SKKN Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp HS lớp 4 hạn chế lỗi chính tả do phương ngữ TIỂU HỌC PHỔ QUANG - Pdf 29

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐỨC PHỔ
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHỔ QUANG Sáng kiến kinh nghiệm:
MỘT SỐ BÀI TẬP CHÍNH TẢ
PHƯƠNG NGỮ GIÚP HỌC SINH
LỚP 4 HẠN CHẾ LỖI CHÍNH TẢ
DO PHƯƠNG NGỮ
Phân môn: Chính tả
Người thực hiện: HUỲNH THỊ ÁNH TUYẾT
Chức vụ: Giáo viên tiểu họcNĂM HỌC: 2014 – 2015
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
MỤC LỤC
PHẦN 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu: 2
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ……………………… 3
5.1. Phương pháp quan sát trực quan: 3
5.2. Phương pháp điều tra: 3
5.3. Phương pháp nghiên cứu lí luận: 3
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: 3

2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: 24
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở bậc Tiểu học, phân môn chính tả là một phân môn có tầm quan trọng
trong việc dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học. Phân môn chính tả còn là
phân môn có tính chất công cụ, nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập
đầu tiên của trẻ. Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học môn Tiếng
Việt và các môn học khác. Chính tả là hệ thống chữ viết được xem là chuẩn
mực của một ngôn ngữ. Vì vậy, muốn viết đúng chính tả, ta phải tuân theo
những quy định, quy tắc đã được xác lập. Trong thực tế, học sinh mắc lỗi
chính tả rất nhiều. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn
Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các
em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.
Chất lượng học tập các phân môn Tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ nhân quả
với nhau, phân môn này có ảnh hưởng và hỗ trợ cho phân môn kia. Nếu học
tốt phân môn chính tả, học sinh có một công cụ hết sức đắc lực và hữu ích để
ghi chép bài học chính xác, rõ ràng và nhanh chóng. Việc làm này không chỉ
giúp học sinh tiểu học viết đúng mà còn giúp các em lĩnh hội chính xác các
nội dung bài học. Viết đúng chính tả giúp học sinh có điều kiện để sử dụng
tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ môn văn hóa khác. Bài
chính tả mang tính thực hành thông qua luyện tập liên tục, kết hợp với việc ôn
tập các quy tắc chính tả, học sinh sẽ có khả năng viết đúng các chữ ghi Tiếng
Việt.
Ngoài ra, ở một số địa phương, do phát âm sai nên dẫn đến một số học sinh
hiểu sai nghĩa và dẫn đến viết chính tả cũng sai.
Xuất phát từ những lí do trên nên bên cạnh sử dụng nhiều bài tập chính tả

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Phổ Quang – Đức Phổ.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến nay.
- Sử dụng số liệu điều tra trong 4 năm: Từ năm 2011- 2014.
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 2 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu lỗi chính tả do phương ngữ mà học sinh thường mắc phải.
- Thay thế các bài tập chính tả đang học ở một số tiết bằng bài tập chính tả
phương ngữ.
- Cung cấp thêm một số mẹo, luật chính tả.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp quan sát trực quan
Tôi tiến hành quan sát việc dạy và học của giáo viên, học sinh khối 4 thông
qua việc dự giờ, thăm lớp để thấy được lỗi chính tả phổ biến mà học sinh
thường mắc phải.
5.2. Phương pháp điều tra
Trao đổi với giáo viên khối 4 về khả năng học tập môn tiếng việt nói chung
và phân môn chính tả nói riêng của các em học sinh, tìm hiểu những thuận lợi
và khó khăn trong việc dạy chính tả, những lỗi chính tả do phương ngữ khó
khắc phục.
5.3. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học, tạp chí giáo dục,
tài liệu về phương pháp giảng dạy phân môn chính tả, sách giáo khoa, sách
giáo viên Tiếng Việt 4, sách bồi dưỡng nâng cao và một số tài liệu tham khảo
khác.
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành dạy thực nghiệm, áp dụng kinh nghiệm qua một năm học của lớp
4C Trường tiểu học Phổ Quang, năm học 2013 – 2014.

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
ngữ âm Tiếng Việt, cụ thể là cách phát âm của người Việt có sự thay đổi và
không phải hoàn toàn thống nhất trên mọi miền đất nước. Căn cứ vào cách
phát âm cụ thể của từng vùng, dựa vào những điểm tương đồng và khác biệt
về ngữ âm, tiếng Việt được chia ra thành ba vùng ngôn ngữ đó là phương ngữ
Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam. Những đặc điểm chính về ngữ
âm của phương ngữ Nam là:
- Về thanh điệu: không đủ 6 thanh, thanh ngã phát âm như thanh hỏi.
- Về phụ âm đầu: Không có âm /v/. Âm vị này bị thay thế bằng âm /j/, có
sự lẫn lộn trong cách phát âm các âm đầu: tr và ch/, s và x, d và gi, v và d
- Về âm đệm: chỉ tồn tại khi âm đầu là các phụ âm gốc lưỡi và âm họng.
Nhiều âm tiết có âm đệm bị lượt bỏ trong lời nói.
Ví dụ: tuyền tuyến > tiền tiến, thuế > thế, đời thuở > đời thở; xoáy > xáy;
lòe lẹt > lè lẹt.
- Về âm chính: có hiện tượng thu hẹp độ mở của nguyên âm: /e/, /i/, /o/, /u/
trong các âm tiết không phải là âm tiết mở. Ví dụ: Thối > thúi, tôi > tui, rốn >
rún.
- Về vần: Thường phát âm lẫn lộn các chữ ghi âm chính trong các vần như:
ai/ay/ây/; ao/au/âu/; ăm/âm; ăp/âp; iu/iêu; im/iêm/êm/em; om/ôm/ơm;
op/ôp/ơp/; ong/ông; ui/uôi/; ưu/ươu/
Các nguyên âm đôi chỉ đủ 2 thành tố khi chúng xuất hiện ở âm tiết mở còn
thành tố thứ 2 của chúng sẽ mất đi khi xuất hiện trong các loại âm tiết khác.
Ví dụ: Tiêm thuốc > tim thuốc; buồm > bồm; con hươu > con hưu.
Về âm cuối gốc lưỡi /y/ thường được phát âm thành âm đầu lưỡi /n/.
Ví dụ: tan trường > tan trườn; bến cảng > bến cản; cây bàng > cây bàn.
Không phân biệt rõ: an/ang; at/ac; ăn/ăng; ăc/ăt; ân/âng; ât/âc; en/eng;
et/ec; ên/ênh; êt/êch; iên/iêng; iêc/iêt; uôn/uông; uôt/uôc; ưt/ưc; ươn/ương;
ươt/ươc
Quảng Ngãi nằm trong vùng phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng trở vào).

cần thiết mà còn là phương pháp học tập, phương pháp suy nghĩ giải quyết
vấn đề. Chính vì vậy kết quả giáo dục, chất lượng học tập ngày được nâng
cao.
Mặc dù vậy, trong quá trình dạy học tôi nhận thấy chính mình và các đồng
chí giáo viên khối 4 gặp không ít khó khăn trong việc khắc phục lỗi chính tả
cho học sinh. Điều này do nhiều nguyên nhân nhưng có thể nói do ảnh hưởng
của phương ngữ là phổ biến hơn cả.
Về phía học sinh: Trong giờ chính tả các em được làm các bài tập chính tả
đôi lúc chưa phải là thiết thực nên có thể hoàn thành bài tập rất nhanh (vì lỗi
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 7 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
ấy các em không hoặc ít khi mắc phải) mà các dạng lỗi chính tả các em
thường mắc phải thì chưa được rèn luyện đúng mức.
Vấn đề đặt ra trên đây dẫn đến hậu quả là học sinh có học mà vẫn còn sai.
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh lớp
4 thường mắc các loại lỗi sau:
* Về thanh điệu
Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh
không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số lượng tiếng mang 2
thanh này không phải là ít và rất phổ biến.
Ví dụ: Sữa chửa, hướng dẩn, đổ Trạng nguyên, dổ dành, lẩn lộn,…
Ngả nghiêng, lũng cũng, lạnh lẻo, cằn cổi ,
* Về âm đầu
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ d/gi: để giành, dành giật, giặt dũ, dỗ giành,
+ g/gh: Con gẹ , gê sợ, gé qua nhà…
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, ngi kị …
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh (một số ít em mắc phải)…
+ s/x: Cây soan , xa mạc, cây xung, sông ra , sơ xát…

Có hai nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/
lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi / ie, ươ, uô/ lại được ghi
bằng các dạng iê, yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (kia - khuya, biên - tuyến, lửa - chương, mua -
muôn); âm đệm lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví dụ: tuệ, khoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam đối với các
âm chính trong hầu hết các vần như: tiền tuyến tiền tiến,
tuệ tệ
+ Về âm cuối
Người Miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng và t/c mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối/ i, u / lại
được ghi bằng 4 con chữ i /y (trong: lai/ lây), u/ o (trong: sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 9 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực phía Nam nói chung học sinh Quảng Ngãi nói
riêng.
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 10 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
CHƯƠNG 3

CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỂ GIÚP HỌC SINH LỚP 4
KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ DO PHƯƠNG NGỮ
3.1. THAY THẾ CÁC BÀI TẬP CHÍNH TẢ TRONG SÁCH GIÁO KHOA BẰNG
MỘT SỐ BÀI TẬP CHÍNH TẢ PHƯƠNG NGỮ
Tuần 1
Chính tả: (Nghe-viết): Dế Mèn bênh vực kẻ yếu
Bài tập 2 a vì học sinh tôi không sai lỗi về âm đầu l/n nên tôi cho HS đọc
để thấy được nét đẹp giản dị tự nhiên của chị Chấm. Sau đó thay bài 2a.

a, khuyên bảo b, bảo bùng c, dầu mở
d, họa sĩ e, mở mang g, lỗi lầm
h, trổi dậy i, nổi buồn k, nỡ nang
* Giáo viên chuẩn bị bài tập này trên bảng phụ, hình thức thi đua giữa các
nhóm đôi rèn luyện cách viết thanh hỏi/ thanh ngã.
Tuần 5
Chính tả: (Nghe-viết): Những hạt thóc giống
Bài 2a rèn viết đúng l/ n học sinh tôi không sai lỗi này nên tôi cho học sinh
đọc nội dung bài để giáo dục tính trung thực trong học tập, sau đó thay bằng
bài sau:
Tìm những chữ bắt đầu bằng d hoặc gi điền vào chỗ bị bỏ trống trong đoạn
văn sau:
Thầy em tuy đã nhưng dẻ vẫn hồng hào vì thầy chăm tập thể
và gìn sức khỏe nói của thầy sang sảng, đi nhanh nhẹn, thầy dạy rất
hiểu, bài rất hấp dẫn. Thầy luôn dịu với chúng em. Em nào….thầy
khen. Em nào chưa hiểu bài, thầy giải cho thật hiểu.
Tuần 7
Chính tả: (Nhớ - viết): Gà Trống và Cáo
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 12 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
Thay yêu cầu bài 2a với yêu cầu sau:
a, Tìm những chữ bị bỏ trống bắt đầu bằng s hoặc x
Con người là một vật có trí tuệ vượt lên trên mọi loài có phẩm chất kì
diệu là biết mơ ước. Chính vì vậy họ khám phá được những bí mật nằm
trong lòng đất, chế ngự được đại dương, chinh phục được khoảng không vũ
trụ bao la. Họ là chủ nhân đáng của thế giới này.
Tuần 9
Chính tả:( Nghe - viết): Thợ rèn
Thay bài 2a bằng bài sau:

Ôn tập cuối kì I
Bài ôn tập cho HS làm thêm trong tuần này (ở nhà)
- Điền dấu hỏi hoặc dấu ngã vào chữ in đậm trong đoạn văn sau cho phù
hợp:
- Nước lu như một con trăng không lồ hung hăng ào đến phóng ầm ầm
trong thung lung. Những tang đá to bằng cái chum cung bị nước cuốn.
Những cây chuối rừng nga bập bềnh. Nhưng cây gô lớn vùn vụt lao trên
dòng. Một cây gô dài bị hút vào xoáy chông ngược thân lên khoi mặt nước
rồi như bị ai kéo tụt xuống chìm nghim.
Tuần 23
Chính tả: (Nhớ- viết): Chợ Tết
Bài làm thêm
- Những từ nào viết sai ?
a, ấm ức b, dức khoát c, đứt hạnh d, bức tranh
e, day dứt g, mức độ h, mứt kẹo i, đức dây
- Điền tiếp tiếng có vần ưt hoặc vần ưc vào chỗ trống để hoàn chỉnh các
thành ngữ, tục ngữ sau:
a, khuya dậy sớm
b, Tay ruột xót
Tuần 25
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 14 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
Chính tả:( Nghe -viết): Khuất phục tên cướp biển
Bài làm thêm
Thi điền ên hoặc ênh vào chỗ trống để hoàn chỉnh các từ sau:
a, con nh… b, mũi t c, b vững
d, l kh e, cồng k g, ngã k
Tuần 26
Chính tả:( Nghe -viết): Thắng biển

đàn bướm vàng chập chờn bay lượn.
Tuần 34
Chính tả:( Nghe - viết): Nói ngược
Bài làm thêm
Điền dấu hỏi hoặc dấu ngã vào chữ in đậm trong đoạn văn sau cho phù
hợp:
Con ong cứ bay hoài vì lúc bay là lúc nó nói với bạn nó thức ăn chô nào.
Con ong thợ bay liên tục phía trên tổ ong để triệu tập các con ong bạn, cho
nên đàn ong múa theo ong thợ rất sôi nôi rồi cùng nhau rời tô, bay cho đến
nơi có thức ăn do ong thợ dân đường. Con ong còn biết báo cho đàn ro
phương hướng và địa chi có thức ăn. Khi con ong múa xoay tròn, đàn ong
biết là thức ăn có ngay gần đó. Khi con ong múa bằng kiểu lắc đuôi, chúng to
ra thức ăn còn ơ xa ngoài trăm mét. Khi ong bay thẳng về phía trước là báo
cho đàn hướng bay tìm thức ăn.
(Theo Tạ Hồng Bảo)
Tuần 35
Bài: Ôn tập làm thêm
1. Nhóm nào tất cả các tiếng đều có nghĩa trong hai nhóm sau?
a, điệu, địu, điều; đùi, điếu, đíu, điêu, điu
b, tết, tếch, chếch, chết, kết, kếch, nết
2. Điền tiếng có âm đầu v, d, r ?
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 16 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
Trong họ hàng nhà Chổi thì bé Chổi …ào loại xinh xắn nhất. Cô có chiếc
váy àng óng không ai đẹp bằng. Áo của cô cũng bằng …. Thóc nếp tươi
được tết săn lại. Cuốn từng …òng quanh người trông cứ như áo len vậy. Chị
em bạn Thùy Linh thường ….ùng Cô để quét nhà.
3. Điền vào chỗ trống ươm hay uôm?
- Quần áo sạch sẽ tinh t…

văn… nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi mà học sinh không
thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinh đọc chú
giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ), tìm từ đồng
nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt mắt và mắc
Giải nghĩa từ mắt: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát đôi mắt của
người, của con vật
+ Giải nghĩa từ mắc: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ mắc hoặc
giải thích bằng định nghĩa (mắc là hoạt động treo một vật lên tường, lên giá )
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa
từ.
3.5. GHI NHỚ MẸO LUẬT CHÍNH TẢ
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối
hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất
hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản
như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê. Ngoài ra,
giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con
vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén,
chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn
chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi,…
Chỉ những người trong quan hệ gia đình cũng bắt đầu bằng ch
Ví dụ: Cha, chú, cháu, chắt
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 18 Trường Tiểu học Phổ Quang
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số bài tập chính tả phương ngữ giúp học sinh lớp 4 hạn
chế lỗi chính tả do phương ngữ
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt
đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà,
sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò,

Ví dụ:
Mãn khóa
Mĩ mãn
Truy nã
Nỗ lực
Trí não
Lão thành
Dã man
Dĩ nhiên
Ngôn ngữ
- mẫn cảm
- mẫu số
- nhẫn nại
- nhũng nhiễu
- nhã nhẹn
- lễ giáo
- diễn đạt
- dõng dạc
- đội ngũ,
nhân nghĩa,
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn
Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp
khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp
bênh, …
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng,
loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc,
oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng
reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch,
thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân;

khác các em có thói quen viết đúng chính tả, trình bày sạch đẹp.
Bản thân tôi là một giáo viên chủ nhiệm có được kết quả như vậy tôi rất
phấn khởi và tự tin với những thành công khi vận dụng kinh nghiệm này.
Cụ thể kết quả đạt được sau các lần kiểm tra trong năm học 2013-2014 như
sau:
Tổng số học sinh được tham gia kiểm tra là: 34em, với 34 bài kiểm tra.
Stt Thời gian kiểm tra Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
1 Giữa kì I 08 / 34 14 / 34 10 / 34 2 / 34
2 Cuối kì I 10 / 34 15 / 34 07 / 34 2 /34
3 Giữa kì II 11 / 34 16 / 34 05 / 34 2 /34
4 Cuối kì II 12 / 34 17 / 34 04 / 34 1 / 34
PHẦN 3
GV thực hiện: Huỳnh Thị Ánh Tuyết 22 Trường Tiểu học Phổ Quang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status