SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng - Pdf 29

SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Mối quan hệ trong quá trình dạy học đó là một nghệ thuật “ cho” và
“nhận”, truyền thụ và lĩnh hội. Vì thế câu hỏi lớn cần đặt ra ở đây là: Người
“cho” truyền thụ như thế nào, bằng cách nào để người “nhận” có thể lĩnh hội
với tất cả lòng say mê, tính tự giác, chủ động tích cực và có hiệu quả. Để đạt
được điều đó đòi hỏi giáo viên- người truyền thụ phải có sự suy nghĩ, tìm tòi,
vận dụng được các phương pháp phù hợp với nội dung, đặc thù của từng bài
học.
Người giáo viên lên lớp cũng giống như người nghệ sĩ khi lên sân khấu để
cuốn hút được khán giả thì ngoài năng khiếu ra còn đòi hỏi cả một nghệ thuật.
Người giáo viên cũng vậy, để giờ giảng của mình thực sự sinh động và học sinh
có thể tiếp thu bài một cách có hiệu quả thì ngoài những tri thức vốn có của
mình một yếu tố không thể thiếu được là năng lực sư phạm- hay nói cách khác
là phương pháp, kĩ năng truyền thụ. Theo phương châm của giáo dục đào tạo
hiện nay “ lấy học sinh làm vị trí trung tâm trong các giờ học”, học sinh phải là
chủ thể tích cực thì việc lựa chọn phương pháp phù hợp bài giảng, phát huy
được tính chủ động, tích cưc, sáng tạo của học sinh đây là một vấn đề không
đơn giản.
Sự phát triển của xã hội cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đòi hỏi con người
có một số phẩm chất và năng lực nổi lên hàng đầu như năng lực làm việc nhóm,
năng lực hoạt động thực tiễn và giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra, năng lực
hợp tác, năng lực thích ứng Những yêu cầu trên đặt ra cho giáo dục phải đổi
mới toàn điện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu giáo dục của xã hội và cá nhân, từ
học chế đào tạo, cách thiết kế chương trình, tìm tòi những phương thức, cách
thức giáo dục thích hợp hơn. Trong một lớp học, cần coi trọng sự khám phá có
trợ giúp hơn là sự tự khám phá. Từ đó cần rút ra một nguyên tắc là dạy học
cần tổ chức cho HS học tập với sự trợ giúp, hỗ trợ của bạn học, học tập cùng

được coi là một trong những phương pháp có nhiều lợi thế
2. Cơ sở thực tiễn
Như chúng ta đã biết vai trò và chức năng của văn bản nhật dụng nói
chung và cụm văn bản nhật dụng trong chương trình lớp 12 nói riêng đều có
đặc điểm nổi bật là: Về đề tài (văn bản nhật dụng sử dụng có đề tài đa dạng,
phong phú như: môi trường, bệnh dịch, vấn đề văn hóa dân tộc…). Về chức
năng:( Có thể bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả…). Về tính cập nhật
là tính thời sự kịp thời đáp ứng nhu cầu đòi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống
hiện tại, gắn liền với những vấn đề cơ bản của cộng đồng xã hội…
2
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
Vì thế học sinh học văn bản nhật dụng có vai trò và mục đích rất quan
trọng bởi học văn bản nhật dụng thì giá trị văn chương không phải là yêu cầu
cao nhất nhưng là quan trọng vì các văn bản nhật dụng đều vẫn thuộc về một
kiểu văn bản nhất định. Học văn bản nhật dụng không để chỉ mở rộng hiểu biết
toàn diện mà còn tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp học sinh
hoà nhập với xã hội, rút ngăn khoảng cách giữa nhà trường và xã hội.
Qua kinh nghiệm những năm giảng dạy văn bản nhật dụng từ khối 6 đến khối
9 của tổ xã hội và đặc biệt trong ba năm liền tôi đều được phân công giảng dạy ngữ
văn khối 9 (chương trình cải cách). Trong đó có ba bài thuộc văn bản nhật dụng, tôi
đã tìm tòi và vận dụng bước đầu những kinh nghiệm này dần dần vào bài giảng và
năm học này 2007-2008 tôi đã thu được kết quả khả quan trong bài dạy, gây được
hứng thú cho học sinh khi học và dạy loại văn bản này.
- Trước hết đối với giáo viên ngoài vận dụng nhuần nhuyễn sách giáo viên,
thiết kế bài giảng…thì tôi đã căn cứ vào đặc điểm của văn bản nhật dụng là tình thực
tiễn, cập nhật, lịch sử qua tài liệu, sách báo, thông tin qua mạng, từng ngày, từng
năm…tình hình trong nước, thế giới, các sự kiện qua đài, báo chí… để áp dụng vào
phần mở bài, và liên hệ trực tiếp vào từng phần của bài học để học sinh nắm bắt được
các thông tin cập nhật, gắn với thực tế, kích thích tính tò mò, tính chân thực của tác
phẩm điều đó sẽ tạo hứng thú, tạo sự ham học hơn, học sinh sẽ tích cực học môn ngữ

Và một số bài đọc văn có phần tiểu dẫn khái quát về tác giả.
- Các lớp được phân công giảng dạy 12A1; 12A2; 12A5; 11A1 với tổng số
175 học sinh.
PHẦN THỨ HAI
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Dạy học là dạy cho học sinh tự học. Muốn được như vậy, trước tiên phải
tạo cho học sinh một hứng thú học tập. Ngày nay các em đã rất quen với máy
tính trong các giờ tin học ở trường, các giờ lên mạng Internet ở nhà, ở các tụ
điểm kinh doanh mạng…
Hiện nay tin học đã được xem là một môn học chính thức trong nhà trường
phổ thông. Tin học cũng là một môn thi của những kì thi chọn học sinh giỏi các
cấp, nhiều trường đã trang bị được phòng máy tính phục vụ cho công việc học
tập của học sinh, rất nhiều em ham thích môn học mới này, điều đó cho thấy tin
học ngày càng trở nên phổ biến, hơn nữa việc trang bị cho mình một máy vi
tính không còn là chuyện quá xa vời đối với giáo viên có tâm huyết.Việc soạn
và giảng dạy bằng giáo án điện tử đã được các cấp lãnh đạo chuyên môn
khuyến khích vì những ưu điểm của nó đem lại.
4
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
1. Tình hình ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở
môn Ngữ văn tại trường THPT Bất Bạt
1.1 Những thuận lợi
- Ban Giám hiệu nhà trường có quyết tâm cao và tập trung chỉ đạo, đẩy
mạnh việc đổi mới PPDH.
+ Nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc
phục vụ cho đổi mới PPDH. Năm học 2008 – 2009 nhà trường có 02 phòng
máy tính với 25 máy có nối mạng; 02 chiếu Projector và phòng chiếu hoàn thiện
đảm bảo cho việc giảng dạy bằng phương pháp ứng dụng CNTT.
+ Tổ chức các lớp học vi tính, các buổi tập huấn sử dụng một số phần mềm
thông dụng cho giáo viên

trường vẫn còn hạn chế, đa số giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn đều chưa có
tiết dạy ứng dụng CNTT. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân,
có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, cả trong nhận thức lẫn hành động,
cả trong khả năng và sự nhiệt tình của giáo viên:
- Một số giáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ.
- Nhiều giáo viên ngại sử dụng CNTT do tốn thời gian, công sức.
5
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
- Nhiều giáo viên không muốn trang bị máy tính phục vụ dạy học khi đời
sống gia đình còn nhiều khó khăn.
- Một số giáo viên khác chưa thực sự cố gắng tự học, tự nâng cao khả năng
ứng dụng CNTT, chưa sử dụng thành thạo một số phần mềm vi tính Do vậy,
giáo viên rất ngại làm chủ kỹ thuật phức tạp của máy tính.
- Một số giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy học, tuy nhiên
trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, mang nặng tính chất trình
diễn. Nhiều giáo viên còn ôm đồm, tham lam nhồi nhét các loại thông tin, phim,
ảnh làm mất thời gian nhưng hiệu quả giờ dạy không cao.
- Ứng dụng CNTT vào dạy học sẽ làm giảm mạnh sự giao tiếp giữa thầy
và trò, giữa trò và trò nếu giáo viên không sử dụng kết hợp phong phú với các
phương pháp dạy học khác.
- Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, một số giáo viên thao tác
quá nhanh, học sinh không kịp chép bài, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, lĩnh
hội kiến thức và mức độ hiểu bài của các em không cao. Sau đây là một vài số
liệu điều tra về mức độ hiểu bài của học sinh trong những giờ học có ứng dụng
CNTT.
Bảng 2: Số liệu điều tra về mức độ hiểu bài của học sinh
Đối tượng
điều tra
Hiểu hoàn
toàn

175 HS khối 11
và 12
121 (69.1%) 48(27,4%) 6 (3,5%)
2. Ứng dụng CNTT trong các giờ dạy về tác gia văn học
Việc thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT nói cụ thể hơn là dùng những
máy móc, thiết bị hiện đại sẵn có như máy tính, máy chiếu, máy scan và dùng
những chương trình phần cứng, phần mềm có sẵn để trình chiếu những nội dung
bài học mà ta muốn cho học sinh xem. Cũng như việc sử dụng các phương tiện
cách dạy học khác thì phương tiện này cũng có những ưu, nhược điểm riêng của
nó. Đặc biệt là trong việc giảng dạy môn Ngữ văn và trong các bài học về tác
gia văn học.
2.1 Về ưu điểm
- Áp dụng phương pháp giảng dạy bằng giáo án điện tử sẽ giúp giáo viên
tiết kiệm được thời gian trong việc ghi bảng. Giáo viên lên lớp nhẹ nhàng,
không phải ôm đồm quá nhiều đồ dùng dạy học lỉnh kỉnh như bảng phụ và
những đồ dùng trực quan truyền thống.
- Bài học có nhiều hình ảnh thật, đẹp mắt âm thanh sinh động gắn liền với
cuộc đời và sự nghiệp của tác giả giúp HS có thể hiểu và khắc sâu hơn về tác
giả đó. Mặt khác, ngoài việc trình chiếu thông thường, ta còn có thể dùng các
hiệu ứng sẽ gây được sự thích thú, chú ý của học sinh tạo cho các em một sự
kích thích hào hứng. Từ đó, tiết học sẽ sinh động hơn nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học.
- Giáo án điện tử dễ bổ sung, chỉnh sửa, thay đổi cấu trúc bài dạy, dễ trao
đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, v.v Qua quá trình giảng dạy giáo viên có cơ
hội để rút kinh nghiệm từ các tiết học cụ thể để bổ sung, sửa chữa sao cho bài
giảng của mình đạt hiệu quả cao.
- Thông qua việc tìm tòi tư liệu, truy cập internet và các trang web phục vụ
giảng dạy giáo viên được mở rộng tầm hiểu biết, giao lưu học hỏi, tiếp cận được
với thực tế xã hội nhanh chóng tích luỹ cho mình vốn hiểu biết và nhận thức.
Đối với học sinh, đây cũng là một yếu tố giúp cho các em làm quen tạo hứng

ngồi nghe, xem phim, ảnh và sôi nổi bình luận hoặc say sưa nghe thầy giáo
giảng quên cả việc ghi bài. Một số khác gặp khó khăn trong việc ghi chép bài:
không biết lựa chọn thông tin, nội dung chính để ghi vào bài học, ghi chậm
hoặc không đầy đủ
8
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
II) MỘT SỐ BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CNTT GÓP PHẦN ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN QUA CÁC BÀI HỌC VỀ
TÁC GIA VĂN HỌC.
1. Xây dựng thư viên tư liệu.
Để phục vụ cho công tác giảng dạy, đối với môn Ngữ văn nói chung và các
bài học về tác gia văn học nói riêng kho tư liệu là điều kiện cần thiết và đặc biệt
quan trọng. Nhưng hiện nay, các đồ dùng trực quan hầu như không có, tranh
ảnh minh họa trong sách giáo khoa không nhiều. Chính vì vậy bản thân giáo
viên phải chú trọng xây dựng thư viện tư liệu phục vụ tốt cho công tác giảng
dạy.
- Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tài
liệu, sách, báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tích lũy chuyên môn.
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu
thuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước
đây. Việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn:
+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh, tư liệu bài giảng từ mạng Internet
+ Khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí
Trong quá trình tham khảo sách, báo, tài liệu gặp những tranh, ảnh đặc biệt
cần thiết, có thể dùng máy Scan quét ảnh và lưu vào USB, cuối cùng cập nhật
vào kho tư liệu của mình để phục vụ cho quá trình giảng dạy.
+ Khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, hình vẽ
thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính
Ví dụ: Khi tìm được các băng hình, các đĩa CD – Rom nói về cuộc đời tác
giả, các tác phẩm của tác giả đó… ta lựa chọn các đoạn phim có thể làm tư liệu

Bên cạnh ứng dụng CNTT được coi là phương pháp hiện đại góp phần tích
cực cho đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên cần chú ý đa dạng hóa các
hình thức dạy học, phải biết kết hợp với các phương pháp dạy học khác như:
nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại, thuyết trình, làm việc theo nhóm, hướng
dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu qua các phiếu học tập Tùy theo đặc điểm
của từng chương, từng bài, tùy theo đối tượng học sinh để sử dụng các phương
pháp giảng dạy thích hợp mới có thể đạt được hiệu quả cao trong dạy và học.
Ví dụ khi dạy bài về tác gia Tố Hữu, giáo viên có thể chiếu một vài hình
ảnh theo trình tự cuộc đời tác giả (quê hương xứ Huế, ảnh thủa nhỏ gắn liền với
ngôi trường Quốc học Huế, ảnh tham gia kháng chiến ở chiến khu, trang bìa của
một cuốn sách nói về cuộc đời thơ và sự nghiệp cách mạng )rồi phát vấn cho
HS câu hỏi, HS dựa vào phần chuẩn bị bài và SGK, làm việc cá nhân và phát
biểu các câu hỏi theo gợi ý của giáo viên như slide sau:
10
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
Khi dạy về bài Nam Cao, do SGK đã trình bày khá rõ về tác giả nên giáo
viên có thể kết hợp việc hướng dẫn HS chuẩn bị bài theo nhóm có ứng dụng
CNTT trước, sau đó trên lớp các nhóm lần lượt trình bày về tác giả qua các
mục: tiểu sử và con người, quan điểm nghệ thuật, các đề tài chính và phong
cách nghệ thuật. GV nhận xét từng phần và rút kinh nghiệm cho HS. Từ đó tạo
cho HS cách tự học, tự nghiên cứu, đọc và khái quát kiến thức, nâng cao năng
lực trình bày trước đám đông của HS, thu hút các em vào bài học một cách tự
nhiên, say mê, hứng thú.
Kết thúc bài học giáo viên có thể chiếu một vài hình ảnh gắn liền với cuộc
đời và sự nghiệp của tác giả từ đó nhấn mạnh cho HS thấy vai trò, vị trí của
Nam Cao trong văn học Việt Nam.
Ví dụ: Khi dạy về Hồ Chí Minh, đây là tác giả rất quen thuộc với HS trong
cả bộ môn lịch sử và văn học, giáo viên có thể cho HS xem các video nói về
cuộc đời hoạt động của Bác. Từ đó, yêu cầu HS dựa vào SGK tự tìm hiểu phần
tiểu sử của tác giả để có thời gian nhấn mạnh vào sự nghiệp văn học của Bác.

cầu các em tìm kiếm thông tin ở mạng internet để phục vụ công việc học tập
theo từng chủ đề, từng giai đoạn văn học hay một bài học về tác phẩm cụ thể.
Ví dụ: Có thể hướng dẫn các em lên mạng sưu tầm tài liệu về tác gia Nguyễn
Đình Chiểu, Nam Cao, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Tố Hữu,…
- Từ các tài liệu mà các em sư tầm được, giáo viên cũng có thể hướng dẫn
học sinh tập thuyết trình về một tác gia văn học, một nội dung cụ thể (như: quan
điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật, sự nghiệp sáng tác…) … kết hợp trình
chiếu bằng Powerpiont hay Violet.
- Mỗi bài học về tác gia văn học giáo viên yêu cầu các tổ, nhóm xây dựng
riêng cho mình kho tư liệu về tác giả đó. Tìm các tranh ảnh, video clip nói về
cuộc đời và sự nghiệp của tác giả, các ý kiến đánh giá về tác giả đó hoặc những
12
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
phát ngôn của chính họ trong quá trình sáng tác thể hiện cho quan niệm nghệ
thuật cũng như đặc trưng phong cách của họ.
- Giáo viên có thể vận dụng phương pháp dạy học theo dự án của Intel
Teach to the Future (Chương trình dạy học cho Tương lai của Intel), phương
pháp này đòi hỏi học sinh vừa làm việc theo nhóm vừa ứng dụng CNTT trong
quá trình học tập để thiết kế ba bài tập: Bài trình diễn PowerPoint, trang web và
ấn phẩm (tờ rơi) để thực hiện ý tưởng dự án của mình. Tuy nhiên, để thực hiện
phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải được tập huấn các nội dung của
Chương trình dạy học cho Tương lai của Intel và hướng dẫn cho học sinh ứng
dụng CNTT để thực hiện các yêu cầu của chương trình phục vụ cho quá trình
học tập
III. NHỮNG KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU TỪ VIỆC ỨNG DỤNG
CNTT TRONG GIẢNG DẠY NGỮ VĂN QUA CÁC BÀI HỌC VỀ TÁC
GIA VĂN HỌC
1) Môn Ngữ văn ở trường phổ thông bao gồm các phân môn Tiếng Việt,
Làm văn, Giảng văn. Trong các phân môn này không phải phân môn nào và
không phải bài nào, phần nào của mỗi phân môn cũng đều có thể ứng dụng

trợ đắc lực cho đổi mới phương pháp dạy học, bởi vì quá trình giáo dục con
người không thể “công nghệ hóa” hoàn toàn được, có nhiều mặt giáo dục không
thể quy trình hóa được như giáo dục nhân văn, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm
mỹ (tức mục tiêu về thái độ) cho học sinh. Xác định điều này, trong quá trình
giảng dạy giáo viên tránh lạm dụng CNTT, xem CNTT là độc tôn, là duy nhất.
7) Để ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học có hiệu
quả cao, giáo viên phải thường xuyên không ngừng tự học để nâng cao trình độ
chuyên môn mà còn phải nâng cao khả năng sử dụng CNTT. Để nâng cao khả
năng sử dụng CNTT, ngoài việc đến với các lớp tin học, giáo viên có thể tự học
(ví dụ: Giáo viên có thể tự học cách soạn giáo án điện tử thông qua phần mềm
hướng dẫn tự học Microsoft PowerPoint ) hoặc có thể học ở bạn bè, đồng
nghiệp, những giáo viên có kinh nghiệm, có chuyên môn liên quan đến ứng
dụng CNTT Thời đại CNTT phát triển mạnh mẽ, thay đổi từng ngày, từng giờ
như hiện nay thì giáo viên phải đóng vai trò là người học thường xuyên để có
thể sử dụng CNTT như là một công cụ dạy học có hiệu quả cao góp phần thực
hiện cuộc cách mạng giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy và học nói
riêng, đang được đặt ra cho các nhà giáo dục
14
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
8) Nhà trường cần phát triển hơn nữa hệ thống máy tính, máy chiếu giúp
cho các thầy giáo, cô giáo có thể tiếp cận và tìm hiểu nhiều ứng dụng của máy
tính giúp cho công tác giáo dục tốt hơn đáp ứng theo sự phát triển của xã
hội.Đồng thời xây dựng nhiều chương trình thi đua nghiên cứu khoa học áp
dụng cho công tác giáo dục để thúc đẩy tính sáng tạo của giáo viên và đẩy
nhanh khả năng tiếp cận với nền giáo dục thông qua hệ thống máy tính.
KẾT LUẬN
Chúng ta đang bước vào thể kỷ XXI - thế kỷ của khoa học và công nghệ.
Sự chuẩn bị nguồn nhân lực cho thời kỳ mới của đất nước là một trong những
nhiệm vụ trọng đại của toàn xã hội và của ngành giáo dục đào tạo nói riêng.
Muốn theo kịp với các nước tiên tiến, đón đầu sự phát triển đòi hỏi phải đổi mới

2. Cơ sở thực tiễn
2
2
2
3
4 II. Mục đích 3
5 III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
6 Phần thứ hai
I. Đặc điểm tình hình
1. Tình hình ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương
pháp dạy học ở môn Ngữ văn tại trường THPT Bất Bạt
2. Ứng dụng CNTT trong các giờ dạy về tác gia văn học
4
4
4
6
7 II. Một số biện pháp ứng dụng CNTT góp phần đổi mới
phương pháp dạy học môn Ngữ văn qua các bài học về tác gia
văn học
8
8
16
SKKN – Vận dụng phương pháp làm việ nhóm trong giảng dạy cụm bài văn nhật dụng
1. Xây dựng thư viên tư liệu.
2. Xây dựng giáo án điện tử
3. Đa dạng hóa các phương pháp dạy học
4. Hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ học tập.
9
9
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status