BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VŨ THỊ NGÀ
NGHIÊN CỨU NHU CẦU BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
CHO CHĂN NUÔI BÒ THỊT CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Ngà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết cho tôi được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo khoa Kinh tế
& Phát triển nông thôn, các thầy cô giáo trong Ban đào tạo sau đại học cùng toàn
thể các thầy cô giáo trong Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trang bị cho tôi
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi 8
2.1.3 Tác dụng của bảo hiểm nông nghiệp 10
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi
bò thịt 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 13
2.2.1 Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam 13
2.2.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 15
2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cho nghiên cứu luận văn 20
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
Sông Lô 70
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.4 Thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm cho chăn
nuôi bò thịt của người dân 71
4.4.1 Thuận lợi 71
4.4.2 Khó khăn
74
4.5 Định hướng và giải pháp 78
4.5.1 Định hướng 78
4.5.2 Giải pháp 79
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
5.1 Kết luận 85
5.2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Bảng 4.9 Nhu cầu của hộ về hình thức mua bảo hiểm
57
Bảng 4.10 Nhu cầu bảo hiểm và mức sẵn lòng chi trả của hộ theo quy mô 58
Bảng 4.11 Nhu cầu bảo hiểm và mức sẵn lòng chi trả của hộ theo phương thức
chăn nuôi 61
Bảng 4.12 Nhu cầu tham gia BHNN và mức sẵn lòng chi trả của các hộ theo thu
nhập 63
Bảng 4.13 Nhu cầu bảo hiểm và mức sẵn lòng chi trả theo độ tuổi 65
Bảng 4.14 Nhu cầu tham gia BHNN và mức sẵn lòng chi trả theo giới tính 67
Bảng 4.15 Nhu cầu tham gia BHNN và mức sẵn lòng chi trả theo trình độ
chuyên môn của chủ hộ
68
Bảng 4.16 Tổng quỹ BH chăn nuôi bò thịt của các hộ huyện Sông Lô 70
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊSTT Tên sơ đồ, đồ thị Trang
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích nhu cầu BH cho chăn nuôi bò thịtError! Bookmark
not defined.
Đồ thị 4.1 Nhu cầu của các hộ về mua BHNN cho chăn nuôi bò thịt 52
Đồ thị 4.2 Nhu cầu BH cho bò thịt theo quy mô chăn nuôi 58
Đồ thị 4.3 Mức sẵn lòng chi trả BH theo quy mô chăn nuôi 59
Đồ thị 4.4 Nhu cầu BH cho bò thịt theo phương thức chăn nuôi 61
Đồ thị 4.5 Mức sẵn lòng chi trả BH theo phương thức chăn nuôi 62
Đồ thị 4.6 Nhu cầu BH cho bò thịt theo thu nhập/đầu con 63
Đồ thị 4.7 Mức sẵn lòng chi trả BH theo thu nhập/đầu con 64
BQ :
Bình quân
CC :
Cơ cấu
ĐVT :
Đơn vị tính
NN-PTNT :
Nông nghiệp - Phát triển nông thôn
QML :
Quy mô lớn
QMN :
Quy mô nhỏ
QMV :
Quy mô vừa
SL :
Số lượng
UBND :
Ủy ban nhân dân
WTP :
Mức sẵn lòng chi trả
hình thành Quỹ bảo hiểm tập trung để giải quyết bồi thường các thảm họa thiên
tai, dịch bệnh. Nguồn quỹ bảo hiểm được tạo thành bởi cộng đồng những người
sản xuất nông nghiệp và nhà nước mang tính xã hội hóa cao, giảm gánh nặng cho
ngân sách nhà nước trong việc cứu trợ khẩn cấp người dân không may bị tổn thất
tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh. Ngoài ra, bảo hiểm giúp việc khắc
phục hậu quả tài chính cho những người không may bị tổn thất mang tính khách
quan, công bằng hơn các hình thức cứu trợ. Qua đó, góp phần ổn định chính trị,
an sinh xã hội. Không những thế, bảo hiểm giúp nông dân yên tâm sản xuất do
được bù đắp chi phí sản xuất, thúc đẩy người sản xuất nông nghiệp nâng cao ý
thức chủ động phòng ngừa rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất trong sản xuất
nông nghiệp. Do đó, đưa bảo hiểm nông nghiệp vào hoạt động sản xuất nông
nghiệp là một điều hết sức cần thiết (Bộ Tài Chính, 2013).
Bảo hiểm nông nghiệp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta
nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt
hại do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 1/3/2011 về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm
nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013 áp dụng ở 20 tỉnh, thành trong cả nước. Theo
đó, một số cây trồng, vật nuôi được thí điểm bảo hiểm bao gồm: lúa, trâu, bò, lợn,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
gia cầm, cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng. Việc ban hành quyết định này là
một bước đi quan trọng, tạo điều kiện cho người nông dân tham gia thị trường
BHNN, giúp họ yên tâm sản xuất. Sơ bộ đánh giá thí điểm BHNN của Bộ NN-
PTNT cho thấy, BHNN có kết quả tốt, giúp người nông dân bớt thiệt thòi trong
quá trình sản xuất nông nghiệp và đặc biệt, trong mấy năm vừa qua, giá trị hàng
hóa nông sản được bảo hiểm trên 200.000 tỉ đồng, chứng tỏ hàng hóa nông sản
được bảo hiểm rủi ro không hề nhỏ và người nông dân mua bảo hiểm đã được các
công ty bảo hiểm hỗ trợ, bồi thường kịp thời khi có rủi ro xảy ra. Hầu hết các bộ
ngành, địa phương đều kiến nghị Chính phủ cần tiếp tục nhân rộng BHNN đối với
bảo hiểm nông nghiệp cho chăn nuôi bò thịt của các hộ nông dân huyện Sông
Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” để nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở xác định nhu cầu tham gia bảo hiểm nông nghiệp cho chăn nuôi
bò thịt của các hộ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia bảo
hiểm của các hộ chăn nuôi bò thịt tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về nhu cầu bảo hiểm cho
chăn nuôi bò thịt;
- Xác định nhu cầu bảo hiểm cho chăn nuôi bò thịt của các hộ;
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu bảo hiểm cho chăn nuôi bò
thịt của các hộ;
- Đề xuất những giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia bảo hiểm của các
hộ chăn nuôi bò thịt huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp cho chăn nuôi bò thịt của các hộ nông dân;
- Những hộ chăn nuôi bò thịt.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề liên quan tới nhu cầu bảo hiểm
nông nghiệp cho chăn nuôi bò thịt của các hộ nông dân huyện Sông Lô.
- Phạm vị về không gian: Đề tài nghiên cứu tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi về thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu đề tài: Đề tài lấy số liệu từ 2011-2013.
+ Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 5/2013 đến tháng 10/2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
b. Cầu
* Khái niệm cầu (Demand): Cầu là lượng hàng hoá, dịch vụ mà người
mua sẵn
sàng
(Willing) và có khả năng mua (Able to buy) tại các mức giá
khác nhau trong một khoảng thời
gian
nhất ñịnh với giả thiết các yếu tố khác
không đổi (Ceteris
Paribus)
(Nguyễn Thị Hồng Việt, 2006).
Thực chất, cầu chính là những nhu cầu có khả năng thanh toán cho nhu
cầu đó.
Cầu trong nông nghiệp: Theo Đỗ Kim Chung và tập thể tác giả (2009):
“Cầu trong nông nghiệp bao gồm cầu về sản phẩm nông nghiệp và cầu về các
yếu
tố
đầu
vào, dịch vụ dùng trong nông nghiệp. Cầu về sản phẩm có những nét
khác với cầu về đầu vào
và
dịch
vụ”.
* Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu:
* Theo trường phái trung hòa: Theo trường phái này có một số định nghĩa
như sau:
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” ( Frank Knight).
- “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến sự xuất hiện những biến đổi
không mong đợi” (Allan Willett).
- “Rủi ro là một tổng hợp ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”
(Irving Preffer).
* Rủi ro trong nông nghiệp:
Môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội mà nông dân sản xuất có biết bao
điều không chắc chắn xảy ra bất lợi đối với nông dân như thiên tai, giảm giá
nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật… Các sự kiện đó xảy ra với những xác suất
mà không thể biết trước được. Trong các tình trạng không chắc chắn đó, các biến
cố có thể xảy ra với một xác suất ước đoán chủ quan được gọi là sự rủi ro. Trong
nông nghiệp, nông dân phải đương đầu với hàng loạt rủi ro như: mất mùa, giá
nông sản hạ, giá đầu ra tăng vọt, ốm đau, bệnh tật, thay đổi bất lợi về tổ chức
(thay đổi về tổ chức hay luật lệ và chính sách của Chính phủ); rủi ro về tài chính
(sự thay đổi bất lợi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, mức nợ); sự thay đổi về chính trị
xã hội, thay đổi bất lợi về thương mại quốc tế; thiên tai và các quyết định của
Chính phủ (như quyết định về chiến tranh). Các dạng rủi ro trên có những tác
động rất khác nhau đến kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp (Đỗ Kim
Chung và tập thể tác giả, 2009).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
* Ứng xử của nông dân đối với rủi ro
Nông dân có cách ứng xử rất khác nhau với rủi ro. Nếu có rủi ro xảy ra, họ
thường thu hẹp quy mô sản xuất để tối thiểu hóa thiệt hại. Theo Đỗ Kim Chung
và tập thể tác giả (2009), có thể chia nông dân ra thành 3 nhóm:
- Thứ nhất, có người tiếp thu ngay kỹ thuật mới thực hiện đầu tư như yêu
cầu kỹ thuật. Những người này thường đạt kết quả cao nếu không có rủi ro xảy
* Bản chất của bảo hiểm
Mục đích của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia từ
đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. .
Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong
nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh tai
nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra tổn thất với người tham gia bảo hiểm.
Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”. Nguyên tắc
này được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù bảo hiểm cũng như trong quá
trình phân phối bồi thường, quá trình phân tán rủi ro.
Hoạt động bảo hiểm còn liên kết, gắn bó các thành viên trong xã hội cùng
vì lợi ích chung của cộng đồng, vì sự ổn định, sự phồn vinh của đất nước. “Số
đông bù số ít” cũng thể hiện tính tương trợ, tính xã hội và nhân văn sâu sắc của
xã hội trước rủi ro của mỗi thành viên (Nguyễn Văn Định, 2010). .
2.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi
*
Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
:
- Đối tượng bảo hiểm trong chăn nuôi: là các sản phẩm chăn nuôi và các
loại vật nuôi. Đối với vật nuôi là tài sản cố định thường bảo hiểm từng con, còn
đối với vật nuôi thường bảo hiểm cả đàn là vật nuôi lưu động nhưng được nuôi
dưỡng trong thời gian ngắn.
- Thời hạn bảo hiểm: thường là 1năm hoặc là toàn bộ chu kỳ sản xuất.
Nếu là toàn bộ chu kỳ sản xuất thì nó sẽ được bắt đầu từ khi vật nuôi được
chuyển thành tài sản cố định đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất.
- Phạm vi bảo hiểm: Trong chăn nuôi thường gặp rất nhiều rủi ro, có cả rủi
ro khách quan có cả rủi ro chủ quan…Tuy nhiên chỉ có những rủi ro thông
thường sau đây mới được bảo hiểm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
1
f
: phí bồi thường thiệt hại
2
f
: phí đề phòng hạn chế tổn thất
3
f
: phí dự trữ dự phòng
:4
f
: phí quản lý và lãi dự kiến
Trong đó cách tính phí bồi thường thiệt hại được xác định như sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10 )(
1
1
1 tc
n
i
i
n
i
i
GG
Q
q
n
i
iii
c
q
ptq
G
1
1
t
: trọng lượng bình quân 1 con vật nuôi trước khi bị chết, bị thải loại, tai
nạn năm i thuộc phạm vi bảo hiểm.
i
p
: giá bình quân 1 đơn vị sản phẩm vật nuôi trước khi bị thải loại, tai nạn,
chết năm i.
2.1.3 Tác dụng của bảo hiểm nông nghiệp
Thứ nhất, khôi phục và duy trì năng lực tài chính ổn định, giảm bớt
nỗi lo âu về tinh thần của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm sau khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm, thông qua hoạt động chi trả bồi thường. Về khía cạnh này,
trước những tổn thất lớn, trên diện rộng và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất
kinh doanh trong nông nghiệp của nhiều người dân thì hình thức bảo hiểm nông
nghiệp sẽ có ưu thế hơn so với các loại hình bảo hiểm khác vì rủi ro sẽ được san
xẻ giữa các hộ nông dân. Chỉ tính riêng trong năm 2008, số tiền mà các doanh
nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam bỏ ra để bồi thường và trả tiền bảo hiểm đã lên đến
gần 9.185 tỷ đồng, tăng 43,6 % so với năm 2007. Trong đó bồi thường bảo hiểm
nông nghiệp là 348 triệu đồng. Bảo hiểm đem lại sự ổn định tài chính và ổn định
xã hội, đồng thời góp phần giảm bớt sự lo âu về tinh thần cho các cá nhân và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
bôi trơn củ hoạt động thương mại”. Trong khi đó, với tầm lá chắn bảo hiểm, các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
hộ sản xuất kinh doanh đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất nông
nghiệp có thể yên tâm sản xuất, nhà đầu tư cũng yên tâm khi đầu tư vào lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp vì đứng sau lưng họ có sự bảo vệ tài chính của các
công ty bảo hiểm thông qua việc tham gia BHNN (Bộ Tài Chính, 2013).
Thứ tư, tạo kênh huy động vốn tiết kiệm quan trọng cho đầu tư phát
triển, đồng thời thúc đẩy việc phân bổ một cách có hiệu quả hơn những nguồn
vốn, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường vốn trong một quốc gia. Thông
qua các nguồn vốn huy động được (phí bảo hiểm), các công ty bảo hiểm tiến
hành đầu tư vào các công trình, dự án hay các công cụ tài chính dưới các dạng
đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 54.970 tỷ đồng, tăng 22,2 % so với
năm 2007(Bộ Tài Chính, 2013).
Thứ năm, là công cụ hữu hiệu để quản lý rủi ro có hiệu quả, thông qua
việc định giá, chuyển giao rủi ro, đóng góp quỹ để chi trả cho các tổn thất và
giảm bớt thiệt hại. Các công ty bảo hiểm thực hiện việc định giá sản phẩm thông
qua việc xét nhận bảo hiểm và đầu tư, theo nguyên tắc rủi ro tỷ lệ thuận với phí
bảo hiểm. Các chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý, nhà đầu tư, chủ nợ và các cổ
đông có thể sử dụng những “tín hiệu” thu được từ việc định giá sản phẩm này để
đưa ra những quyết định dựa trên thông tin đầy đủ. Nhờ đó, hiệu quả kinh tế
cũng được nâng cao. Các công ty bảo hiểm cũng cho phép các doanh nghiệp và
cá nhân chuyển giao các tài sản, trách nhiệm, tổn thất thu nhập và các rủi ro
khác để đáp ứng nhu cầu của chính bản thân họ một cách tốt hơn. Ngoài ra, các
công ty bảo hiểm nhân thọ còn giúp các tổ chức và cá nhân chuyển giao các
khoản tiết kiệm của họ sang một hình thức mới với độ thanh khoản cao, an toàn
hơn và mức độ rủi ro thấp hơn. Mặt khác, theo quy luật số lớn, các công ty bảo
hiểm thu phí của số đông người tham gia bảo hiểm để bồi thường cho số ít
những thiệt hại, tổn thất xảy ra. Thông qua hoạt động đầu tư, các công ty bảo
hiểm sẽ khuyến khích được người dân tham gia.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bảo hiểm nông nghiệp đã được triển khai lần đầu tiên vào
năm 1980. Cho đến nay có 2 doanh nghiệp chính cung cấp BHNN, chủ yếu vẫn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
là bảo hiểm vật nuôi. Đó là Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (nay là tập đoàn
Bảo Việt) và Công ty TNHH Bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam.
Theo thống kê của Vụ Bảo hiểm Bộ tài chính, tỷ trọng tham gia BHNN ở
Việt Nam đứng ở mức rất thấp. Tính đến năm 2001, mới chỉ có 0,19% diện tích cây
trồng; 0,24% số trâu bò; 0,1% đàn lợn và 0,04% số gia cầm được bảo hiểm (Tân
Nguyên, 2012).
Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng BHNN lại chiếm tỉ trọng rất nhỏ.
Mặc dù được khởi động từ rất sớm, cách đây gần 30 năm, song cho đến nay phí
BHNN của toàn thị trường mới chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong doanh thu phí bảo
hiểm phi nhân thọ (năm 2004 chiếm khoảng 0,069%; 2005 chiếm 0,008%; 2006
chiếm 0,012%; từ 2007 đến 2011 chiếm 0,01%/năm). Hiện trên thị trường có rất
ít doanh nghiệp tham gia BHNN. Hầu như các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản
đều không được bảo hiểm. Thực tế này khiến cho BHNN hiện chưa đóng góp
nhiều cho sản xuất nông nghiệp (Hoàng Xuân, 2013).
Trong suốt thời gian gần 16 năm, từ 1982 - 1998, BHNN không phát triển
mở rộng thị trường, chỉ đơn thuần triển khai thăm dò bởi một công ty bảo hiểm
duy nhất, đó là Bảo Việt. Sau giai đoạn này, mới bắt đầu có thêm doanh nghiệp
tham gia vào khai thác BHNN. Năm 2001, Groupama (công ty 100% vốn của
Pháp) triển khai vật nuôi và thủy sản. Năm 2010, có thêm Bảo Minh (bảo hiểm
cây cà phê) và ABIC (bảo hiểm bò sữa tại Nghệ An) (Hoàng Xuân, 2013).
Trong giai đoạn từ năm 1993 đến 1998, Bảo Việt tiếp tục triển khai thí
điểm bảo hiểm cây lúa tại 16 tỉnh trên phạm vi cả nước, trọng tâm là Hà tĩnh -
thăm dò, thậm chí có trường hợp lựa chọn đối tượng được bảo hiểm có rủi ro cao
để tham gia.
2.2.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
2.2.2.1 Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ là một trong các quốc gia châu Á có diện tích lớn với dân số hơn 1
tỷ người, trong đó 60% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Sản phẩm
nông nghiệp của Ấn Độ chủ yếu các mặt hàng như gạo, lúa mì, hạt dầu, sợi đay,
trà, mía, khoai tây, gia súc, trâu cừu, dê, gia cầm và cá (Đào Hồng Thuận, 2013) .
Do Ấn Độ và Việt Nam có những điểm tương đồng về nền sản xuất
nông nghiệp nên kinh nghiệm thực tiễn trong các hoạt động phát triển BHNN