B GIO DC V O TO B TI CHNH
HC VIN TI CHNH
NGUYN TH THY NGA HUY ĐộNG VốN ĐầU TƯ PHáT TRIểN
CƠ Sở Hạ TầNG GIAO THÔNG ĐƯờNG Bộ
TRÊN ĐịA BàN TỉNH HảI DƯƠNG LUN N TIN S KINH T
H NI - 2015
B GIO DC V O TO B TI CHNH
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Thúy Nga
HẢI DƯƠNG 54
1.4.1. Kinh nghiệm trên thế giới 54
1.4.2. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 65 1.4.3. Bài học kinh nghiệm về huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông đường bộ đối với tỉnh Hải Dương 70
Tiểu kết chương 1 71
Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HẢI DƯƠNG 72
2.1. ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ HẠ
TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 72
2.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương 72
2.1.2. Thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh
Hải Dương 76
2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ
TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 89
2.2.1. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 89
2.2.2. Thực trạng huy động vốn từ khu vực nhà nước đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 92
2.2.3. Thực trạng huy động vốn từ khu vực ngoài nhà nước đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương 104
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 108
2.3.1. Những kết quả đạt được 108
2.3.2. Những hạn chế 111
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 113
3.5.3. Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ của tỉnh Hải Dương 146
3.5.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiện toàn bộ máy quản lý
tài chính 147
3.5.5. Ổn định kinh tế vĩ mô 148
Tiểu kết chương 3 149
KẾT LUẬN 150
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
BOT Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
BTO Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh
BT Xây dựng - Chuyển giao
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CSHT Cơ sở hạ tầng
CSHT GTĐB Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
CNN Cụm công nghiệp
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
ĐH Đường huyện
ĐT Đường tỉnh
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GTNT Giao thông nông thôn
HHCC Hàng hóa công cộng
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
thôn mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2014 85
Bảng 2.8: Hiện trạng các bến xe khách trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2014 87
Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn VĐT GTĐB trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn
2010-2014 89
Bảng 2.10: Cơ cấu nguồn VĐT GTĐB khu vực nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải
Dương giai đoạn 2010-2014 97
Bảng 2.11: Tổng hợp giải ngân vốn TPCP cho lĩnh vực giao thông giai đoạn
2010-2014 99
Bảng 2.12: Phân tích cơ cấu VĐT GTĐB khu vực nhà nước trên địa bàn tỉnh
Hải Dương giai đoạn 2010-2014 102
Bảng 3.1: Quy hoạch phát triển đường cao tốc qua địa bàn tỉnh Hải Dương đến
năm 2020 và định hướng đến năm 2030 120
Bảng 3.2: Quy hoạch phát triển GTVT đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và
định hướng đến năm 2030, các quốc lộ qua địa bàn tỉnh Hải Dương 120
Bảng 3.3: Quy hoạch phát triển đường tỉnh lộ 121
Bảng 3.4: Quy hoạch phát triển giao thông nông thôn 122
Bảng 3.5: Xây dựng bến xe khách, bến đỗ bãi xe tĩnh trên địa bàn tỉnh Hải Dương 123
Bảng 3.6: Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư phát triển CSHT GTĐB tỉnh Hải
Dương 125
Bảng 3.7: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn
2010-2014 134
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu Tên biểu Trang
Biểu đồ 1.1: Tác động của đường bộ trong cải thiện khả năng tiếp cận của hộ
gia đình ở nông thôn 24
thống giao thông”[20]. Bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay đang và sẽ
tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho việc thực hiện các mục tiêu phát
triển KT-XH, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng bền vững. Do vậy, việc xác
định khâu đột phá chiến lược xây dựng hệ thống CSHT đồng bộ nhằm đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
là rất cần thiết và cấp bách, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến
lược phát triển KT-XH nói chung và hình thành hệ thống GTĐB vững mạnh
và hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, tăng cường hội
nhập quốc tế, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhu cầu
vốn phục vụ phát triển kết cấu hạ tầng nói chung, CSHT GTĐB nói riêng tại
Việt Nam rất lớn mỗi năm Việt Nam cần từ 16-17 tỷ USD cho phát triển kết
cấu hạ tầng, trong khi khả năng đáp ứng theo phương thức truyền thống là từ 2
ngân sách chỉ khoảng 50-60% [2]. Vì thế, huy động vốn bổ sung từ nguồn đầu
tư tư nhân trong và ngoài nước là hết sức quan trọng, mà nguồn lực này hiện
khá lớn. Chính vì vậy, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp huy động VĐT phát
triển CSHT GTĐB là cần thiết đối với các địa phương ở nước ta hiện nay.
Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, là một trong 7
tỉnh, thành phố trung ương thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và ở vào vị trí
cầu nối của tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Trong những
năm qua, các cấp chính quyền và nhân dân tỉnh Hải Dương đã chú trọng quan
tâm huy động VĐT phát triển CSHT GTĐB và đã góp phần làm thay đổi bộ mặt
đời sống KTXH của địa phương. Tuy nhiên, kết quả đem lại còn nhiều hạn chế,
hệ thống CSHT GTĐB mặc dù đã được phát triển đáng kể, song với nhu cầu
phát triển KTXH của tỉnh ngày càng cao cùng với sự gia tăng dân số, gia tăng
các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án có VĐT nước ngoài, hệ thống CSHT
GTĐB hiện tại vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của đời sống KTXH
2014, giải pháp huy động VĐT phát triển CSHT GTĐB trên địa bàn tỉnh Hải
Dương đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác-Lênin được sử dụng thống nhất trong quá trình nghiên cứu của
luận án. Đồng thời sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau
trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án:
- Phương pháp thu thập số liệu
Trong phạm vi nghiên cứu luận án chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp.
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp được sử dụng để chắt lọc, hệ thống hóa,
đánh giá cơ sở thực tiễn có liên quan đến đề tài luận án.
Ngoài ra, thu thập số liệu thứ cấp về VĐT, phương thức huy động VĐT
phát triển CSHT GTĐB tại sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Giao thông vận tải, sở Tài
chính, cục Thống kê và các phòng ban khác ở tỉnh Hải Dương, số liệu đầu tư từ
Quỹ đầu tư phát triển Hải Dương, Nguồn gốc của các tài liệu này đều được chú
thích rõ ràng sau mỗi bảng số liệu.
- Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật và
tính toán tùy theo mục đích và nội dung nghiên cứu, phân tích của đề tài trên
chương trình Excel 2007 của Microsoft, để xử lý thống kê và xem xét mối tương
quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu để cung cấp tư liệu cũng như các luận cứ khoa
học phục vụ cho công tác tổng hợp nghiên cứu của đề tài. 4
- Phương pháp phân tích đánh giá
+ Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện
tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển
của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được. Phương pháp này
phải xúc tiến đầu tư từ khu vực tư nhân thông qua quan hệ đối tác công-tư. Tuy
nhiên để huy động vốn theo phương thức quan hệ đối tác công-tư, cần phải có
một khung pháp lý, bộ máy quản lý nhà nước và hỗ trợ ngân sách cho PPP, hoàn
chỉnh đảm bảo tính cạnh tranh và quy trình minh bạch.
Asian Development Bank (2008), Public - Private - Partnership Hand book,
Published 2008, Printed in the Philippines. Cuốn sổ tay “Hợp tác công tư (PPP)”
được thiết kế cho các nhân viên của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và
khách hàng của các nước thành viên đang phát triển với nội dung cung cấp một
cái nhìn tổng quan về vai trò, thiết kế, cấu trúc và thực hiện PPP để phát triển
CSHT. Với sự đóng góp từ chính sách và các chuyên gia giao dịch, cuốn sổ tay
này đề cập đến một loạt các vấn đề liên quan đến PPP, từ những cân nhắc chính
sách để thực hiện vấn đề. Cuốn sổ tay này có nghĩa giới thiệu để thiết kế và thực
hiện các chiến lược, các dự án PPP trong bối cảnh tài chính phát triển.
Jon Valentine, Intern (2008), Public-Private Partnerships in Infrastructure:
Best-Practices from the International Experience and Applications for Thailand,
National Economic and Social Development Board (NESDB), Thailand, August
2008. Trên cơ sở phân tích quan hệ đối tác công - tư phát triển CSHT từ kinh
nghiệm quốc tế và ứng dụng cho Thái Lan góp phần đẩy mạnh tăng trưởng và
phát triển kinh tế trong dài hạn. Thông qua các quy định về đối tác công - tư
nhằm khuyến khích các các nhà đầu tư tư nhân và nhà nước liên doanh trong các
dự án hạ tầng lớn. Đồng thời, khẳng định rằng việc thẩm định các dự án đầu tư
đã góp phần tăng cường tính minh bạch, giữ vững lòng tin của các nhà đầu tư,
bảo đảm công bằng và trách nhiệm giải trình.
ADBI Working Paper Series (2010),“Financing Asia’s Infrastructure: Modes
of Development and Integration of Asian Financial Markets”, Biswa Nath
Bhattacharyay, No. 229 July 2010.Nội dung nghiên cứu các vấn đề và thách thức
trong việc sử dụng nguồn lực tài chính phát triển CSHT. Đồng thời, cũng đưa ra các
khuyến nghị liên quan đến việc sử dụng các giải pháp tài chính thông qua việc lựa
chọn và làm thế nào để các nước có thể tiếp cận với thị trường tài chính châu Á
quản lý sử dụng có hiệu quả VĐT cho CSHT GTĐB của Việt Nam trong tương lai.
Trần Xuân Hà (2008), Sử dụng công cụ trái phiếu Chính phủ để huy động
vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính,
luận án đã hệ thống hoá và góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận, nhận thức
có giá trị làm nền tảng cho các nội dung nghiên cứu: từ tổng quan về công cụ trái 7
phiếu Chính phủ, các hình thức huy động và vai trò của nó đối với quá trình phát
triển nền kinh tế; đưa ra được các nhận xét đánh giá xác đáng về kết quả đạt được
cũng như những hạn chế và nguyên nhân gây ra những bất cập trong quá trình huy
động vốn thông qua quá trình phát hành trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam, từ đó đã
nghiên cứu, đề xuất hai nhóm giải pháp vĩ mô và vi mô với nhiều giải pháp cụ thể
nhằm sử dụng công cụ trái phiếu Chính phủ để huy động vốn cho đầu tư phát triển
ở Việt Nam đến năm 2020.
Bùi Văn Khánh (2010), Huy động nguồn lực tài chính xây dựng Kết cấu hạ
tầng GTĐB trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính,
luận án đã hệ thống hoá và làm rõ thêm được cơ sở lý luận về kết cấu hạ tầng
GTĐB; các nguồn lực tài chính và các kênh huy động VĐT phát triển kết cấu hạ
tầng GTĐB. Luận án còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến huy động
nguồn lực tài chính xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB; phân tích, đánh giá thực trạng
kết cấu hạ tầng GTĐB và thực trạng huy động các nguồn lực tài chính phát triển hệ
thống cầu, đường bộ trên địa bàn tỉnh Hoà Bình từ năm 2001 đến 2010. Từ đó đánh
giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong việc huy động các nguồn
lực tài chính cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng GTĐB trên địa bàn tỉnh Hoà
Bình, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động các nguồn lực tài
chính xây dựng kết cấu hạ tầng GTĐB của tỉnh Hòa Bình trong những năm tới.
Phạm Thị Túy (2006), Thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển kết cấu
hạ tầng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, luận án đã hệ
sông Hồng (ĐBSH) đến năm 2030 theo hướng hiện đại, Luận án tiến sĩ kinh tế,
Viện Chiến lược phát triển, luận án đã làm rõ nhận thức và quan niệm về KCHT,
phát triển KCHT giao thông theo hướng hiện đại; đưa ra được bộ chỉ tiêu đánh giá
tính hiện đại, đồng bộ của KCHT giao thông, phân tích, đánh giá KCHT giao thông
Vùng ĐBSH trên quan điểm hiện đại. Luận án đã đề xuất được hệ thống các quan
điểm phát triển KCHT giao thông nói chung; phương hướng phát triển KCHT giao
thông Vùng ĐBSH giai đoạn đến năm 2030 theo hướng hiện đại và đề xuất giải
pháp trong việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao
thông; đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong đầu tư xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng giao thông.
Dương Văn Thái (2015), Huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học
viện Tài chính, luận án đã đề cập những nội dung cơ bản về kết cấu hạ tầng giao
thông đường bộ những vấn đề lý luận về KCHT GTĐB, bao gồm: khái niệm, đặc
điểm, phân loại Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về vốn đầu tư phát triển 9
KCHT GTĐB và huy động vốn đầu tư phát triển KCHT GTĐB. Đánh giá thực
trạng huy động vốn đầu tư phát triển KCHT GTĐB tại tỉnh Bắc Giang trong giai
đoạn 2001 - 2013. Đề xuất giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển trong nước,
nước ngoài cho giai đoạn từ nay đến 2020 và tầm nhìn đến 2030.
Nguyễn Xuân Thành (2010), Những trở ngại về cơ sở hạ tầng của Việt
Nam, Chương trình phát triển liên hợp quốc, tài liệu đối thoại chính sách
Harvard - UNDP. Tác giả đã nhận định các nước thành công phải cung cấp được
cơ sở hạ tầng cần thiết cho nền kinh tế và cho xã hội để duy trì tăng trưởng. Kinh
nghiệm của các nước phát triển cho thấy đầu tư khoảng 7% GDP vào CSHT là
qui mô vừa đúng để duy trì tăng trưởng cao và bền vững. Trong khoảng thời gian
12 năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có thể duy trì mức đầu tư CSHT là
vào CSHT của Hà Nội. Tác cũng đưa ra một số giải pháp nhằm áp dụng hình thức
thu hút vốn này để phát triển CSHT cho Hà Nội.
Trịnh Mạnh Linh (2013), “Tìm vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng”, Tạp
chí Kinh tế và Dự báo, số 7/2013, Trong bài báo, tác giả đã nhận định đầu tư xây
dựng, nâng cấp, cải tạo kết cấu hạ tầng luôn là yêu cầu cấp thiết để phát triển
kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, nguồn vốn để thực hiện việc này là không nhỏ và
nguồn lực từ ngân sách nhà nước không thể đáp ứng đủ. Vậy, có thể tìm vốn ở
đâu và bằng cách nào? Đồng thời tác giả đã nêu kinh nghiệm của các nước trong
khu vực, xu hướng chung là tìm kiếm sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân để
bổ sung vốn đầu tư kết cấu hạ tầng. Nhà nước chỉ thể hiện vai trò là chủ thể tạo
môi trường đầu tư thuận lợi nhất để giải phóng nguồn lực và thu hút sự tham gia
của các thành phần, lực lượng khác trong xã hội. Tác cũng đưa ra một số giải
pháp để thu hút được các nguồn vốn bên ngoài ngân sách nhà nước vào đầu tư
phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam.
Ngô Anh Tín (2013), “Trái phiếu đô thị, kênh huy động để đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng trong thời kỳ khó khăn về nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước Thành phố Cần Thơ”, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 11(21), tháng 7-
8/2013, Trong bài báo, tác giả đã nhận định hiện nay, nguồn thu từ NSNN tại
Thành phố Cần Thơ nói riêng và các thành phố lớn trên cả nước nói chung, hằng
năm đều dành phần lớn để đầu tư phát triển CSHT và chính quyền địa phương
xem đây là nguồn vốn đầu tư trọng tâm để phát triển đô thị. Bên cạnh đó Trung
ương đang thực hiện chính sách phi tập trung hóa NSNN, giảm dần các khoản hỗ
trợ ngân sách cho các địa phương. Vì vậy, để chủ động bổ sung nguồn tài chính
thiếu hụt cho lĩnh vực đầu tư, các địa phương thường sử dụng 2 cách là: vay vốn
nhàn rỗi kho bạc nhà nước và vay thông qua thị trường tài chính bằng cách phát 11
hành trái phiếu. Tác giả đã phân tích những lợi ích của phát hành trái phiếu đô
12
giao thông Vùng Đồng bằng sông Hồng, luận án tiến sĩ của Đỗ Đức Tú; Huy động
vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang, luận án tiến sĩ của Dương Văn Thái. Những công trình nghiên cứu này chủ
yếu bàn về nội dung các nguồn vốn huy động để đầu tư phát triển CSHT nói
chung hoặc CSHT GTĐB nói riêng, chưa đề cập sâu và có hệ thống về lý luận và
thực tiễn huy động các nguồn VĐT phát triển CSHT GTĐB trong nền kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở phạm vi cả nước hoặc ở các địa phương khác,
không phải là tỉnh Hải Dương.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương” theo hướng tiếp cận
phương thức huy động các nguồn VĐT phát triển CSHT GTĐB trong nền kinh tế
thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong
giai đoạn hiện nay đối với tỉnh Hải Dương.
Thứ hai, đối chiếu với nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
mà nghiên cứu sinh dự kiến thực hiện cho thấy: Những kết quả nghiên cứu về lý
luận và thực tiễn của những công trình nghiên cứu như đã trình bày ở trên là
những tư liệu quý cho việc xem xét vận dụng vào đề tài của luận án ở những mức
độ nhất định. Tuy nhiên, với nội dung, phạm vi và thời gian, không gian nghiên
cứu triển khai luận án của nghiên cứu sinh khác so với công trình nghiên cứu
trước. Luận án của nghiên cứu sinh, tiếp cận vấn đề nghiên cứu huy động VĐT
phát triển CSHT GTĐB, theo góc độ lý luận và thực tiễn phương thức huy động
thích ứng với mỗi nguồn VĐT phát triển CSHT GTĐB trên địa bàn tỉnh Hải
Dương. Ngoài ra, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn từ năm 2010 đến
2014 và nghiên cứu đưa ra các giải pháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
cho riêng địa bàn tỉnh Hải Dương.
Như vậy, có thể khẳng định luận án mà nghiên cứu sinh dự kiến thực hiện
hội của quốc gia và của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015- 2020 tầm nhìn đến năm
2030 đảm bảo tính khả thi.
5. Ý nghĩa khoa học về lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa lý luận
- Khái quát hóa lý luận về CSHT GTĐB, phân tích làm rõ bản chất, đặc điểm
của CSHT GTĐB. Từ đó khẳng định CSHT GTĐB là HHCC không thuần túy. Đây
là cơ sở lý luận quan trọng để lựa chọn phương thức huy động VĐT phù hợp.
- Đồng thời, Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về huy động VĐT phát
triển CSHT GTĐB đặc biệt đi sâu về phương thức huy động VĐT từ các nguồn vốn. 14
Ý nghĩa thực tiễn
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng CSHT GTĐB và huy động VĐT
phát triển CSHT GTĐB trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010-2014. Qua
phân tích thực trạng đã chỉ ra những bất cập trong công tác huy động VĐT phát
triển CSHT GTĐB trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Luận án cũng chỉ rõ những nguyên
nhân chủ quan, khách quan dẫn đến những hạn chế đã nêu.
- Đề xuất các giải pháp huy động các nguồn VĐT phát triển CSHT GTĐB
trên địa bàn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2020 tầm nhìn đến năm 2030, và các
điều kiện thực hiện các giải pháp đề xuất đảm bảo tính khả thi.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả
đã được công bố và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được
kết cấu gồm 3 chương (135 trang)
Chương 1: Lý luận về cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và huy động vốn
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ (57 trang)
Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương (46 trang)
Theo quan điểm triết học: CSHT là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp
thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. CSHT của một xã hội cụ thể bao
gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ
sản xuất mầm mống của xã hội tương lai trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao
giờ cũng giữ vai trò chủ đạo chi phối các quan hệ sản xuất khác. Nó quy định xu
hướng chung của đời sống kinh tế xã hội. Bởi vậy CSHT của một xã hội cụ thể
được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội đó. Tuy vậy, quan hệ 16
sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất của xã hội mầm mống cũng có
những vai trò nhất định [25, tr 296, 297].
Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa CSHT: “cơ sở hạ tầng là một thuật
ngữ tổng hợp để chỉ những bộ phận kết cấu, nền tảng cho việc phát triển nền kinh
tế” [53].
Ngân hàng Thế giới đưa ra cách định nghĩa CSHT bằng việc chỉ ra những
lĩnh vực liên quan và cho rằng những tài sản vốn để hình thành những lĩnh vực này
được xem là CSHT [36].
Theo EPAC (Economic Planning and Advisory Commission - Hội đồng Kế
hoạch và Tư vấn kinh tế) CSHT bao gồm “những tài sản cố định nhằm cung cấp
các dịch vụ cơ bản trong một khoảng thời gian dài và trong thời gian đó Chính phủ
đóng vai trò quan trọng thông qua một, một số hoặc tất cả các chức năng như kế
hoạch, thiết kế, cấp vốn, xây dựng, vận hành và quản lý bằng pháp luật”.
Theo quan điểm của một số chuyên gia Nhật Bản cho rằng: “Cơ sở hạ tầng là
nền tảng mang tính hệ thống duy trì toàn bộ đời sống kinh tế quốc dân và cho hoạt
động sản xuất, là tài sản có tính công cộng mà không thể đảm bảo cung cấp đủ bằng
cơ chế thị trường” [36].
Từ các quan điểm của các nhà kinh tế về CSHT nêu trên, có thể rút ra một số
nhận xét sau: