Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
 NGUYỄN VĂN TÂM
ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM




Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Nguyễn Văn Tâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ rất nhiệt tình, có hiệu quả của Khoa Kinh tế & PTNT – Học viện nông
nghiệp Việt Nam và Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Đảng ủy và Ủy ban
nhân dân các xã và đông đảo bà con nhân dân của huyện Bá Thước.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể thầy cô giáo trong Bộ môn
Phân tích Định lượng – Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Học viện nông
nghiệp Việt Nam, đặc biệt là Phó giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Hữu Ngoan, người
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các ban của
Huyện ủy, các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Bá Thước; xin
cản ơn Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã và bà con nhân dân đã giúp đỡ, cộng
tác cùng tôi để Đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Nguyễn Văn Tâm
2.2.2 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới 16
2.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới 17
2.2.4 Các bước xây dựng nông thôn mới 23
2.3 Cơ sở thực tiễn 23
2.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới 23
2.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương trong nước 37
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv

2.4 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài đã công bố 44
PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
3.1. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 45
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 48
3.2 Phương pháp nghiên cứu 56
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 56
3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 56
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 57
3.2.4 Phương pháp phân tích 57
3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 57
3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình chung 57
3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả triển khai xây dựng nông thôn mới 58
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 59
4.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Bá Thước, Thanh Hóa 59
4.1.1 Hệ thống tổ chức, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của huyện 59
4.1.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới huyện Bá Thước 60
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới
huyện Bá Thước 95
4.2.1 Thuận lợi 95
4.2.2 Những khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới ở địa phương 108
4.2.3 Tổng hợp trong phân tích ma trận SWOT 113

mới ở huyện Bá Thước 66
Bảng 4.5 Tổng hợp tình hình xây dựng nông thôn mới theo 19 tiêu chí tại
huyện Bá Thước đến năm 2012. 68
Bảng 4.6 Tình hình thực hiện tiêu chí lập quy hoạch và quản lý quy hoạch ở 3
xã điều tra. 73
Bảng 4.7 Tình hình thực hiện nhóm tiêu chí Hạ tầng kinh tế - xã hội tại 3 xã
điều tra 75
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất
tại 3 xã điều tra 82
Bảng 4.9 Mức độ thực hiện nhóm tiêu chí Văn hóa - Xã hội - Môi trường
ở 3 xã điều tra 85
Bảng 4.10 Mức độ thực hiện nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị ở 3 xã
điều tra 88
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi

Bảng 4.11 Kết quả huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn
mới ở 3 xã điều tra 90
Bảng 4.12 Tổng hợp kết quả khảo sát các hộ nông dân 93
Bảng 4.13 Tổng hợp ngồn vốn lồng ghép xây dựng nông thôn mới từ năm
2011-2012 trên địa bàn huyện Bá Thước. 106
Bảng 4.14 Phân loại đội ngũ cán bộ cấp huyện và xã năm 2012 110
Bảng 4.15 Tổng hợp tình hình hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn huyện
Bá Thước 112
Bảng 4.16 Phân tích ma trận SWOT 113
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HỘP

STT Tên biểu đồ Trang



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, do lịch sử quá trình đấu tranh dựng
nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước ta sống quần tụ theo từng dòng họ
và theo phạm vi làng, xã. Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…)
đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ muôn đời nay.
Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng vẫn còn
hơn 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở nông thôn. Trong các
cuộc chiến tranh chống lại các cuộc xâm lược của ngoại bang, nông thôn là nơi
cung cấp người và của để chiến thắng quân thù. Trong hàng ngàn năm phát triển,
nông thôn là nơi hình thành và lưu giữ nhiều nét bản sắc văn hóa của dân tộc.
Ngày nay, nông thôn vừa là nơi cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng xã
hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nông sản hàng hóa cho xuất khẩu,
nhân lực cho các hoạt động kinh tế và đời sống của đô thị, vừa là nơi tiêu thụ
hàng hóa do các nhà máy ở thành phố sản xuất ra.
Trong thời kỳ nào Đảng ta cũng chăm lo đến phát triển kinh tế xã hội ở
nông thôn. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đất nước ta bước vào
công cuộc đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và ngày càng hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới. Nền
kinh thế thị trường và hội nhập có nhiều ưu điểm như giải phóng lực lượng sản
xuất, thúc đẩy tăng trưởng, tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Tuy nhiên, quá trình hội nhập, đổi mới cũng đặt ra nhiều vấn
đề cần giai quyết: Đó là quá trình đô thị hoá diễn ra làm thay đổi bộ mặt nông
thôn và tác động đến kiến trúc, kinh tế, đời sống, văn hoá, xã hội, chất lượng môi
trường và sinh thái nông thôn. Kiến trúc nông thôn đang phát triển tự phát, thiếu
định hướng quy hoạch và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chưa đáp ứng được yêu

các chương trình phát triển kinh tế-xã hội nông thôn như chương trình hỗ trợ phát
triển sản xuất, đổi thửa, tích tụ ruộng đất, bê tông hóa kênh mương, cứng hóa
đường giao thông, xây dựng trường học, trạm y tế và các thiết chế văn hóa,
chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, phát triển làng nghề…theo hướng
xây dựng nông thôn mới. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả đạt được
vẫn còn khiêm tốn, cơ sở hạ tầng của huyện còn nhiều bất cập và xây dựng thiếu
quy hoạch, Bá Thước vẫn là một huyện nghèo, kinh tế của huyện vẫn là thuần nông,
sản xuất hàng hóa chưa phát triển, đời sống của nhân dân còn hết sức khó khăn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3

Sau gần 4 năm triển khai thực hiện chương trình theo Quyết định số
491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng nông thôn
theo chuẩn nông thôn mới, đã góp phần tạo ra những giá trị mới, việc làm mới,
thu nhập mới, đem lại lới ích cho một bộ phận lớn nông dân. Tuy nhiên, huyện
Bá Thước đang gặp nhiều vướng mắc cần giải quyết như xuất phát điểm của
huyện thấp, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, đời sống của nhân
dân còn nhiều khó khăn nên việc tiến hành xây dựng nông thôn mới gặp nhiều
khó khăn, bất cập và không đạt kế hoạch tỉnh đề ra.
Để góp phần đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương,
chúng tôi chọn đề tài: “Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và thực trạng xây
dựng nông thôn mới ở huyện Bá Thước thời gian qua, đề xuất các giải pháp chủ
yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nông thôn mới và xây dựng
nông thôn mới ở nước ta.
- Đánh giá thực trạng nông thôn và quá trình xây dựng nông thôn mới ở

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5

PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về nông thôn và xây dựng nông thôn mới
2.1.1.1 Khái niệm nông thôn
Nông thôn được coi như là khu vực địa lý, nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có
quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt
động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn. Song có nhiều
quan điểm khác nhau:
Có quan điểm cho rằng nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn
mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Cũng có quan điểm cho rằng
chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng. Quan điểm khác lại cho rằng
nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định
vùng nông thôn.
Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian
để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện
Việt Nam theo chúng tôi: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó
có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa -
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các
tổ chức khác”.(TS. Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
2.1.1.2 Khái niệm nông thôn mới
Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn
mới. Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là
nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa nông
thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và
chức năng mới (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

+ Nội dung: “15.1 Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế”
+ Chỉ tiêu chung cho cả nước: đạt từ 70% trở lên;
+ Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng: Đạt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7

- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới quy định tại điều 3: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương có thể bổ sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của
các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nhưng không được
thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia.
Từ Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và quy định của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng ta thấy nông thôn mới là nông thôn toàn
diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh và
bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội của từng vùng.
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Tại quyết định này, mục tiêu chung của
Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát
triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự
được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được
nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.

hành vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã
được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm
phong tục tập quán đó. Ở đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất.
Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những
nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai
đại họa. Cũng chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9

tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị
tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả được sản sinh trong
hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù. Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi
hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi trường
thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn
hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc
điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường
thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Ngoài ra, các cảnh quan
nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng xã
đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với
sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát
triển của các dân .(Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc
xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực
đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của
nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn chế tác
dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh
quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống .(Cù Ngọc Hưởng, 2006).
2.1.3.3 Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích luỹ trong suốt
một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải
tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh

khu đô thị ngày càng phát triển rầm rộ. Do vậy, phải nên xây dựng nông thôn
mới với những đóng góp tích cực cho sinh thái. Có thể coi chức năng sinh thái
chính là thước đo một đơn vị có thể coi là nông thôn mới hay không. Đồng thời
phải phân biệt rõ không được lẫn lộn ranh giới giữa nông thôn với thành thị .(Cù
Ngọc Hưởng, 2006).
2.1.4 Chủ thể xây dựng nông thôn mới
Có người cho rằng chủ thể xây dựng nông thôn phải là chính quyền. Tuy
nhiên, trên thực tế, người nông dân mới thực sự là chủ thể xây dựng nông thôn.
Đó không phải là do nhà nước không có đủ tiềm lực kinh tế để đóng vai trò chủ
thể này, mà cho dù tiềm lực kinh tế của nhà nước có mạnh đi chăng nữa thì cũng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11

không thể thiếu sự tham gia ủng hộ tích cực của chính tầng lớp nông dân. Hiển
nhiên nói người nông dân ở đây không phải chỉ đơn thuần là cá thể nông dân, mà
phải được hiểu là các tổ chức nông dân .(Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, người nông dân phải tham gia từ
khâu quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản
xuất trong quá trình làm ra của cải vật chất, giữ gì bản sắc văn hóa dân tộc…
đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của nông thôn mới. Chính vì
vậy, nông dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới là yếu tố vừa đảm bảo cho sự
nghiệp xây dựng nông thôn mới thành công, vừa đảm bảo phát huy được vai trò
tích cực của nông dân.
2.1.5 Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới
2.1.5.1 Động lực từ công nghiệp hóa và đô thị hóa
Xây dựng nông thôn mới XHCN nếu chỉ dựa vào nguồn đầu tư từ nhà nước
hay chỉ tiến hành trong nội bộ nông thôn sẽ không tạo ra được động lực cũng như
tính linh hoạt, mà cần phải đặt nó trong bối cảnh phát triển thành thị và nông
thôn đồng hành với nhau, dựa trên những quan điểm hệ thống. Thực tế, các vấn
đề về nông nghiệp cần phải được giải quyết thông qua phát triển công nghiệp,
các vấn đề về nông dân phải giải quyết thông qua phi nông hóa, phát triển nông

cạnh các biện pháp khai thác tiềm năng cung cấp cơ hội việc làm từ chính trong
nội bộ nông thôn ra, còn cần phải tích cực đẩy mạnh chuyển dịch nông dân sang
thành cư dân thành thị. Muốn vậy, cần thiết phải xây dựng hình thành nên thị
trường lao động bình đẳng giữa nông thôn với thành thị, để người nông dân có
những cơ hội làm việc bình đẳng với cư dân thành thị, đồng thời tạo điều kiện để
họ có thể gia tăng tố chất cạnh tranh trên con đường mưu cầu việc làm của mình.
Do vậy, xây dựng nông thôn mới XHCN cần đẩy mạnh đầu tư cho nguồn lực lao
động nông thôn, hoàn thiện hệ thống giáo dục trong nông thôn, phổ cập rộng rãi
khoa học kỹ thuật trong nông thôn, truyền bá rộng rãi các tư tưởng khoa học, tạo
điều kiện cho nông dân đẩy mạnh cải thiện nông nghiệp cũng như thân phận
nông dân của chính mình. Xây dựng nông thôn mới XHCN phải lấy việc đẩy
mạnh dịch chuyển nông dân làm cơ sở, chứ không phải lấy việc cố định người
nông dân làm mục tiêu (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13

2.1.5.3 Động lực từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và các tổ
chức hợp tác
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng nông thôn
mới XHCN là phát triển hiện đại hóa nông nghiệp. Hiện đại hóa nông nghiệp ở
đây phải được hiểu là ngoài các điều kiện sản xuất hiện đại như thủy lợi, làm đất,
đường sá giao thông, viễn thông thông tin vv., nó còn bao hàm chuyên nghiệp
hóa trong các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp. Một khi đã thực hiện kinh
doanh gia đình và phát triển kinh tế thị trường trong nông nghiệp, thì nhất định
cũng phải thực hiện chuyên nghiệp hóa các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông
nghiệp. Đây còn là cơ sở để gia tăng sức cạnh tranh quốc tế cho nông nghiệp.
Ngoài ra, trong điều kiện thị trường, thì chỉ có sự tham gia của các tổ chức nông
dân mới có thể nâng cao giá trị nông sản phẩm, đây cũng chính là chức năng
cũng như trách nhiệm của các tổ chức hợp tác nông dân. Trong quá trình đẩy
mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông thôn hay tổ chức các hệ thống dịch
vụ xã hội hóa cũng như tham gia vào gia công sản xuất nông sản phẩm, tổ chức

hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tình thần yêu nước, tự
chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn
định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân
tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng
cao đời sống nhân dân”.
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đề ra các giải pháp để đẩy mạnh xây
dựng nông thôn mới:
+ Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời
phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển
các đô thị.
+ Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là
vùng khó khăn.
+ Đổi mới và xây dựng các hình thức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn.
+ Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công
nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công
nghiệp hóa nông thôn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15

+ Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực,
phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức
của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân.
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày
16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng:
Đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status