Chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn ở TP hồ chí minh - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

_______________
NGUYỄN ĐỨC HUY

CHÍNH SÁCH NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỤM NGÀNH CÔNG NGHIỆP VI MẠCH BÁN DẪN
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

_______________

biết của tôi. Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2014
Tác giả

Nguyễn Đức Huy ii

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Đinh Công Khải và toàn
thể các thầy cô thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, những người đã tận tình
giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Kế đến, tôi xin cảm ơn tất cả những thầy cô làm việc tại Phòng Lab, Thư viện cũng như
các phòng, ban khác của nhà trường vì những sự hỗ trợ, giúp đỡ và chỉ dẫn tận tình dành
cho tôi.

nghiệp, mở rộng hợp tác đào tạo với nước ngoài, chọn lựa các cơ sở đào tạo nước ngoài có
uy tín cao, có cơ sở vật chất hiện đại và có nguồn giảng viên có chất lượng, cũng cần chú
trọng đào tạo nguồn nhân lực tham gia trực tiếp vào sản xuất vi mạch bán dẫn. Thành phố
nên có kế hoạch sử dụng nguồn tài nguyên vốn cụ thể cho từng nội dung của chương trình
phát triển vi mạch để giúp cho việc sử dụng vốn luôn được đúng lúc đúng chỗ. Thành phố
cần đầu tư thêm cho các tổ chức nghiên cứu như ICDREC, Trung tâm Nghiên cứu Triển
khai của KCNC và Đại học Quốc gia TP.HCM với những đề tài đặt hàng mang tính thực
tiễn cao từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội. Nhà máy sản xuất vi mạch trong
KCNC nên đầu tư theo hướng sản xuất theo chính thiết kế của mình, lựa chọn mua công
nghệ ban đầu theo ý kiến tham vấn của chuyên gia hàng đầu, rồi dần phát triển cao hơn
bằng hoạt động nghiên cứu trong nước. Thành phố cần thu hút thêm các nhà đầu tư vi
mạch bán dẫn hàng đầu thế giới để gia tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
cụm ngành, quan tâm hơn đến việc góp ý chính sách phát triển vi mạch từ doanh nghiệp,
và phải giữ vai trò chủ yếu trong việc tiêu thụ các sản phẩm vi mạch bán dẫn nội địa trong
giai đoạn đầu. Thành phố cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành vi mạch bán
dẫn, liên kết ngành vi mạch với các ngành có liên quan bằng cách đẩy mạnh nghiên cứu
ứng dụng sản phẩm vi mạch dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp từ các ngành liên quan.

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ HỘP vii
DANH MỤC PHỤ LỤC viii
CHƯƠNG 1

3.4 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan 25
3.4.1 Công nghiệp hỗ trợ 25
3.4.2 Các ngành liên quan 26
3.5 Tổng hợp phân tích 28
CHƯƠNG 4
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ 32
4.1 Kết luận 32
4.2 Các khuyến nghị chính sách 32
4.3 Hạn chế của đề tài 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 40
vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt
ICDREC Vietnam National University -
Integrated Circuit Design Research
and Education Center
Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo
Thiết kế Vi mạch - Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
KCNC Saigon Hi-tech Park Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ
Chí Minh
TP.HCM Ho Chi Minh City Thành phố Hồ Chí Minh
UBNDTP Ho Chi Minh People’s Commitee Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh

Hình 2.4 Năng lực sản xuất sản phẩm điện tử của Trung Quốc và thị phần trên thế
giới, 2008 – 2011 …………………………………………………………………….
42

Hình 3.1 Mức lương trung vị phân theo nhóm đơn vị sử dụng lao động có tính học
thuật/phi học thuật và theo nhóm thu nhập quốc gia ………………………………
42

Hình 3.2 Mức lương trung vị phân theo khu vực …………………………………….

43

Hình 3.3 Các đề án trong Chương trình phát triển vi mạch TP.HCM …………….… 22

Hình 3.4 Kết quả 10 chỉ số thành phần PCI giai đoạn 2011 – 2013 ………………… 43

Hình 3.5 Phân bổ các đơn vị hoạt động trong ngành vi mạch bán dẫn ở Việt Nam … 44

Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp thuộc các ngành có liên quan
đến vi mạch bán dẫn, giai đoạn 2008 – 2011 (so với năm 2005) …………………….

28

Hình 3.7 Kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành vi mạch tại TP.HCM
theo mô hình kim cương ……………………………………………………………
30

Hình 3.8 Sơ đồ cụm ngành vi mạch tại TP.HCM …………………………………… 31

Hộp 1.1 Thông tin về GS.TS Đặng Lương Mô 40

1
. Thêm vào đó, ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn giúp gia
tăng sức mạnh của quốc gia
2
, chỉ tính riêng năm 2013 thì doanh số toàn cầu của ngành đã
đạt mức 305,6 tỷ USD
3
, và Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia nắm giữ thứ
hạng hàng đầu thế giới trong ngành vi mạch hiện nay
4
.
Tại Việt Nam, chuyên gia Đặng Lương Mô (xem Hộp 1.1 tại Phụ lục 1) được xem là người
khai sinh cho ngành vi mạch bán dẫn vì ông đã đặt nền móng cho sự ra đời của Trung tâm
Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế vi mạch thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
(ICDREC), Phòng Nghiên cứu Thiết kế và Mô phỏng vi mạch và Chương trình đào tạo sau
đại học hướng vi điện tử của Đại học Quốc gia TP.HCM
5
. Chỉ sau 5 năm kể từ khi được
thành lập, ICDREC đã gặt hái được thành tích ban đầu bằng sự kiện công bố việc thiết kế
và thử nghiệm thành công chip vi xử lý 32 bit VN1632 vào ngày 27/10/2010 với khả năng
đáp ứng công tác xử lý thông tin, hình ảnh, âm thanh, mã hóa và giải mã dữ liệu … dù còn
khó khăn về vấn đề chưa có chế độ giảm công suất, tuy nhiên, ICDREC khẳng định vấn đề
này sẽ được xử lý để có thể ứng dụng rộng rãi con chip VN1632
6
. Thêm vào đó, Trung tâm
Nghiên cứu Triển khai của KCNC cũng vừa công bố việc chế tạo và thương mại hóa thành

1
IEEE (2012)
2

máy kiểm định và đóng gói chip trong Khu Công nghệ cao TP.HCM với vốn đầu tư đăng
ký là 1 tỷ USD, (ii) môi trường thu hút đầu tư tương đối tốt vì tiếp tục là địa phương dẫn
đầu trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn thu hút lũy kế là 32,2 tỷ USD
tính đến năm 2012
8
. Ngoài ra, Thành phố còn có Hội Công nghệ Vi mạch Bán dẫn
TP.HCM ra mắt vào ngày 15/3/2013 tại Hội nghị triển khai chương trình phát triển công
nghiệp vi mạch theo Quyết định 6358/QĐ-UBND nêu trên
9
.
Từ các nội dung trên, có thể thấy cụm ngành vi mạch bán dẫn ở TP.HCM hiện mới hình
thành và đang ở giai đoạn sơ khai. Điều này có thuận lợi là dễ điều chỉnh chính sách và
định hướng phát triển, đồng thời cũng có bất lợi do đi sau khá xa so với các quốc gia khác
nên sẽ không dễ phát triển để tiến đến cạnh tranh trong tương lai. Hơn thế nữa, vì đây là

7
Dương Minh Tâm (2013)
8
Cục Đầu tư nước ngoài (2013)
9
Quốc Hùng (2013)
3

cụm ngành vi mạch bán dẫn đầu tiên ở Việt Nam nên cần thiết phải tìm hiểu và làm rõ các
điểm yếu cùng những tiềm năng trong năng lực cạnh tranh của cụm ngành này, từ đó tìm
cách cải thiện các điểm yếu và tận dụng những tiềm năng này để giúp nâng cao năng lực
cạnh tranh cụm ngành vi mạch ở Thành phố trong tương lai.
Vấn đề chính sách được đặt ra là đánh giá năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi
mạch bán dẫn tại Thành phố Hồ Chí Minh và xác định Nhà nước cần làm gì để giúp nâng
cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành này trong tương lai, nhằm phát triển cụm ngành vi

Bước một, tổng quan về khung phân tích cụm ngành của Michael Porter và tổng hợp những
bài học kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn của Trung Quốc, Nhật
Bản và Hàn Quốc.
Bước hai, tham khảo ý kiến một chuyên gia thông qua phỏng vấn trực tiếp để thu thập
thông tin về cụm ngành vi mạch bán dẫn của TP.HCM cùng các ý kiến góp ý phát triển
cụm ngành này. Cụ thể chuyên gia này là PGS.TS Lê Hoài Quốc - Trưởng ban Ban Quản
lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị có uy tín và có liên quan chặt chẽ
đến chương trình phát triển ngành công nghiệp vi mạch của Thành phố Hồ Chí Minh.
Bước ba, thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành
phố Hồ Chí Minh theo khung phân tích mô hình kim cương của Michael Porter.
Bước bốn, sử dụng kết quả nghiên cứu ở ba bước trên để tổng hợp, đưa ra kết luận và các
khuyến nghị chính sách giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành vi mạch bán dẫn
ở Thành phố trong tương lai.

5

1.4 Nguồn dữ liệu và thông tin của nghiên cứu
Luận văn sử dụng các dữ liệu thứ cấp và thông tin lấy từ trang thông tin chính thức của các
cơ quan nhà nước, các trang báo mạng uy tín ở Việt Nam vì cụm ngành vi mạch bán dẫn ở
TP.HCM đang ở giai đoạn sơ khai nên không có nhiều dữ liệu sơ cấp để thu thập và sử
dụng. Ngoài ra, luận văn cũng sẽ sử dụng dữ liệu từ các bài báo, thông tin khoa học về phát
triển công nghiệp vi mạch từ các nguồn có uy tín và giá trị. Cuối cùng, luận văn cũng sẽ sử
dụng một số bài học kinh nghiệm phát triển vi mạch bán dẫn của Trung Quốc, Nhật Bản và
Hàn Quốc cùng những ý kiến tham khảo từ chuyên gia để phân tích và đưa ra những
khuyến nghị chính sách.
1.5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có 4 chương. Chương 1 đưa ra bối cảnh hình thành luận văn, mục tiêu và
câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 giới thiệu
cơ sở lý thuyết, khung phân tích của nghiên cứu cùng những bài học kinh nghiệm từ Trung
Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Chương 3 thể hiện nội dung phân tích năng lực cạnh tranh

chiều sâu và độ phức tạp của nó. Một cụm ngành điển hình thường bao gồm các doanh
nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các
doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch vụ, các ngành liên quan (sản
xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng), các thể chế hỗ trợ (tài chính, giáo dục, nghiên cứu,
cơ sở hạ tầng), …
Một cụm ngành có thể được hình thành và phát triển nhờ vào (i) những điều kiện tự nhiên
và sự có sẵn của các nhân tố sản xuất, hay (ii) những điều kiện về nhu cầu, hay (iii) một
hoặc một số doanh nghiệp chủ chốt, hay (iv) sự thành công của các cụm ngành đã hình
thành từ trước, hay (v) sự đầu tư của nhà nước. Sự phát triển của cụm ngành có vai trò
quan trọng đối với phát triển kinh tế vì giúp tăng cường cạnh tranh, đẩy mạnh hợp tác, tạo
hiệu ứng cộng hưởng và tác động lan tỏa để đưa đến kết quả cuối cùng là tăng năng suất,

10
Vũ Thành Tự Anh (2013)
7

đổi mới, thương mại hóa và khởi nghiệp. Tuy nhiên, để cạnh tranh thành công thì các cụm
ngành phải dựa vào một hay một số lợi thế đặc thù tương ứng với từng hoàn cảnh cụ thể.
Nhà nước có thể sử dụng cách tiếp cận cụm ngành để thực hiện các chiến lược và mục tiêu
của mình, nhưng nếu can thiệp thái quá thì có thể dẫn đến thất bại của nhà nước vì sự hình
thành và phát triển của cụm ngành cũng tuân theo quy luật nhất định. Ngày nay, sự phát
triển của tất cả các cụm ngành đều phụ thuộc vào sự trỗi dậy của các doanh nghiệp then
chốt, từ đó thu hút tiếp các doanh nghiệp cạnh tranh và các doanh nghiệp công nghiệp hỗ
trợ. Khi đã đạt được hiệu quả theo quy mô thì các tác động tương hỗ giữa các thành phần
trong cụm ngành sẽ giúp duy trì sự phát triển của cụm ngành.
2.2 Khung phân tích của nghiên cứu
Mô hình kim cương phản ánh quan niệm của Michael Porter về những lợi thế cạnh tranh có
tính địa phương, bao gồm bốn nhân tố cụ thể như sau:
Những điều kiện nhân tố đầu vào, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên con người,
tài nguyên vốn, cơ sở hạ tầng khoa học, cơ sở hạ tầng thông tin, … Điều kiện về cơ sở hạ
Nguồn: Porter (2008)
Môi trường chính sách
giúp phát huy chiến
lược kinh doanh và
cạnh tranh

Những điều kiện
nhân tố đầu vào

Những điều
kiện cầu

Các ngành công nghiệp
hỗ trợ và có liên quan


Môi trường nội địa khuyến
khích các dạng đầu tư và nâng
cấp bền vững

2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Năm 2004, PricewaterhouseCoopers đã thực hiện loạt báo cáo tình huống “China’s Impact
on the Semiconductor Industry” để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của khách hàng của họ đối
với sự phát triển vượt bậc của ngành bán dẫn Trung Quốc. Trải qua gần 10 năm kể từ báo
cáo đầu tiên của PricewaterhouseCoopers, trong báo cáo cập nhật vào năm 2012 có tên
“Another year of strong growth China’s Impact on the Semiconductor Industry 2012
update”, Trung Quốc vẫn gây ấn tượng khi thị trường vi mạch bán dẫn của nước này đạt
mức tăng trưởng 14,6% trong năm 2011 và chiếm 47% thị trường toàn cầu, dù đây đang là
thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu (xem Hình 2.2 tại Phụ lục 1).
Trung Quốc đã phát triển ngành vi mạch bán dẫn của họ một cách nhanh chóng và đạt
được những thành công ấn tượng thế giới nhờ vào ba yếu tố sau:
Một là, chính sách thu hút đầu tư của Trung Quốc dựa vào lợi thế giá thuê đất thấp và
nhân công giá rẻ, song song đó, họ cũng đầu tư nhiều cho cơ sở hạ tầng cứng. Kết quả là
Trung Quốc thu hút được các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực vi mạch
như Intel, Samsung, Toshiba, TI, Hynix, ST, Freescale và NXP/Philip …, nhờ đó tiếp tục
có được sự hiện diện của các công ty là nhà cung cấp hàng đầu cho các công ty đa quốc
này.
Hai là, quy mô thị trường nội địa về sản phẩm điện tử của Trung Quốc là rất lớn với lợi thế
về dân số, đặc biệt là cộng thêm nhu cầu từ thị trường toàn cầu khi có đến 63% sản phẩm
vi mạch bán dẫn của Trung Quốc được sử dụng trong các sản phẩm điện tử hoàn chỉnh và
tiêu thụ ở các quốc gia khác, tốc độ tăng trưởng thị trường bán dẫn Trung Quốc hầu như
luôn cao hơn thế giới (xem Hình 2.3 tại Phụ lục 1). Ngoài ra, các công ty đa quốc gia cũng
thấy được cơ hội phát triển từ nhu cầu thị trường nội địa về sản phẩm điện tử ở Trung
Quốc, đặc biệt là sản phẩm điện thoại thông minh và các sản phẩm giải trí cầm tay như
máy tính bảng, máy nghe nhạc (nhu cầu của hai dòng sản phẩm này trong năm 2011 ở
Trung Quốc lần lượt là 6 tỷ USD và 3,6 tỷ USD).
10

Ba là, chiến lược phát triển ngành vi mạch của Trung Quốc luôn có kế hoạch rõ ràng và

Đã trích dẫn ở mục 4
11

Bảng 2.1 Doanh thu của các cường quốc vi mạch bán dẫn theo thời gian
Đơn vị tính: Tỷ USD
Quốc gia Năm 1987 Năm 1988 Năm 2001 Năm 2010
Nhật Bản 16,429 23,166
30,18 47,242
Hoa Kỳ 9,856 11,729
47,33 100,833
Hà Lan 1,602 1,738 4,41 4,021
Pháp và Ý 0,851 1,087 6,36 10,290
Đức 0,657 0,784 4,56 6,226
Hàn Quốc

0,905 7,61 38,411
Nguồn: Đặng Lương Mô (2011), Sự cần thiết của nhà máy chip điện tử trong quá trình công nghiệp hóa đất
nước, Đại học Quốc gia TP.HCM
VL Project là một kế hoạch được thực hiện trong 4 năm (1976 - 1980) và mang lại sự
thành công cho Nhật Bản trong việc phát triển ngành vi mạch bán dẫn nhờ vào các đặc
trưng sau:
Một là, lần đầu tiên và duy nhất Chính phủ khiến các công ty khổng lồ vốn đang cạnh tranh
khốc liệt với nhau như Fujitsu, Hitachi, Mitsubishi, NEC và Toshiba phải cùng nhau hợp
tác vì chính sự sống còn của họ.
Hai là, mục tiêu nghiên cứu là để tạo ra công nghệ nguồn không những về chế tạo vi mạch
mà cả về chế tạo thiết bị sản xuất vi mạch.
Ba là, quy tụ được những nhà nghiên cứu mà thành tích chuyên môn và nhân cách được
khẳng định bởi sự nể trọng mà xã hội và giới khoa học dành cho họ.
Bốn là, chủ nhiệm VL Project là Ông Masato Nebashi, vốn là một quan chức cao cấp của
Bộ Thương nghiệp quốc tế và Công nghiệp Nhật Bản, ông nổi tiếng có tính quyết đoán

Bốn là, ngân sách tập trung đầu tư cho các trường đại học và các viện nghiên cứu có uy
tín và đặt hàng những đề tài nghiên cứu mang tính thực tiễn cao lấy từ ý kiến đóng góp
của các doanh nghiệp.

12
Đã trích dẫn ở mục 4
13

CHƯƠNG 3
NĂNG LỰC CẠNH TRANH HIỆN TẠI CỦA CỤM NGÀNH CÔNG NGHIỆP VI
MẠCH BÁN DẪN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1 Những điều kiện nhân tố đầu vào
Thành phố Hồ Chí Minh được công nhận là một trong những thành phố năng động và hiện
đại nhất ở Việt Nam, các điều kiện nhân tố đầu vào như cơ sở hạ tầng vật chất, cơ sở hạ
tầng quản lý và cơ sở hạ tầng thông tin đều được chính quyền Thành phố chú trọng đầu tư
tối đa với những nguồn lực phù hợp trong khả năng. Trong báo cáo chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh năm 2013, Thành phố Hồ Chí Minh cùng Đà Nẵng, Bình Dương, Bà Rịa -
Vũng Tàu và Bắc Ninh là các tỉnh được đánh giá tốt nhất về cơ sở hạ tầng
13
.
Theo quan điểm của tác giả, có ba điều kiện nhân tố đầu vào mang tính quyết định cho việc
phát triển ngành vi mạch bán dẫn ở TP.HCM, đó chính là (i) Tài nguyên con người, (ii) Tài
nguyên vốn và (iii) Cơ sở hạ tầng khoa học, vì các lý do sau:
Thứ nhất, đặc điểm nổi bật nhất của nguồn tài nguyên con người chính là tính sáng tạo,
chính sự sáng tạo mang lại những đổi thay không ngừng cho cuộc sống và làm thế giới
phát triển. Vì vậy, phải có được những người thực sự giỏi và đầy đam mê thì mới có thể
mang đến những sáng tạo giúp phát triển ngành vi mạch bán dẫn cho TP.HCM.
Thứ hai, nếu nguồn tài nguyên vốn được bảo đảm thì mới có thể thực hiện được những đầu
tư cần thiết giúp tạo môi trường thuận lợi cho việc nghiên cứu, thiết kế và sản xuất vi mạch
bán dẫn.

giảng vào tháng 4/2014 vừa qua, tuy nhiên, nguồn nhân lực này sẽ được ưu tiên phục vụ
cho ngành vi mạch Đà Nẵng
15
, và do đó cũng không giúp bổ sung nhiều cho cụm ngành vi
mạch ở TP.HCM trong tương lai gần.
Vấn đề đào tạo trong ngành vi mạch hiện có những tín hiệu tốt, cho thấy tiềm năng về chất
lượng nguồn nhân lực của ngành trong tương lai, đó là sự kiện ICDREC đã tổ chức khai
giảng khóa đào tạo đầu tiên về thiết kế vi mạch tương tự (Analog +1) - nằm trong “Chương
trình phát triển công nghiệp vi mạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 - 2020” - vào
ngày 27/12/2013, với sự tham gia của các giáo sư của các trường đại học kỹ thuật danh
tiếng từ Nhật Bản và Thụy Sĩ cùng đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm từ ICDREC và từ
các trường đại học hàng đầu Việt Nam, nhằm mục tiêu đào tạo được đội ngũ kỹ sư thiết kế

14
Bá Tân (2013)
15
Thanh Liêm (2014)
15

vi mạch tương tự có trình độ chuyên môn ngang bằng quốc tế nhờ vào việc tiếp xúc với
môi trường đào tạo và kỹ thuật đẳng cấp thế giới
16
.
Mức lương trung vị của nguồn nhân lực ngành vi mạch giữa nhóm nước thu nhập cao và
nhóm nước thu nhập thấp - theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới - lần lượt là 108.000
USD và 24.936 USD (xem Hình 3.1 tại Phụ lục 1). Thêm vào đó, mức lương trung vị ở
khu vực châu Á của nhóm nước thu nhập cao và nhóm nước thu nhập thấp lần lượt là
66.810 USD và 16.163 USD (xem hình 3.2 tại Phụ lục 1). Có thể thấy ở nhóm nước thu
nhập thấp, bình quân lương tháng của nguồn nhân lực vi mạch sẽ khoảng 2.000 USD và
của nguồn nhân lực nói chung sẽ khoảng 1.300 USD, hai con số này trên thực tế còn cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status