BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VƯƠNG HỮU DŨNG ĐÁNH GIÁ VIỆC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI DỰ ÁN KHU NHÀ Ở K15
VÀ DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG HẠP LĨNH KHẮC NIỆM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH - TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN DUNG
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn
nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin sử dụng trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Tác giả luận văn
MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích 2
3 Yêu cầu 2
Chương 1 TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất 3
1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới 4
1.2.1 Trung Quốc 4
1.2.2 Thái Lan 6
1.2.3 Hàn Quốc 7
1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
ở Việt Nam 9
1.3.1 Những văn bản quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ 9
1.3.2 Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 17
1.3.3 Chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. 18
1.3.4 Nhận xét về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất 22
1.4 Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 26
3.3 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái
định cư trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.3.1 Tình hình công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 49
3.3.2 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất để thực hiện tại 2 dự án trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 53
3.3.3 Đánh giá chung 85
3.3.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường,
giải phóng mặt bằng 87
KẾT LUẬN 91
1 Kết luận 91
2 Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT TT Ký hiệu viết tắt Diễn giải đầy đủ
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
2 BT Bồi thường
3 CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
4 DV - TM Dịch vụ - Thương mại
ở K15 64
3.9 Tổng hợp đối tượng có đất bị thu hồi làm MB giao đất TĐC dự án khu
nhà ở K15 65
3.10 Tổng hợp số hộ được giao đất làm nhà ở tại khu TĐC của dự án nhà ở
K15 66
3.11 Tổng hợp thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân tại các xã, phường
thực hiện dự án xây dựng đường Hạp Lĩnh – Khắc Niệm 66
3.12 Tổng hợp chi trả tiền BT, hỗ trợ GPMB của các hộ dân dự án xây
dựng đường Hạp Lĩnh – Khắc Niệm 68
3.13 Tổng hợp đối tượng có đất bị thu hồi làm MB giao đất TĐC dự án xây
dựng đường Hạp Lĩnh – Khắc Niệm 68
3.14 Tổng hợp số hộ được giao đất làm nhà ở tại khu TĐC của dự án xây
dựng đường Hạp Lĩnh – Khắc Niệm 69
3.15 Tổng hợp đánh giá hộ gia đình bị thu hồi đất về ảnh hưởng từ việc
thu hồi đất của 2 dự án trên địa bàn thành phố Bắc Ninh theo 2
nhóm đối tượng 71
3.16 Đánh giá hộ gia đình bị thu hồi đất về ảnh hưởng từ việc thu hồi đất
của theo từng dự án nghiên cứu 72
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Tên hình Trang
3.1 Kết quả thực hiện của 2 dự án 62
3.2 Mục đích sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của hộ bị thu hồi đất của cả 2 dự
án 73
3.3 Mục đích sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của hộ bị thu hồi đất theo từng dự
án 74
giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế
sản xuất, an ninh quốc phòng. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 của Quốc hội khoá VIII (1992) đã xác định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu” và “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ
đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu
quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”.
Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, dân số ngày càng đông, nhu cầu
sử dụng đất cho các ngành ngày càng cao, nhịp độ phát triển ngày càng lớn. Do đó,
nhu cầu giải phóng mặt bằng càng trở nên cấp thiết và trở thành một thách thức lớn
đối với sự thành công của các dự án. Vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng trở
thành điều kiện tiên quyết để triển khai thực hiện dự án có hiệu quả. Vì vậy, đòi hỏi
cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành một cách toàn diện đối với
công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Từ khi có Luật Đất đai (năm 1993), việc bồi thường thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo các quy định của Chính phủ tại Nghị
định 90/NĐ-CP ngày 17/8/1994, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP. Sau khi Luật Đất
đai 2003 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày
03/12/2004 quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất; giao đất, cho thuê đất; cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất và gia hạn sử dụng đất.
Thành phố Bắc Ninh nằm ở phía Nam sông Cầu, phía Đông Bắc của tỉnh,
cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km về phía Bắc, cách thành phố Bắc Giang 20 km
về phía Nam. Thành phố Bắc Ninh là trung tâm văn hóa kinh tế chính trị xã hội của
tỉnh Bắc Ninh. Vị trí địa lý, kinh tế xã hội thuận lợi đã tạo cho thành phố Bắc Ninh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
những điều kiện lý tưởng để thu hút đầu tư, thực hiện CNH - HĐH với sự phát triển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất
Luật đất đai năm 2003 quy định:
- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi lại quyền
sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn quản lý theo quy định của luật này.
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người có đất bị thu hồi.
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
ổn định cuộc sống mới bằng hoặc tốt hơn khi có dự án thông qua đào tạo, chuyển đổi
nghề nghiệp, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.
- Tái định cư là những chính sách, biện pháp của Nhà nước nhằm thông qua
các hoạt động hỗ trợ để giúp đỡ những người bị thu hồi đất ở nằm trong diện phải di
dời khi có dự án đầu tư, đến nơi ở mới được ổn định đời sống, ổn định sản xuất để
phát triển kinh tế xã hội.
Theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì việc bố trí tái định cư cho
các hộ dân được thực hiện bằng các hình thức có thể là: bồi thường bằng nhà ở hoặc
giao đất ở mới và có thể bồi thường bằng tiền để người bị thu hồi đất tự lo chỗ ăn ở,
sinh hoạt của mình.
Căn cứ vào các quy định của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày
03/12/2004, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ và các
văn bản pháp lý khác, cùng với việc khảo sát thực tế cho ta thấy công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng trong tình hình hiện nay không đơn thuần là bồi
tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây
rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được
tính theo giá cả hiện tại.
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm
bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
phóng mặt bằng được giao cho các Cục Quản lýTài nguyên Đất đai ở địa phương
đảm nhiệm. Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một
đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng.
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ
yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả
xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu
chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở
nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn. Đối
với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá
do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định
giá. Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt,
theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về
sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể.
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những
thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do thứ nhất,
đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động
tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo
các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư. Thứ hai, năng lực thể chế của
các chính quyền địa phương khá mạnh. Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn
toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư. Thứ ba, quyền
sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều
thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra tòa án.
Ở Thái Lan việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị di dời được
thực hiện rất tốt, gần như ngay từ đầu, xấp xỉ 100% các hộ dân đã hiểu và chấp
hành các chính sách bồi thường, GPMB của Nhà nước.
Bên cạnh đó việc bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực chuyên môn được
quan tâm nhiều. Và việc thống nhất chỉ đạo, tổ chức rất rõ ràng, nhất quán đã góp
phần quan trọng để đẩy nhanh tiến độ.
Về giá đất làm căn cứ bồi thường thiệt hại: căn cứ vào giá do một Uỷ ban
của Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá trên thị trường chuyển nhượng bất
động sản. Việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt. Nếu phải di chuyển nhà đến nơi
mới, Uỷ ban này sẽ chỉ đạo cho người dân biết mình đến đâu, phải trả tiền một lần,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
được cho thuê hay mua trả góp Tuy nhiên cũng có trường hợp bên bị thu hồi
không chấp nhận, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, xem xét một lần
nữa xem đã hợp lý chưa và dù đúng hay không nếu người bị thu hồi không chuyển
đi sẽ bị cưỡng chế thực hiện. Việc khiếu nại sẽ tiếp tục do toà án giải quyết.
Việc chuẩn bị khu tái định cư được chính quyền, Nhà nước quan tâm đúng
mức, luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu, luôn ở thế chủ động.
Sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành giải quyết, sự phân công nhiệm vụ rõ
ràng, phân cấp rõ về trách nhiệm, sự phối hợp cao trong quá trình giải quyết vấn đề,
cũng góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng (Ánh Tuyết, 2002).
1.2.3. Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt
từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu
đất định cư trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính
quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù
được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền
Thứ ba: Biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng. Chế độ này được Nhà
nước hỗ trợ tích cực về mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người, cung
cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng
cần thiết của Nhà nước. Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự nguyện
di dời và liên quan rất nhiều tới việc GPMB. Theo luật bồi thường, nếu như toà nhà
nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối
tượng này nơi cư trú hoặc hỗ trợ 30% trị giá của toà nhà đó. Còn nếu như các dự án
xây dựng chung cư nhà ở thì cung cấp cho các đối tượng này chung cư hoặc nhà ở
thấp hơn giá thành.
Luật Bồi thường của Hàn Quốc được thực hiện theo ba nguyên tắc trên đối
với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh, nông nghiệp, ngư nghiệp,
khoáng sản để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời.
Chế độ và luật khi thu hồi đất GPMB: Theo luật sung công đất đai thì nếu như
đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như
gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải toả thì được thực
hiện quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành này
phải theo thủ tục pháp lệnh cảnh cáo theo quy định. Thực chất biện pháp GPMB
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
thường bị các thường dân hoặc các người ở thuê phản đối và chống trả quyết liệt
gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có sự nghiên cứu tìm ra biện
pháp cho dân tự nguyện di dời là hay hơn cả (Ánh Tuyết, 2002).
1.3. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở
Việt Nam
1.3.1. Những văn bản quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ
1.3.1.1. Trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, chúng ta tiến hành xóa bỏ chiếm hữu
ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân.
“Có hai cách bồi thường: bồi thường bằng ruộng đất, bồi thường bằng tiền. Nhưng
bồi thường bằng ruộng đất là tốt nhất và chủ yếu”.
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số
1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối
lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên
nguyên tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của
nhân dân". Tuy nhiên, thông tư này mới chỉ dừng lại ở việc quy định bồi thường về
tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất.
Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất, quản lý. Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ,
hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa…cùng
các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn
dân”. Ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về
việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới
bất cứ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập
mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định". Trong thời kỳ này, những quan hệ
đất đai chỉ đơn thuần là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng.
Luật Đất đai năm 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): "Đền bù thiệt
hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả
đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật ".
Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 1988 không hướng dẫn nội
dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường
đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Tại Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ
trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục
đích khác. Điều 1 của Nghị định này quy định: “Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất
dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 1993 đã thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đất
đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụng các loại đất, quản
lý việc sử dụng đất đúng hợp lý, xác định thời hạn giao đất, cho thuê đất, thẩm
quyền thu hồi và giao, cho thuê đất; hạn mức sử dụng các loại đất và quy định cụ
thể các quyền và nghĩa vụ tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Luật quy định rõ hơn về
quyền của người được giao đất gồm có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
cho thuê, thế chấp. Đồng thời, Chính phủ quy định khung giá đất cho từng loại đất,
từng vùng theo thời gian. Chính điều này làm căn cứ cho quyền được bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất.
Điều 27 Luật đất đai 1993 đã quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết,
Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng thì người thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.
Sau khi Luật đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các
văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất
đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó, cụ thể:
Nghị định số 87/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ ban hành khung giá
các loại đất.
Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định cụ thể các
chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp
của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định khi Nhà
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng. Xét về tính chất, nội dung, Nghị định 90/NĐ-CP đã đáp ứng được một
số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghị định này là văn bản pháp lý
mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…
Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính - Xây
dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định
87/NĐ-CP.
phủ. Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi.
1.3.1.3. Luật Đất đai năm 2003
Tổng kết những thành tựu, kết quả những ưu điểm và tồn tại của Luật Đất
đai 1993 sau 10 năm thi hành và xuất phát từ yêu cầu của giai đoạn mới, Hội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
nghị lần thứ VII BCH Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết về tiếp tục
đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
đất nước. Nghị quyết này là định hướng rất quan trọng để Quốc hội khoá IX, kỳ
họp thứ 4 thông qua Luật đất đai mới vào ngày 26 tháng 11 năm 2003.
Luật Đất đai 2003 bao gồm 7 chương 146 điều trong đó có 7 điều (từ điều 38
đến điều 44) quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất. Nó có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong tiến
trình phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đất nước, hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế. Luật đất đai 2003 quy định thêm về chế tài áp dụng xử lý vi
phạm pháp luật trong quản lý và sử dụng đất đai, quy định cụ thể nhiệm vụ quyền
hạn của cơ quan Nhà nước trong quản lý đất đai, trình tự, thủ tục thực hiện quyền
của người sử dụng đất. Về thu hồi đất, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
phát triển kinh tế là một quy định mới của Luật Đất đai 2003. Bổ sung trường hợp
thu hồi đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được
sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so
với tiến độ ghi trong dự án. Quy định thêm về việc thu hồi đất đối với các trường
hợp đất lấn, chiếm. Về vấn đề bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi
được quy định tại Điều 42: “…Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng
việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được
bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự
án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi
đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án
số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP có 7 điều: trong đó, điều 4 của Nghị định sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 197/NĐ-CP có liên quan đến cơ chế
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nội dung sửa
đổi, bổ sung nhằm vào 05 nhóm vấn đề chủ yếu sau:
+ Cơ chế tài chính áp dụng đối với tổ chức, cá nhân được nhà nước giao đất có
thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất mà đã ứng trước tiền để thực hiện việc bồi
thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.
+ Giá đất để tính bồi thường trong trường hợp tại thời điểm có quyết định thu