SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đổi mới phương pháp dạy học luôn là nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục
nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Một trong số
những biện pháp để đạt được mục đích trên đó là sử dụng trò chơi.Trò chơi vừa là một
hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục: giáo dục bằng trò chơi - một
phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vận dụng. Lồng ghép
trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với những phương pháp dạy học khác
sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay.
Đối với học sinh trung học phổ thông thì hoạt động vui chơi là nhu cầu không
thể thiếu và nói giữ vai trò quan trọng đối với các em. Nếu giáo viên biết tổ chức cho
học sinh chơi một cách hợp lí, khoa học trong giờ học sẽ mang lại hiệu quả giáo dục
cao. Chính vì vậy việc vận dụng trò chơi trong giờ học môn văn ở THPT sẽ làm thay
đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học
sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến
của mình, phát huy tư duy sáng tạo,… Hứng thú và chủ động trong học tập là sự khởi
đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triển nhân cách ở học
sinh qua bộ môn Văn.
Qua nhiều năm dạy học, được giảng dạy hầu hết các lớp bậc THPT tôi luôn
mong muốn làm thế nào để học sinh của mình năng động sáng tạo hơn, hứng thú trong
học tập, giờ học bớt căng thẳng, bớt áp lực, làm sao để các em có cảm giác “mỗi ngày
đến trường là một ngày vui”, để rồi thông qua mỗi giờ học Văn các em được sống
trong không khí cổ xưa để cảm nhận tình yêu chân thành của Mỵ Châu thời An Dương
Vương dựng nước qua truyền thuyết “An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy”;
nghẹn ngào thổn thức cùng nỗi đau của Kiều trong bi kịch "Trao duyên"; khắc khoải
với giấc mơ hoàn lương và khao khát hạnh phúc của Chí Phèo (Nam Cao); thả mình
trong tiếng cười trào phúng sâu cay của Vũ Trọng Phụng trong “Hạnh phúc của một
tang gia”
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 1
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Trong Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy
và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
của học sinh.
Căn cứ vào mục tiêu trên cùng với việc dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của lứa
tuổi học sinh THPT: ham tìm hiểu, tiếp cận, thích cái mới lạ nhưng lại chóng chán. Do
đó việc sử dụng các trò chơi học tập trong giờ học Ngữ văn là hết sức cần thiết và có
ích. Trò chơi có tác dụng giúp học sinh:
+ Tăng cường khả năng chú ý nắm bắt nội dung bài học phát huy tính năng động
của các em.
+ Nâng cao hứng thú cho người học, góp phần làm giảm mệt mỏi, căng thẳng
trong học tập của học sinh. Phát triển tính độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận.
+ Tăng cường khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học.
+ Tăng cường khả năng giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, và giữa học sinh
với nhau, giúp học sinh rèn luyện các khả năng ứng xử, giao tiếp.
+ Thu hút cả lớp theo dõi tham gia các hoạt động.
Khi chơi, các em tưởng tượng, suy ngẫm, thử nghiệm, lập luận để đạt kết quả
mà không nghĩ là mình đang học. Kiến thức cung cấp trong giờ ngữ văn sẽ được giảm
nhẹ, quá trình học tập diễn ra một cách tự nhiên hơn, hấp dẫn hơn.
Trò chơi là phương tiện có ý nghĩa trong việc góp phần thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo và gây hứng thú trong
giờ học của học sinh. Ngoài ra thông qua hoạt động trò chơi còn giúp các em phát
triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết, thân ái, lòng trung thực, tinh
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 3
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 4
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
ra, những tình huống như vậy thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều, thậm
chí chán nản, không tha thiết với công việc của mình.
Theo kết quả khảo sát (ngày 28/08/2012) học sinh 3 lớp (2 lớp 10, 1 lớp 11) mà
tôi trực tiếp giảng dạy về việc em có hay phát biểu trong giờ học Văn hay không, kết
quả thu được như sau:
Số học sinh khảo
sát
Phát biểu
nhiều
Có phát biểu nhưng
không nhiều
Không
phát biểu
Lớp 10A1, 10A4 6/80 45/80 29/80
Lớp 11A6 3/30 16/30 11/30
Tổng số 9/110
(8.18%)
61/110
(55,45%)
40/110
(36,36%)
Từ kết quả trên ta thấy tình trạng lớp học tương đối trầm, tỷ lệ phát biểu ít
chiếm quá 50%, rồi đến tỷ lệ những học sinh chưa bao giờ phát biểu khá cao trên 36%,
còn lại lượng học sinh hăng hái phát biểu không đáng kể chỉ trên 8%.
Nguyên nhân gây nên hiện tượng học sinh thụ động trong giờ học Văn bắt
nguồn từ tâm lý chung của học sinh sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tin vào
năng lực của mình, ngại ngùng, rụt rè khi đứng lên trả lời trước đám đông nhất là các
Lớp 10A1, 10A4
34/80 46/80
Lớp 11A6
12/30 18/30
Tổng số
46/110
(41.81%)
64/110
(58.18%)
Kết quả trên cho thấy số học sinh yêu thích giờ học Văn rất ít chưa đến một nửa
còn lại hơn 50% là các em không thích giờ học Văn điều đó cũng có nghĩa là các em
không yêu thích môn Văn điều này không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà
còn tác động tiêu cực đến người dạy. Nhiều thầy cô giáo dạy Văn đã xuất hiện tâm lí
chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong
tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy.
Nguyên nhân học sinh không hứng thú với giờ học Văn do cơ sở vật chất, tài
liệu minh hoạ, đồ dùng dạy học để phục vụ giảng dạy và bổ sung kiến thức cho học
tập môn văn còn nghèo nàn, đơn điệu; Do kiến thức quá nhiều, quá nặng dẫn đến các
em mệt mỏi, giảm hứng thú; do nhận thức không đầy đủ, lệch lạc, thực dụng của một
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 6
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
số không nhỏ học sinh và cha mẹ học sinh hiện nay đối với vị trí, tầm quan trọng của
môn văn đối với mỗi con người trong suốt cả cuộc đời; Do phương pháp dạy của một
số thầy cô giáo chưa thu hút được học trò yêu thích đối với bộ môn của mình giảng
dạy. Thực tế cho thấy phương pháp giảng dạy của một bộ phận giáo viên Văn còn bộc
lộ nhiều hạn chế, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy môn Văn
chưa thực sự phổ biến, bên cạnh đó trong mỗi tiết học vẫn còn tình trạng “đọc-chép”
và “chiếu-chép” dẫn đến sự nhàm chán ở học sinh, nhiều giáo viên còn sa vào “độc
thoại”, “độc diễn” trên bục giảng do bài dài nên giáo viên cố gắng làm sao để truyền
khụng nhiu giỏo viờn lm c.
Qua tham kho ng nghip v thc t ging dy tụi mun c cựng cỏc ng
nghip chia s, trao i mt s bin phỏp m bn thõn tụi ó lm trong thi gian qua
khc phc tỡnh trng trờn nh sau:
III. CC BIN PHP TIN HNH GII QUYT VN .
Phng phỏp v hỡnh thc dy hc mụn Vn rt phong phỳ, a dng bao gm cỏc
phng phỏp hin i: hot ng nhúm, úng vai, t v gii quyt vn , nghiờn cu
trng hp in hỡnh, trũ chi, d ỏn, ng nóo v cỏc phng phỏp truyn thng:
thuyt trỡnh, m thoi, k chuynMi phng phỏp dy hc u cú mt tớch cc v
hn ch riờng, phự hp vi tng loi bi v ũi hi nhng iu kin thc hin riờng.Vỡ
vy, giỏo viờn khụng nờn ph nh hoc lm dng phng phỏp no. iu quan trng
l cn c vo ni dung, tớnh cht ca tng bi, cn c vo trỡnh nhn thc ca hc
sinh v nng lc, s trng ca giỏo viờn, cn c vo iu kin, hon cnh c th ca
lp, ca trng m la chn v s dng phi hp cỏc phng phỏp dy hc mt cỏch
hp lý. Trong dy hc mụn Ng vn, cú th vn dng phng phỏp Trũ chi nhm:
Hỡnh thnh tri thc mi, hỡnh thnh k nng, cng c tri thc.
1. Bin phỏp ỏp dng trũ chi.
1. 1. Nguyờn tc ỏp dng phng phỏp trũ chi trong gi dy Vn
Giỏo viờn cn chỳ ý n c thự ca tng phõn mụn; lu ý mi quan h gia trũ
chi vi h thng cõu hi; vn dng linh hot, hp lớ, ỳng mc v ỳng lỳc khụng
xỏo trn nhiu khụng gian lp hc, nhanh chúng n nh lp hc khi trũ chi kt thỳc;
Ngi thc hin: Phan Th Hng Thm 8
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
trò chơi phải phù hợp với nội dung, mục tiêu cần đạt, không vận dụng cho tất cả các
tiết học, đôi khi gây phản cảm, phản tác dụng; trò chơi bao giờ cũng kết thúc bằng
thưởng cho người (đội) thắng hoặc xử phạt nhẹ nhàng cho vui (dí dỏm, tế nhị).
1.2. Lồng ghép trò chơi vào các phân môn Ngữ văn: Do đặc thù của mỗi phân môn,
việc vận dụng lồng ghép trò chơi có những điểm khác nhau:
1.2.1. Đọc- văn: Tuỳ thuộc dạng bài (bài khái quát, ôn tập; đọc - hiểu văn
1.3.2. Sử dụng trò chơi nhằm hình thành tri thức mới:
Trò chơi thường được tổ chức sau khi đã tìm hiểu hoạt động 1 (tìm hiểu chung,
tìm hiểu ngữ liệu ), từ những kiến thức thực tế qua hoạt động 1, vận dụng những kiến
thức đó, giáo viên tổ chức trò chơi cho học sinh khám phá, phát hiện ra tri thức mới,
tri thức đó nằm ngay trong nội dung bài học.
1.3.3. Sử dụng trò chơi để hình thành kỹ năng:
Xác định mục đích của việc tổ chức trò chơi nhằm hình thành kỹ năng cho các
em, chúng ta tổ chức trò chơi trên cơ sở vận dụng những tri thức của bài vừa học. Từ
đó, giúp học sinh hình thành được những kỹ năng lựa chọn, cách giải quyết khi gặp
những tình huống trong cuộc sống cũng như một số kỹ năng quan trọng khi làm bài
1.3.4. Sử dụng trò chơi nhằm củng cố tri thức, hình thành thái độ:
Khác với việc tổ chức trò chơi vào các thời điểm và mục đích khác nhau như trên,
ở thời điểm tổ chức trò chơi để củng cố tri thức, hình thành thái độ có mục đích khác
đó là: để học sinh thâu tóm được nội dung bài học, giúp khắc sâu, nhớ rõ hơn nội dung
vừa học xong. Thời điểm tổ chức trò chơi với mục đích này thiết nghĩ vào cuối giờ học
là hợp lý nhất.
1.4. Lựa chọn nội dung tổ chức trò chơi.
Nội dung phải vừa sức học, phải đảm bảo đủ thông tin kiến thức mà học sinh đã
nắm được, không dễ quá và cũng không khó quá.
Nội dung cần phù hợp với cuộc sống thực tế của học sinh, giúp các em dễ vận
dụng vào thực tiễn. Nội dung trò chơi phải có tính khả thi, trò chơi đưa ra phải phù
hợp với thực tế trường, lớp.
1. 5. Sử dụng phương tiện khi tổ chức trò chơi.
Thực tế, qua các tiết dự giờ đồng nghiệp ở trường tôi, tôi thấy thường khi cho học
sinh chơi trò chơi, đa số chỉ tổ chức “suông” mà thiếu sự chuẩn bị như: không hóa
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 10
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
trang nhân vật, không đủ phiếu cá nhân, không có thẻ xanh, thẻ đỏ để phục vụ đánh
giá, không có phần thưởng…Chính vì điều đó, mà mỗi lần tổ chức trò chơi là một lần
dung khác nhau thật sự phát huy tác dụng, giờ dạy học thực sự là giờ “vừa học, vừa
chơi”, kết hợp được giữa “học và hành”, hấp dẫn học sinh và gây sự chú ý học hơn
nhiều.
2. Sáng tạo một số trò chơi để vận dụng trong giảng dạy môn Ngữ văn ở trường
THPT Nguyễn Huệ.
Việc sáng tạo và lựa chọn một số trò chơi để vận dụng vào giờ dạy học nhằm
nâng cao hiệu quả giờ học môn Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ nói riêng và trong
trường THPT nói chung là một vấn đề hết sức cần thiết. Trong quá trình dạy học tôi đã
vận dụng thành công một số trò chơi sau:
2.1. Trò chơi sắm vai.
W. Shakespeare đă từng nói: “Toàn thế giới là nhà hát. Trong nhà hát có đàn
bà, đàn ông. Tất cả đều là diễn viên. Ở họ, đều có lối ra sân khấu và lối rời sân khấu
của mình”. Quả vậy, trong xã hội mỗi cá nhân hay mỗi nhóm đều đảm nhận những vai
trò nhất định. Điều này giống như vai diễn trên sân khấu. Cùng một lúc, mỗi cá nhân
có thể đảm nhận nhiều vai khác nhau và các vai này thường xuyên thay đổi. Do vậy,
thuật ngữ đóng vai hay còn gọi là sắm vai là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến.
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Đóng vai là thể hiện nhân vật trong kịch
bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật”. [19; tr 337].
Hiểu như vậy thì “sắm vai” là phương pháp học sinh thực hành,“ làm thử”, diễn
thử một đoạn hội thoại nào đó hay đóng vai một nhân vật trong một đoạn trích, tác
phẩm nào đó.
Mục đích: Sắm vai nhằm giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, nhận ra vấn đề, giúp
buổi học sinh động, có kết quả hơn… Giúp chính học sinh đóng vai cảm nghiệm được
tâm lý, thái độ, hành vi của đối tượng mình đóng vai, khắc sâu và hiểu tác phẩm hơn.
Giúp học sinh tự nhận ra những thế mạnh, hạn chế của chính mình khi rơi vào tình
huống của vai đã đóng.
Cách tiến hành trò chơi:
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 12
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 13
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
bài học một cách trực quan sinh động. Các em sẽ thấy giờ học tiếng Việt nhưng không
khô khan căng thẳng mà ngược lại rất vui được chơi, được thể hiện mình do đó mà các
em sẽ yêu quý môn học hơn.
Với trò chơi này ta cũng có thể vận dụng vào các tiết giảng văn khi có các đoạn
hội thoại, các đoạn kịch nhưng với yêu cầu là giáo viên phải dặn học sinh chuẩn bị
trước ở nhà thậm chí là học thuộc lời thoại của nhân vật để không bị mất thời gian.
Học sinh đang “sắm vai” trong một giờ học Văn
2.2. Trò chơi tiếp sức.
Mục đích: Áp dụng trò chơi này nhằm huy động tính tích cực của tất cả học
sinh trong lớp, em nào cũng phải động não và hoạt động kể cả học sinh yếu kém. Trò
chơi này áp dụng khi giáo viên yêu cầu học sinh tìm những biểu hiện của một nội
dung, khái niệm của một bài học nào đó các em có thể thảo luận, phát hiện và nêu ra
những biểu hiện đó.
Cách tiến hành trò chơi:
+ Chuẩn bị bảng phụ và phiếu học tập cá nhân.
+ Trên lớp giáo viên treo bảng phụ, chia nhóm và công bố luật chơi.
+ Tổng kết cuộc chơi, rút kinh nghiệm và khen thưởng.
Ví dụ: Khi dạy bài “Thực hành về một số kiểu câu trong văn bản” Tiết 61-62 -
Ngữ văn 11- tập 1. Khi dạy đến kiểu câu bị động giáo viên áp dụng trò chơi này bằng
cách chia lớp theo 4 nhóm, mỗi nhóm được phát một tập phiếu trắng, các em làm việc
và ghi ra câu chủ động và chuyển câu ấy sang câu bị động vào phiếu (một phiếu ghi
câu chủ động, một phiếu ghi câu bị động) rồi lần lượt từng em lên dán phiếu vào bảng
phụ cho phù hợp 2 cột (giáo viên chia bảng phụ ra làm 2 cột một bên là câu chủ động,
một bên là câu bị động) của nhóm mình. Trò chơi 3 phút, giáo viên tuyên bố kết thúc
cuộc chơi, hướng dẫn học sinh nhận xét, góp ý cách chuyển câu chủ động sang câu bị
động, nhóm nào tìm được nhiều ví dụ hơn thì thắng cuộc. Giáo viên khen thưởng cho
nhóm thắng cuộc bằng cách cộng điểm thực hành hoặc một tràng pháp tay. Với hình
vị khách mời phải biết sáng tạo, linh hoạt, nhanh nhạy trong xử lý tình huống khi
người dẫn chương trình và khán giả hỏi. Qua thực tế cho thấy, những học sinh vai
những vị khách mời rất thích mình được đóng vai những nhân vật trên, cho nên các em
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 15
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
luôn thể hiện rõ bản lĩnh, phong cách chững chạc, tự tin của mình trước khán giả. Còn
khán giả thì rất thích để tìm ra những câu hỏi hóc búa, hỏi những vị khách mời, xem
có trả lời được không…Trò chơi diễn ra khoảng 10 phút, giáo viên tuyên bố kết thúc
cuộc chơi và cho cả lớp nhận xét: cách trình bày vấn đề của mỗi bạn? các bạn trình
bày theo trình tự như thế nào nào ? Ai được cả lớp khen nhiều, ủng hộ nhiều sẽ được
nhận được món quà nhỏ của giáo viên thưởng. Qua trò chơi học sinh dễ tiếp thu kiến
thức của bài học một cách trực quan sinh động. Khi trình bày một vấn đề thường theo
các bước: Bắt đầu trình bày (Bước lên diễn đàn như thế nào? Chào cử tọa và tự giới
thiệu bằng lời lẽ, cử chỉ ra sao?). Trình bày nội dung chính (Bắt đầu nội dung thứ nhất
thế nào? Làm thế nào để chuyển ý từ nội dung này sang nội dung khác? Cần điều
chỉnh nội dụng, tư thế cách nói ra sao khi người nghe có phản ứng ) Và cuối cùng là
kết thúc và cảm ơn (Tóm tắt và nhấn mạnh một số ý chính. Cảm ơn người nghe). Từ
đó cho thấy học sinh động hẳn lên, học sinh đã nhận biết, thông hiểu và vận dụng kiến
thức bài học vào thực tế trong một tình huống giả định
Học sinh đang thực hiện trò chơi “Trò chuyện cuối tuần”
2.4. Trò chơi nhìn hình đoán chữ.
Mục đích giúp học sinh phát huy khả năng tư duy nhanh nhạy của minh, tạo
không khí sôi nổi trong giờ học, tạo sự hứng thú và bớt căng thẳng ở học sinh. Trò
chơi này có thể áp dụng khi tìm hiểu kiến thức mới của bài học hoặc áp dụng ở phần
củng cố của bài học.
Cách tiến hành trò chơi: Giáo viên chuẩn bị hình ảnh minh họa liên quan đến
nội dung bài học có sử dụng trò chơi. Giáo viên chiếu hình lên máy chiếu hoặc treo
hình lên bảng phụ và cho cả lớp đoán những hình ảnh ấy thể hiện nội dung gì? Cả lớp
cùng chơi và học sinh nào trả lời được đúng và nhiều hình nhất sẽ được thưởng tràng
tượng với bài đã được học do dó mà sẽ nhớ bài lâu hơn.
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 17
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
Hình ảnh minh họa cho bài thực hành về thành ngữ điển, điển cố
( Khi chiếu bằng máy chiếu những hình trên là hình động, học sinh rất dễ đoán ra câu
thành ngữ)
2.5. Trò chơi ô chữ bí mật.
Hình thức: Trò chơi ô chữ trong dạy học có nhiều dạng khác nhau, có thể là giải
những ô chữ hàng ngang rồi tìm từ khóa trong ô chữ hàng dọc, có thể là ô chữ dưới
dạng sơ đồ …Mỗi ô chữ có lời gợi ý và nội dung ô chữ có liên quan trực tiếp đến bài
học.
Mục đích: Giới thiệu vào bài mới hoặc củng cố khắc sâu kiến thức của bài học.
Phát huy tư duy nhanh nhạy, sáng tạo của học sinh.
Cách chơi: Giáo viên giới thiệu qua ô chữ gồm có bao nhiêu hàng ngang, hàng
dọc từ chìa khoá nằm ở hàng nào sau đó giáo viên lần lượt đọc từng câu hỏi gợi ý để
học sinh xung phong giải ô chữ. Nếu bạn nào trả lời đúng thì ghi dòng chữ đó vào ô
chữ và sẽ được cộng điểm hoặc tuyên dương còn nếu trả lời sai thì sẽ nhường cơ hội
cho các bạn còn lại. Ai tìm ra được ô từ khóa chính xác và nhanh nhất sẽ là người
chiến thắng.
Với trò chơi này chúng ta có thể áp dụng cho tất cả các bài học đặc biệt là ở các
bài giảng văn, áp dụng chơi vào đầu giờ để giới thiệu bài mới nhằm gây hứng thú với
học sinh hoặc lúc củng cố để các em khắc sâu nội dung bài học. Ví dụ sau khi học
xong bài “Đọc Tiểu Thanh ký”- Tiết 40 - Ngữ văn 10- Tập 1, giáo viên chia lớp thành
các nhóm và tiến hành tổ chức trò chơi để củng cố bài học. Sau khi phổ biến thể lệ
cuộc chơi giáo viên treo ô chữ lên bảng và trình bày ô chữ chúng ta cẩn tìm hôm nay
gồm 7 chữ cái, đây là một trong những giá trị nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Du.
bị sẵn các mảnh ghép. Những mảnh ghép đó có thể là hình ảnh, có thể là chữ viết thể
hiện nội dung.
Mục đích: Rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo giúp học sinh nhớ lại nội dung
bài học một cách lôgic.
Cách chơi: Giáo viên treo một số hình ảnh và một số mảnh ghép ghi nội dung
liên quan đến bài học lên bảng. Tuỳ vào mục đích bài học mà giáo viên cho học sinh
xung phong lên xếp những mảnh ghép thành một hình hoàn chỉnh hoặc xếp những
mảnh ghép có ghi nội dung tương ứng với một hình ảnh nào đó theo yêu cầu của giáo
viên, đội nào xếp các mảnh ghép đúng hoàn thành trong thời gian ngắn hơn sẽ là đội
chiến thắng.
Dưới đây là một ví dụ minh họa khi tổ chức trò chơi để ôn tập kiến thức cũ và
hình thành kiến thức mới của bài học: Khi dạy bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử-
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 19
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
Tiết 66- Ngữ Văn 11- tập 2. Khi đi tìm phần tìm hiểu chung, mục 1- tác giả thì giáo
viên có thể cho học sinh chơi trò chơi này bằng cách cho các mảnh ghép gồm hình của
3 tác giả Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và các mảnh ghép có đánh dấu theo số
thứ tự 1, 2,3 (làm bằng giáy rô ki) ghi các thông tin liên quan về ba tác giả trên. Giáo
viên chia lớp làm các nhóm tự thảo luận lắp ráp các hình và các mảnh ghép ghi thông
tin lại với nhau rồi đội nào xung phong lên ráp đúng các thông tin tương ứng với mỗi
tác giả thì đội đó chiến thắng, nếu không đúng sẽ nhường phần cho các đội khác (Học
sinh sẽ dễ dàng ghép được các thông tin và hình ảnh tương ứng với nhau khi sử dụng
phương pháp loại suy ). Giáo viên nhận xét và kết thúc trò chơi, với việc áp dụng trò
chơi này các em sẽ ôn tập được kiến thức cũ về tác giả Xuân Diệu, Huy Cận mà các
em đã học ở các tiết học trước đồng thời cũng hình thành được kiến thức mới về tác
giả Hàn Mặc Tử. Như vậy giáo viên vừa tiết kiệm được thời gian chỉ mất 7 phút (vừa
dò bài cũ vừa dạy được kiến thức mới), lại tạo được hứng thú cho các em khi học bài
mới vì thế tiết học sẽ trở nên sôi động hơn Trò chơi này chúng ta có thể áp dụng cho
rất nhiều tiết giảng văn đặc biệt là phần tìm hiểu về các tác giả
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 21
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
6/ Là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi, đắm say,
yêu đời thắm thiết.
7/Tác phẩm: Thơ thơ (1938), “Gửi hương cho gió” (1945), Riêng chung (1960)
9/ Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình thơ, nhà dịch thơ, nhà bình thơ,
nhà văn hoá lớn của VN thế kỷ XX.
*/ Hình 2: Tác giả Huy Cận
10/ (1919 - 2005). Xuất thân: gia đình nhà nho nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh
2/ Tác phẩm chính: Tập “Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời…
11/ Ông là nhà thơ lớn, một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới với
hồn thơ ảo não.
8/ Thơ ông hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí.
*/ Hình 3: Tác giả Hàn Mặc Tử
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 22
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
5/ Tên khai sinh: Nguyễn Trọng Trí (1912 – 1940). Quê: Đồng Hới - Quảng Bình.
3/ Gia đình: viên chức nghèo, cha mất sớm, sống với mẹ ở Quy Nhơn
4 / Năm 1936, mắc bệnh phong. Mất tại trại phong Quy Hoà.
13/ Các tác phẩm chính:Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý
12/ Ông là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất phong trào thơ
Mới.
2.7.Trò chơi trả lời nhanh
Trò chơi này có thể tổ chức dưới dạng các gói câu hỏi. Mỗi gói câu hỏi đều liên
quan đến kiến thức của các bài học trước.
Mục đích: Giúp học sinh tích cực huy động trí nhớ, tư duy và khả năng phản ứng
nhanh về các nội dung đã được học.
Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị các gói câu hỏi và đáp án cho các đội chơi, thẻ
quả khảo sát ý kiến và chất lượng học tập của học sinh 3 lớp thực nghiệm trong năm
học 2012- 2013 ( 10A1, 10A4, 11A6) trước và sau khi áp dụng phương pháp lồng
ghép trò chơi trong dạy học Ngữ văn :
* Khi chưa áp dụng đề tài:
Số học sinh Hay phát Hứng thú Điểm thi đầu Điểm kiểm
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 24
SKKN: Vận dụng phương pháp “trò chơi” nhằm phát huy tính năng động của học sinh, gây
hứng thú trong giờ học Văn ở trường THPT Nguyễn Huệ.
khảo sát
biểu
với giờ
học
vào đạt TB trở
lên
tra đầu năm
từ TB trở
lên
Lớp 10A1,
10A4
6/80
34/80 16/80
Lớp 11A6 3/30 12/30 11/30
Tổng số
9/ 110
( 8.12%)
46/110
(41.81%)
16/80
(20%)
11/30
cũng có thể phát huy tốt tính sáng tạo trong giảng dạy và đích cuối cùng là kết quả học
tập của học sinh được nâng lên rõ rệt (Khối 10 đầu vào môn Văn rất thấp chỉ: 20%,
qua hơn một học kì áp dụng phương pháp trò chơi kết quả điểm thi học kì 1 (sở ra đề,
chấm tập trung) đã nâng lên: 67.5%. Khối 11 kết quả điểm khảo sát đầu năm từ
36.66% giờ đã nâng lên: 70% ). Cũng nhờ vào việc áp dụng trò chơi trong giờ dạy học
mà trong những năm qua chất lượng bộ môn của bản thân tôi được nâng lên rõ rệt, cụ
thể là:
Năm học 2010-2011 tỉ lệ học sinh đạt trung bình trở lên: 72%
Người thực hiện: Phan Thị Hồng Thơm 25