảy ra từ ngày
đầu sau sinh. ETEC gây bệnh có độc lực giúp chúng phát triển ở ruột và tạo ra
Enterotoxin.
Gunther và cộng sự (1985) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi gia súc đối với
tiêu chảy của bê do vi khuẩn E.coli gây ra, đã khẳng định sức đề kháng của bê đối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

bê và gần 90% gia súc cảm nhiễm là sơ sinh, tuổi trung bình là 11,8 ngày xuất hiện
hiện tượng viêm này.
Faibrother (1992) phân loại E.coli theo những yếu tố gây bệnh mà chúng có
sản sinh bao gồm: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enterotoxinnic E.coli (ETEEC),
Enterotopathogenic E.coli (EPEC), Verotoxigenic E.coli(VTEC), Adherence
Enterotopathogenic E.coli (AEEC) từ đó xác định các serotype mang các yếu tố gây
bệnh đặc trưng cho từng loại vi khuẩn trên từng nhóm gia súc khác nhau.
Blanco (1993) đánh giá vai trò của: ETEC, VTEC, Necrotoxigenic (NTEC)
của vi khuẩn E.coli trên bò mắc tiêu chảy và cho rằng bò là nguồn mang VTEC và
gây bệnh cho con người. Nghiên cứu của Cray (1995) cho thấy sự thải hồi của độc
tố E.coli O157:H7 có thể được tìm thấy ở phân.
Martins và cs (2000) phát hiện các chủng vi khuẩn E.coli kháng thuốc với tỷ
lệ và mức độ cao, có đến 50,5% số chủng đã kháng lại ít nhất một loại kháng sinh
và 20,87% số chủng kháng lại hai hay nhiều hơn các loại kháng sinh khác nhau.
1.3.2. Nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hội chứng tiêu chảy do vi sinh vật đặc biệt là E.coli và
Salmonella spp gây ra ở bê, nghé xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả
nước. Bệnh đã và đang gây thiệt hại nghiêm trọng cho chăn nuôi trâu bò ở tất cả các
phương thức và quy mô chăn nuôi. Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu bệnh tiêu chảy ở
bê, nghé do vi khuẩn E.coli và Salmonella spp. Nguyễn Như Thanh và cộng sự
(1997); Cù Hữu Phú và cs (1996-2000) nghiên cứu phân lập vi khuẩn từ những gia
súc mắc hội chứng tiêu chảy cho thấy tỷ lệ phân lập vi khuẩn E.coli cao 85-100%,
tiếp theo vi khuẩn Salmonella spp và Streptococus.
Theo Phạm Quang Phúc (2003), khi nghiên cứu tỷ lệ chết của bê, nghé mắc
tiêu chảy tỷ lệ nghịch với tuổi của bê, nghé. Tỷ lệ chết cao hơn vào vụ đông xuân.
Ngoài ra, yếu tố địa lý cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ chết. Tác giả cũng xác định các
serotype O101, O9, O20 và O8 trong 213 chủng E.coli phân lập được .

thường, các chủng vi khuẩn E.coli không gây bệnh, khi điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng, vệ sinh thú y kém, điều kiện ngoại cảnh bất lợi, dẫn đến sức đề kháng của
con vật giảm thì vi khuẩn E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh.
Đặc điểm hình thái
Theo Bergeys (1957), vi khuẩn E.coli là một trực khuẩn ngắn, kích thước 2-
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

3x0,6 µm, có hai đầu tròn, có lông nên đa số di động được, một số không có khả
năng di động. Vi khuẩn E.coli không hình thành nha bào, có thể có giáp mô, bắt
màu gram âm. Trong cơ thể gia súc, vi khuẩn có hình cầu riêng rẽ, đôi khi xếp
thành chuỗi ngắn. Dưới kính hiển vi điện tử, thấy những Pili yếu tố mang kháng
nguyên bám dính của vi khuẩn E.coli.
Đặc tính nuôi cấy
E.coli là trực khuẩn hiếu khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 5-40
o
C,
nhiệt độ thích hợp là 37
o
C trong 24 giờ, pH thích hợp là 7,2-7,4 nhưng có thể phát
triển ở pH 5,5-8. Vi khuẩn phát triển mạnh trên môi trường nuôi cấy thông thường.
Một số chủng có thể phát triển được ở môi trường tổng hợp đơn giản:
- Trên môi trường nước thịt: sau thời gian nuôi cấy ở 37
o
C trong vòng 24
giờ, vi khuẩn E.coli phát triển rất nhanh, môi trường rất đục, có cặn màu tro trắng
nhạt lắng xuống đáy, đôi khi hình thành màng mỏng xám nhạt trên bê mặt môi
trường, môi trường có mùi phân thối.
- Trên môi trường thạch thường, bồi dưỡng ở 37
o

- Trên môi trường thạch Brilliant Green Agar: sau 24 giờ nuôi cấy ở 37
o
C vi
khuẩn hình thành khuẩn lạc dạng S (Smooth), màu vàng chanh.
Vi khuẩn không mọc lên ở các môi trường Malasit, Mulerkauffmann, khó
mọc trong môi trường Wilson Blair.
Đặc tính sinh hóa
E.coli có khả năng lên men sinh hơi các loại đường Glucose, Fructose,
Glactose, Lactose, Maniton, Mannit, Levulose, Xylose. Có thể lên men với các loại
đường Dulciton, Sacarose trong khi đó vi khuẩn Salmonella spp thì không có đặc
tính này, đây là điểm quan trọng để phân biệt vi khuẩn E.coli và Salmonella spp
Nguyễn Như Thanh và cộng sự (1997).
Các phản ứng sinh hóa: Làm đông vón sữa sau 24 giờ đến 72 giờ ở nhiệt độ
37
o
C. Không làm tan chảy Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng đông; H
2
S âm tính,
VP âm tính, MR dương tính, Indol dương tính.
Hoàn nguyên nitrat thành nitrit, khử cacboxyl trong môi trường lysine
decacboxylase, có các men cacboxylaza với lyzin, dinitin, acginin, glutanic.
Sức đề kháng
Vi khuẩn E.coli không hình thành nha bào nên có sức đề kháng yếu, chết ở
nhiệt độ 55
o
C trong vòng một giờ, ở 100
o
C thì chết ngay. Những chủng vi khuẩn
E.coli trong phân có xu hướng đề kháng cao hơn những chủng được phân lập từ môi
trường bên ngoài. Ở môi trường bên ngoài, các chủng vi khuẩn E.coli gây bệnh có

Theo Medearis (1968), khi làm mất dần từng phân tử đường của chuỗi
polysacharide hay thay đổi vị trí của các phân tử này sẽ dẫn đến thay đổi độc lực
của vi khuẩn. Tất cả kháng nguyên O đều hiện diện ở bề mặt, do vậy có thể kết hợp
trực tiếp với hệ thống miễn dịch. Khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra
phản ứng nhưng kết gọi là “ Hiện tượng ngưng kết O”. Thân vi khuẩn ngưng kết với
nhau dưới dạng những hạt khô, rất khó tan khi lắc.
Kháng nguyên H (flagellar – kháng nguyên lông).
Kháng nguyên H được cấu tạo bởi thành phần lông vi khuẩn, có bản chất
protein giống như chất myosin của cơ và mang các đặc tính sau:
Bị phá hủy ở 60
o
C trong 1 giờ. Dễ bị cồn, acid yếu và các enzym phân giải
protein phá hủy. Kháng nguyên H vẫn tồn tại khi sử dụng formol 0,5% xử lý.
Khi gặp kháng thể tương ứng sẽ xảy ra hiện tượng ngưng kết, trong đó lông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

của các vi khuẩn dính lại với nhau. Các kháng thể kháng H cố định trên lông và là
cầu nối với các lông bên cạnh. Kết quả tạo ra các hạt ngưng kết giống như hạt bông
nhỏ. Các hạt ngưng kết rất dễ tan khi lắc vì các lông rất nhỏ và dài, dễ đứt. Các vi
khuẩn di động khi gặp kháng thể tương ứng và sẽ trở thành không di động. Kháng
nguyên H của E.coli không có vai trò bám dính, đáp ứng miễn dịch nên ít được
quan tâm nghiên cứu nhưng có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định giống, loài của vi
khuẩn và bảo vệ vi khuẩn không bị tiêu diệt trong tế bào đại thực bào, giúp vi khuẩn
tồn tại trong đại thực bào Weinstein (1984).
Kháng nguyên K (Capsular – kháng nguyên bề mặt)
Còn gọi là kháng nguyên bề mặt bao quanh vi khuẩn và có bản chất là
polysacharide. Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất, có quan điểm
cho rằng nó không có ý nghĩa về độc lực, vì vậy chủng E.coli có kháng nguyên K
cũng giống như chủng không có kháng nguyên K (Orskov, 1980) cũng có ý kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status