ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THẢO
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI MÔ HÌNH HỢP TÁC
TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
THANH HÓA (1986 – 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội-2010
3
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng biểu 4
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14
4. Nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu 15
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 16
6. Đóng góp của luận văn 18
7. Kết cấu của luận văn 18
CHƯƠNG 1 19
MÔ HÌNH HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THANH
HÓA TRƯỚC 1986 19
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hóa 19
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 19
1.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội 21
1.1.2.1. Dân số và lao động 21
1.1.2.2. Cơ sở vật chất – kĩ thuật 21
1.2. Xây dựng và phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn
Thanh Hóa trước đổi mới 23
(1997 – 2010) 78
3.1. Sự ra đời của Luật Hợp tác xã 78
3.1.1. Sự ra đời của Luật Hợp tác xã năm 1996 78
3.1.2. Sự ra đời của Luật HTX năm 2003 85
3.2. Chuyển đổi Hợp tác xã nông nghiệp theo luật 91
3.2.1. Giải thể HTXNN yếu kém, chuyển đổi HTXNN kiểu cũ sang HTX dịch vụ,
thành lập mới HTXNN 91
3.2.2. Nội dung đổi mới HTXNN 96
3.3. Hoạt động của các HTX phi nông nghiệp ở nông thôn Thanh Hóa và các hình
thức hợp tác khác 108
3.4. Kết quả đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa 117
3.4.1. Thành tựu 117
3.4.2. Những yếu kém và tồn tại 121
3.4.3. Nguyên nhân 123
KẾT LUẬN 125
PHỤ LỤC 3
THÔNG TIN CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP THANH HÓA ĐẾN
THÁNG 6 NĂM 2010 3
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HTX Hợp tác xã
HTH Hợp tác hóa
HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
TTH Tập thể hóa
UBND Ủy ban nhân dân
CNH, HDH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CT/TW Chỉ thị - Trung ương
ĐVT Đơn vị tính
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, sự hợp tác có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng bởi các lý do: Một là, trong hệ thống các ngành kinh tế,
nông nghiệp là ngành bị chi phối nhiều nhất bởi tự nhiên; từ xưa đến nay,
người nông dân Việt Nam không thể sản xuất nếu không hợp tác với nhau
chinh phục tự nhiên (thể hiện rõ nhất qua việc xây dựng các công trình thủy
lợi: đê điều, sông đào, kênh mương, hồ, đập…). Hai là, trong bối cảnh hội
nhập quốc tế, ngành nông nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển
nhưng phải đối mặt với không ít thách thức, để bảo vệ được quyền lợi của
mình khi tham gia quá trình hội nhập, sự hợp tác giữa các hộ nông dân với
nhau và giữa các hộ nông dân với các tổ chức thuộc nhiều ngành nghề khác
càng trở nên cần thiết. Ba là, ngày nay, kinh tế hộ gia đình được khẳng định là
đơn vị kinh tế tự chủ, được tạo điều kiện để phát huy vai trò tích cực của mình
trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên, kinh tế hộ nông nghiệp mới được tái
lập, trình độ sản xuất thấp, phân tán, lại phải cạnh tranh trong cơ chế thị
trường đầy biến động. Do vậy, chỉ có tập hợp nhau trong một tổ chức hợp tác
thì hộ nông dân mới bớt đi những khó khăn, rủi ro trong sản xuất, kinh doanh,
khắc phục được một số hạn chế của bản thân kinh tế hộ.
Ở mỗi một hình thái kinh tế - xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của đất
nước đều cần phải có những hình thức hợp tác phù hợp. Vì vậy, việc nghiên
8
cứu, phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quan
trọng, đặc biệt đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta
hiện nay.
Thanh Hóa là một tỉnh nông nghiệp, đa số người dân sống ở khu vực
nông thôn. Năm 2010 và xa hơn nữa, vị trí của nông nghiệp đối với Thanh
Hóa vẫn còn nhiều ý nghĩa. Do vậy, để xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh
văn minh giàu mạnh phụ thuộc rất lớn vào quy mô, tốc độ tăng trưởng của
việc giải quyết các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn.
Sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc, với mong muốn giải
chế của quá trình đổi mới sẽ tạo thêm cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để
Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Thông qua việc tổng kết quá trình phát triển của mô hình hợp tác trong
nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa nhằm phát hiện và giải quyết những vẫn
đề tồn tại, vướng mắc nảy sinh trong quá trình đổi mới và phát triển, từ đó tiếp
tục đẩy mạnh phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh
Hóa với đúng vai trò, chức năng đích thực của nó.
Đề tài “Quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông
thôn Thanh Hóa (1986 – 2010) xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó.
Ngoài ra, với đề tài này, luận văn cũng góp phần cung cấp thêm tài liệu phục vụ
công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử địa phương thời kỳ hiện đại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề
lớn, có tác động không nhỏ tới sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Vì vậy
vấn đề này đã được đề cập đến với những mức độ khác nhau trong nhiều công
trình nghiên cứu.
Trong bộ Tư bản cũng như nhiều tác phẩm khác của Mác, sự hợp tác
được phân tích trong quá trình phát triển từ hình thức hợp tác giản đơn đến
công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí. Những quan điểm này của
10
Mác sau này được vận dụng để xây dựng nguyên tắc hợp tác trong nông
nghiệp, nông thôn chủ nghĩa xã hội.
Ph. Ăng-ghen trong tác phẩm Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức đã nêu
lên những nguyên tắc cơ bản để đưa nông dân đi vào sản xuất hợp tác: tự
nguyện, giúp đỡ của Nhà nước, của xã hội đối với HTH nông nghiệp.
Phát triển lý luận về hợp tác của Mác và Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đã luận
giải sự cần thiết, các tiền đề của kinh tế hợp tác và các nguyên tắc hợp tác của
chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong Chính sách kinh tế mới (NEP), Lê-nin đã nêu
ra bước đi của hợp tác là từ thương mại dần đi vào sản xuất. Lê-nin nhấn
chế quản lý để tiếp tục tạo động lực cho nông nghiệp – nông thôn phát triển
với tốc độ nhanh. Những quan điểm, đường lối chủ trương trong công cuộc
đổi mới thể chế kinh tế của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, là sự kế tục và
sáng tạo những luận điểm khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn
cảnh cụ thể nước ta.
Cùng với các văn kiện của Đảng và Nhà nước, có nhiều công trình
nghiên cứu bàn về vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam. Trước hết là những bài viết của các nhà lãnh đạo như: Đổi
mới quản lý kinh tế nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở
nước ta (Võ Chí Công, Tạp chí Cộng sản, tháng 6/1993), Đẩy mạnh đổi mới
vì chủ nghĩa xã hội (Đỗ Mười, Nxb Chính chị quốc gia, 1995) Các tài liệu
này đã nêu những yêu cầu, định hướng đổi mới kinh tế hợp tác trong nông
nghiệp.
Vấn đề đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn còn thu
hút nhiều nhà khoa học của các ngành khoa học khác nhau quan tâm nghiên
cứu. Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ về vấn
đề này:
Năm 1990 đã diễn ra cuộc Hội thảo lớn do Ban Nông nghiệp Trung
ương, kết hợp với Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tiến hành nhằm đánh
12
giá quá trình HTH ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và quan điểm về con
đường chuyển nông thôn nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong một số công trình khác như: Một số vấn đề kinh tế của HTH
nông nghiệp ở Việt Nam (GS Phạm Như Cương (chủ biên), Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1991); HTH nông nghiệp Việt Nam Lịch sử - Vấn đề - Triển vọng
(Chử Văn Lâm, Nguyễn Thái Nguyên, Phùng Hữu Phú, Trần Quốc Toản,
Đặng Thọ Xương, Nxb Sự thật, 1992); Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác
trong nông nghiệp (Lâm Quang Huyên, Nxb Khoa học xã hội, 1995); Khảo
sát các hình thức tổ chức hợp tác của nông dân nước ta hiện nay (Đào Thế
Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia, 1995); Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp,
nghiệp, nông thôn gồm những kiểu tổ chức để thực hiện các yêu cầu hợp tác
của các hộ nông dan trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, có nhiều mô
hình khác nhau như hợp tác vần công, đổi công, nhóm liên gia, tổ hợp, hợp tác
trong các hiệp hội… HTX là một trong các mô hình hợp tác chứ không phải là
mô hình duy nhất. HTX đăng ký và được Nhà nước công nhận tư cách pháp
nhân trong khi các mô hình hợp tác khác không cần đăng ký tư cách pháp
nhân. HTX là mô hình hợp tác phổ biến, nó được xem là phương tiện thúc đẩy
cho lực lượng sản xuất phát triển, nó ra đời tồn tại và ngày càng phát triển gắn
liền với quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa. Quá trình hình thành các mô
hình hợp tác là do tác động của các quy luật và nhu cầu phát triển sản xuất
chứ không phải bằng ý chí chủ quan của bất kỳ một chế độ chính trị nào. Có
nhiều loại mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn, trong đó HTXNN là
một mô hình hợp tác đặc thù và khá phổ biến ở Việt Nam nói chung, Thanh
Hóa nói riêng. Vì vậy, luận văn tập trung nghiên cứu mô hình hợp tác là
HTXNN, bên cạnh đó có trình bày một số mô hình hợp tác khác trong nông
nghiệp, nông thôn Thanh Hóa thời kỳ đổi mới.
14
Luận văn nghiên cứu về quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông
nghiệp, nông nghiệp ở Thanh Hóa, là một tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ có 1
thành phố, 2 thị xã, 24 huyện. Thanh Hóa là tỉnh có số dân đông đứng thứ 3
cả nước (sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), diện tích lớn thứ 6 cả nước, nông
nghiệp, nông thôn vẫn giữ một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh.
Luận văn được giới hạn phạm vi nghiên cứu về quá trình đổi mới mô
hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa trong những năm 1986
– 2010. Năm 1986 là mốc quan trọng trong quá trình đổi mới toàn diện đất
nước mà nông nghiệp, nông thôn là một nội dung quan trọng. Đến năm 2010,
quá trình đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa
về cơ bản đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng đặt ra những vấn đề mới đòi
hỏi phải giải quyết nhằm phát huy vai trò tích cực của các mô hình hợp tác đối
thôn nói chung, kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nói riêng, đã được xuất bản
thành sách hoặc đăng trên các tạp chí; một số kết quả của những đề tài khoa
học, dự án khoa học, các luận án, luận văn có liên quan. Đặc biệt là các công
trình nghiên cứu về lịch sử, lịch sử Đảng bộ các cấp của Thanh Hóa.
- Các báo cáo của Bộ Nông nghiệp, của Tổng cục Thống kê, Cục Thống
kê Thanh Hóa, Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn,
Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, Liên minh HTX Thanh Hóa.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số tài liệu điều tra, điền dã ở một số
HTX tiêu biểu để làm phong phú và cụ thể hóa hơn cho nội dung của đề tài.
Cơ sở lý luận của đề tài dựa vào những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lê-nin , tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng
về xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nói chung, kinh tế
hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
16
Để thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu vận dụng, kết hợp phương pháp lịch
sử với phương pháp lô gíc. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp:
thống kê, so sánh, lập biểu đồ, điền dã để thực hiện đề tài.
17
6. Đóng góp của luận văn
- Trình bày có hệ thống quá trình đổi mới và phát triển mô hình hợp tác
trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa qua các giai đoạn 1986 – 1996, 1997
– 2010 dưới tác động của đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, từ đó
thấy được vị trí, vai trò, chức năng quan trọng của HTX đối với sự phát triển
nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa.
- Từ thực tiễn quá trình nghiên cứu, luận văn phân tích những điểm
mạnh, điểm yếu, những khó khăn, bất cập của mô hình hợp tác trong nông
nghiệp, nông thôn Thanh Hóa, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp bước
đầu nhằm tiếp tục phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở Thanh Hóa
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Luận văn cũng cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu,
nên có một vị trí rất thuận lợi trong giao lưu với các tỉnh, thành phố trong cả
nước và giao lưu quốc tế.
Với diện tích khá lớn, Thanh Hóa có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây
sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt:
- Vùng núi và trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm
75,44% diện tích toàn tỉnh gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi
Trường Sơn phía nam. Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ
thực vật phong phú, có các loại gỗ quý hiếm như: lát, pơ-mu, sa mu, lim xanh,
19
táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ. Đặc biệt, Thanh Hoá là tỉnh có diện tích
luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích năm 2006 trên 50.000 ha. Vùng đồi
núi thấp có đất đai màu mỡ, có hệ thống sông ngòi phong phú, tạo điều kiện
tốt để phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc.
- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm
14,61% diện tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng,
Sông Yên và Sông Hoạt, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập. Đồng
bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng
bằng Sông Hồng. Bên cạnh ưu thế phát triển cây lương thực, cây ăn quả, trồng
cói ở vùng ven biển và chăn nuôi gia súc, gia cầm, đồng bằng còn có lợi thế để
phát triển công nghiệp, TTCN, dịch vụ.
- Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn
tỉnh, từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh
Gia. Đường bờ biển dài 102km có dạng cánh cung, địa hình tương đối bằng
phẳng. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn thuận tiện cho tàu bè ra vào. Biển Thanh
Hóa có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến
(Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) ; có những vùng đất đai rộng lớn thuận
lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ
kinh tế biển.
Khí hậu Thanh Hóa mang tính chất trung hòa giữa khí hậu Bắc kỳ và
Trung kỳ. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ bình quân năm 24,3
Nội); có 7 dân tộc sinh sống là: Kinh, Mường, Thái, H'Mông, Dao, Thổ, Khơ-
mú. Mật độ dân số là 306 người/km
2
. Số dân từ năm 2001 đến nay tương đối
ổn định (năm 2001 là 3,463 triệu người, năm 2009 là 3,406 triệu người). Số
dân sinh sống ở khu vực nông thôn năm 2009 là 3,049 triệu người, chiếm
89,5% dân số toàn tỉnh. Lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao (71% lao động toàn tỉnh) [33; 3].
Nguồn lao động của Thanh Hóa tương đối trẻ, có trình độ học vấn khá,
lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao. Lực lượng lao động đã qua đào tạo
chiếm 27%, trong đó có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%, trung
học 4,0%, công nhân kỹ thuật 12,9% [33; 4]
1.1.2.2. Cơ sở vật chất – kĩ thuật
Thanh Hóa có một hệ thống giao thông khá thuận lợi cả về đường sắt,
đường bộ và đường thuỷ. Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh
Hoá dài 92km với 9 nhà ga. Đường bộ có tổng chiều dài trên 8.000km, bao
21
gồm hệ thống quốc lộ quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng
đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên
suốt vùng trung du và miền núi; Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng
ven biển với vùng miền núi, trung du của tỉnh, quốc lộ 217 nối liền Thanh Hoá
với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào. Thanh Hoá có hơn 1.600km đường
sông, trong đó có 487km đã được khai thác cho các loại phương tiện có sức
chở từ 20 đến 1.000 tấn. Cảng Lễ Môn với năng lực thông qua 300.000 tấn/
năm, các tàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn. Cảng biển nước sâu Nghi Sơn
có khả năng tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn, hiện nay đang được tập trung xây
dựng thành đầu mối về kho vận và vận chuyển quốc tế. Hiện tại, Thanh Hóa
có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục
vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch [85; 986]
Thanh Hóa có hệ thống công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh và
hình thức trở thành cơ sở của những hình thức hợp tác trong nông nghiệp sau
năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám thành công mang lại ruộng đất cho nông dân là
điều kiện để xuất hiện các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp.
Để đảm bảo người nông dân nào cũng có ruộng đất cày cấy, Tỉnh ủy
Thanh Hóa đã chỉ đạo việc chia lại công điền, công thổ và ruộng đất của bọn
Việt gian phản quốc cho nông dân và kiên quyết đấu tranh thực hiện giảm tô
25%, vận động các gia đình có nhiều ruộng đất hiến điền. Năm 1948 đã có
2.497 điền chủ thực hiện giảm tô trên diện tích 13.760 mẫu ruộng. Năm 1950,
hầu hết các chủ ruộng đất đã giảm tô 25%. Quan hệ sản xuất mới bước đầu đã
hình thành ở nông thôn, kể cả vùng thượng du [53; 43]. Nông dân Thanh Hóa
bước đầu hợp tác trong việc làm thủy lợi, phục hồi ruộng đất hoang hóa, giúp
đỡ nhau cấy hết diện tích, tăng gia sản xuất khiến sản lượng nông nghiệp có
bước phát triển đáng kể.
Có ruộng đất cày cấy, nông dân phấn khởi sản xuất, nông nghiệp, nông
thôn đạt được nhiều thành tựu mới. Năm 1947, Thanh Hóa sản xuất 26 vạn tấn
thóc, 7.800 tấn ngô, 48.000 tấn khoai lang, 547 tấn bông. Nhân dân trong tỉnh
đã tự túc được lương thực. Diện tích trồng cấy cũng được mở rộng: năm 1949,
23
diện tích trồng lúa tăng thêm 10.000 mẫu, bông 6.149 mẫu, ngô 3.494 mẫu,
khoai 9.428 mẫu, lạc 383 mẫu, ngô 3494 mẫu, vừng 150 mẫu, đậu 1785 mẫu
[53; 44].
Sau khi được hoàn toàn giải phóng (1955), Thanh Hóa cùng với miền
Bắc bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đồng
thời tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, tạo tiền đề đưa miền Bắc quá độ
tiến lên CNXH.
Từ 1954 – 1956, Thanh Hóa đã thực hiện 5 đợt cải cách ruộng đất.
Trong đó đợt 1 (1954) là đợt thí điểm của Liên khu IV ở 6 xã Dân Lực, Dân
Quyền, Dân Lý, Minh Dân, Minh Sơn, Minh Châu (huyện Nông Cống) được
tiến hành xong trong cuộc kháng chiến chống Pháp; còn các đợt từ đợt 2 đến
Quy mô một tổ đổi công có khoảng 10 hộ nông dân, hoạt động tập trung
vào các công việc như cày bừa, cấy trồng, chống úng, chống hạn, thu hoạch,
làm nhà… Trong đó các hội nông dân hợp tác với nhau về mặt lao động mang
tính giản đơn như “công đổi công”, “việc đổi việc” và hợp tác về công cụ lao
động. Hình thức tổ đổi công là hình thức hợp tác giản đơn nhưng hiệu quả vì
phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nông thôn
sau cải cách ruộng đất, phù hợp với nhận thức và nguyện vọng của nông dân.
Các tổ đổi công không chỉ phát huy tích cực trong công việc sản xuất cụ thể
mà còn góp phần bước đầu cải tạo đồng ruộng, cải tiến kỹ thuật, đóng góp cho
phúc lợi xã hội, bước đầu hình thành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn.
Tuy nhiên, mô hình tổ hợp tác chưa giải quyết được nhu cầu phát triển
của ngành nông nghiệp như vấn đề làm các công trình thủy lợi lớn, áp dụng
khoa học kĩ thuật vào sản xuất…). Vì vậy, việc xây dựng mô hình hợp tác có
quy mô, trình độ cao hơn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cần được đẩy tới trên các mặt: quản lý lao động,
quản lý sản xuất, quản lý tài vụ…
1.2.2. Trong những năm xây dựng mô hình TTH nông nghiệp (1958 – 1980)
Tháng 11/1958, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa II) đề ra kế
hoạch ba năm cải tạo và phát triển kinh tế miền Bắc (1958 – 1960). Trong đó
có chủ trương xây dựng các HTXNN ở khắp các vùng nông thôn theo mô hình
TTH, đại diện cho khu vực kinh tế tập thể.
Căn cứ vào tình hình cụ thể của tỉnh, Tỉnh ủy Thanh Hóa chủ trương
tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách tích cực, thận trọng, vững chắc.
25
Trong cải tạo nông nghiệp, Tỉnh ủy đề ra kế hoạch tiến hành từng bước vững
chắc, từ thấp lên cao, bảo đảm đúng nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có
lợi; lúc khởi đầu thì thu nạp bần cố nông và trung nông lớp dưới; khi HTX đã
tương đối ổn định, phát triển tương đối khá sẽ thu nạp trung nông lớp trên.
Tuy nhiên, khi chủ trương xây dựng HTX đi vào thực tiễn lại được triển
khai với khí thế cách mạng đặc biệt. Các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể
60,2% hộ nông dân vào làm ăn tập thể. Tỉnh ủy mở hội nghị 7 huyện miền núi
(trừ Thạch Thành) triển khai chỉ thị 159 của Ban bí thư Trung ương về xây
dựng HTXNN kết hợp với cải cách dân chủ.
Tháng 12/1959, Hội nghị HTXNN toàn miền Bắc do Ban Bí thư Trung
ương Đảng triệu tập và đồng chí Lê Duẩn chủ trì đã họp tại Nông Cống để
nghiên cứu kinh nghiệm về HTXNN của Thanh Hóa. Sau hội nghị, Ban công
tác nông thôn tỉnh cùng với một số huyện ủy miền núi xây dựng thí điểm HTX
ở 4 xã Minh Sơn (huyện Ngọc Lặc), Cẩm Bình (huyện Cẩm Thủy), Long Vân
(huyện Bá Thước), Sơn Thủy (huyện Quan Hóa).
Ngày 27 tháng 3 năm 1960, các huyện miền núi đồng loạt tiến hành cải
cách dân chủ, xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất, rừng núi của địa chỉ, thổ ty lang
đạo, xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân. Cùng với cải cách dân chủ,
người dân miền núi Thanh Hóa gia nhập HTX một cách tự nguyện, phấn khởi.
Có thể nói, cải cách dân chủ đến đâu, HTX được xây dựng đến đó.
Phong trào HTH ở Thanh Hóa được khích lệ đã diễn ra với tốc độ
nhanh. Từ 1.293 HTX sản xuất nông nghiệp cuối năm 1958, đến cuối năm
1960, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, toàn tỉnh đã có 4.336 HTX, trong đó có
587 HTX bậc cao, thu hút 271.100 hộ nông dân (chiếm 91,5% tổng số nông
hộ toàn tỉnh), trong đó 24,7% tổng số nông hộ đã gia nhập HTX bậc cao, TTH
83% diện tích canh tác. 85% nông hộ ở miền núi, 82,4% nông hộ ở miền biển,
94,5% nông hộ làm nghề muối đã đi vào con đường làm ăn tập thể. Ở vùng có
đồng bào theo đạo Thiên chúa, 63,8% nông hộ giáo dân đã gia nhập HTX
[1;58]. Nông dân Thanh Hóa từ người nông dân cá thể đã trở thành người
nông dân tập thể.
Ở vùng biển, do đặc điểm kinh tế của địa phương, Tỉnh ủy đề ra chủ
trương tổ chức các HTX chuyên đánh cá hoặc bán nông – bán ngư, hoặc sản
27