Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỨNG THÚ VÀ HỌC
TỐT MÔN LỊCH SỬ 6
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề:
Tuy ở cấp I học sinh cũng được làm quen với môn lịch sử nhưng chỉ ở mức độ thấp, mang
tính khái quát. Học sinh học với tính chất “học vẹt” để trả bài chứ chưa có tư duy về lịch sử.
Vì vậy, khi bước vào lớp 6, các em có môn học riêng giành cho lịch sử thêm vào đó các em
phải học nhiều môn khác, nên hướng dẫn học sinh phương pháp học thế nào cho đúng và có
hiệu quả là điều cần thiết trong đó có môn lịch sử.
Bên cạnh đó sách giáo khoa lịch sử có nhiều kênh hình và kênh chữ mang tính chất tư duy
tương đối khó so với học sinh trên địa bàn ở vùng sâu vùng xa và có nhiều dân tộc Khmer.
Học sinh chưa quen với cách học ở trung cấp cơ sở, do vậy gặp khó khăn trong nhận thức.
Đặc biệt với yêu cầu đổi mới phương pháp- học hiện nay nhằm nâng cao tính chủ động, sáng
tạo của học sinh lại càng phức tạp hơn.
Học tốt môn lịch sử 6 sẽ là nền tảng căn bản để học sinh vững vàng học tiếp ở các lớp học
tiếp theo.
Chính từ những vấn đề bất cập trên đã ảnh hưởng không ít đến quá trình giảng dạy của
giáo viên và học tập của học sinh.Việc tìm ra phương pháp hỗ trợ và khắc phục là vấn đề cần
thiết phải thực hiện trong dạy-học lịch sử 6 ở trương THPT An Thạnh 3. Do đó, tôi đã
nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp trong quá trình giảng dạy cho phù hợp với từng đối
tượng, từng lớp học.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh khối 6 Trường THPT An Thạnh 3.
Các phương pháp dạy học lịch sử của giáo viên.
Tình hình học tập môn lịch sử của Trường THPT An Thạnh 3.
3. Pương pháp nghiên cứu:
Phương pháp đọc tài liệu: Sách giáo khoa, Sách giáo viên và một số sách tham khảo
thuộc môn lịch sử.
-Page-1
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
như thế nào là đúng nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên … Đó là một số câu hỏi khó
trong quá trình dạy- học môn lịch sử 6 ở Trường THPT An Thạnh 3.
Bên cạnh những khó khăn trên còn một số khó khăn mà giáo viên và học sinh gặp phải:
- Đối với giáo viên:
+Nhìn chung giáo viên cũng sử dụng phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn nhưng
đôi lúc muốn thể hiện mình nên “thao thao bất tuyệt” mà quên đối tượng mình đang dạy là
những học sinh bé nhỏ, chưa theo kịp với nội dung mở rộng hoặc nâng cao
+ Giáo viên thường làm việc nhiều như giảng bài, giải thích vì cho rằng học sinh thụ động
làm mất thời gian và sợ “cháy giáo án” nếu để học sinh tự làm theo cách học mới.
+Việc sử dụng lược đồ chưa thường xuyên (do thiếu lược đồ hoặc chuẩn bị chưa chu đáo)
đôi lúc dạy “chai” theo lược đồ SGK.
- Đối với học sinh:
+ Học sinh ít khi nghiên cứu bài trước ở nhà theo yêu cầu của giáo viên nên tiết học diễn ra
mất cân đối, thời gian “bị chết” nhiều.
+ Học sinh lĩnh hội kiến thức chậm hoặc lo ra, thiếu chú ý nhất là khâu thảo luận nhóm.
Phần lớn là do học sinh “trội hơn” làm bài và phát biểu ý kiến. Còn lại thích nghe giảng hơn
là phải “thảo luận nhóm” và hay “nhường” nhau khi giáo viên gọi đại diện trình bày.
Đó là nguyên nhân cơ bản làm cho việc học môn lịch sử 6 kém phần sinh động, chưa đúng
nghĩa với việc cải cách nội dung, chương trình và phương pháp học theo yêu cầu hiện nay.Vì
thế giáo viên dạy lịch sử 6 cần phải nhạy bén và linh hoạt trong khâu tổ chức, để giúp học
sinh hứng thú tím tòi, tư duy học tốt lịch sử ngay ở đầu cấp ( lớp 6).
II. Một số biện pháp hỗ trợ giúp học sinh hứng thú và học tốt môn lịch sử ở trường
THPT An Thạnh 3.
Với những khó khăn trên đòi hỏi giáo viên không chỉ nắm vững trình độ chuyên môn,
kiến thức cơ bản mà còn phải biết cách truyền thụ kiến thức đến học sinh như thế nào cho
đúng và phù hợp với từng đối tượng học sinh.Việc phối hợp linh hoạt các phương pháp như:
Thuyết trình, diễn giảng, vấn đáp, mô tả hay sử dụng đồ trực quan và cả khâu thảo luận
nhóm là hoạt động cần phải có. Tuy nhiên đối học sinh ở trường THPT An Thạnh 3 thì còn
hạn chế do trình độ nhận thức và khả năng tiếp thu của các em tương đối chậm. Vì vậy quá
-Page-3
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
Khi giáo viên cho học sinh so sánh sơ đồ phân hoá xã hội-trang 55SGK để nhận xét về sự
biến chuyển xã hội nước ta.
Thời Văn Lang -Âu Lạc Thời kì bị đô hộ
Vua Quan lại đô hộ
Quý tộc Hào trưởng Việt – Địa chủ Hán
Nông dân công xã Nông dân công xã
Nông dân lệ thuộc
Nô tì Nô tì
Đây là loại hình kiến thức mới được làm quen, nếu giáo viên cho học sinh tự làm, cơ bản
các em chỉ nêu lại các tầng lớp thời Văn Lang –Âu Lạc là những tầng lớp nào? Và thời kì bị
đô hộ có những tầng lớp nào chứ chưa có nhận xét, so sánh sự biến chuyển về xã hội nước ta
thời kì bị đô hộ so với thời Văn Lang - Âu Lạc.
Do đó,để học sinh định hướng được kiến thức đúng,giáo viên giải thích các tầng lớp nước
ta thời Văn Lang – Âu Lạc và gợi ý các em một số câu hỏi như:
- Thời kì bị đô hộ, tầng lớp nào bị mất đi?
Nhìn vào sơ đồ học sinh sẽ xác nhận được là vua và quý tộc
- Tầng lớp nào mới hình thành?
Học sinh sẽ trả lời được: Quan lại đô hộ, hào trưởng Việt, địa chủ Hán và nông dân lệ
thuộc.
- Thời kì bị đô hộ nước ta có sự biến chuyển như thế nào? (phân hoá đơn giản hay phức
tạp, sâu sắc).
Với những gợi ý trên, giáo viên hướng học sinh đến kết luận chung: Xã hội nước ta bị
phân hoá sâu sắc.
Hoặc cũng ở bài 20-trang 56 có câu hỏi: Vì sao người Việt vẫn giữ được phong tục tập
quán và tiếng nói của tổ tiên?
Câu hỏi này đòi hỏi tư duy và hiểu biết rộng. Vì vậy cần có sự gợi ý như:
- Các phong tục tập quán của người Việt ược hình thành từ lâu hay mới hình
thành? Học sinh sẽ xác định hình thành từ lâu đời.
-Page-5
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
để tôi đánh giặc”.Vậy thì học sinh sẽ biết được ngay Thánh Gióng sử dụng binh khí bằng sắt,
các em so sánh được sự tiến bộ trong đúc vũ khí bằng sắt so với đúc vũ khí bằng đồng.
Hoặc ở bài 15. Nước Âu Lạc ( tiếp theo). Mục 5. Nhà nước Âu Lạc sụp đổ trong hoàn
cảnh nào? Có câu hỏi: Theo em, truyện Mỵ Châu-Trọng Thuỷ nói lên điều gì?(SGK-
trang 45). Học sinh cũng không biết được truyện đó nói lên hàm ý muốn nói đến vấn đề gì?
Vì thế, giáo viên phải khéo léo, vừa kể truyện vừa đặt câu hỏi liên quan đến nói dung bài học
để từng bước giúp các em biết được truyện Mỵ Châu-Trọng Thuỷ nói lên điều gì? Và thất
bại của An Dương vương như thế nào? Kết quả? Giáo viên nêu một số câu hỏi xen kẻ với kể
truyện như:
- Biết không thắng nổi An Dương Vương, Triệu Đà đã dùng mưu kế gì?
Học sinh: Cho con là Trọng Thuỷ sang cầu hôn Mỵ Châu.
- Triệu Đà cho Trọng Thuỷ sang ở rễ nhằm mục đích gì?
Học sinh: Dò thám tình hình, chia rẽ nội bộ.
- Ai đánh tráo nỏ thần của An Dương Vương?
Học sinh: Trọng Thuỷ.
- Khi hay tin Triệu Đà tấn công An Dương Vương tỏ thái đồ gì?
Học sinh: Chủ quan chờ giặc tiến sát thành mới đánh …
Với phương pháp này, học sinh rất thích thú, “tranh nhau” trả lời của hỏi của giáo
viên.Và với việc học tập như vậy giúp các em khắc sâu kiến thức qua truyện kể, các em
có thể nhớ lâu hơn, thậm chí có em còn kể lại được những gì giáo viên vừa kể cho các em
nghe.
Hoặc giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh một số truyện tranh lịch sử liên quan đến
các bài các em sẽ học trong chương trình lịch sử 6 như truyện: Hai Bà Trưng, Bà Triệu nhà
xuất bản Kim Đồng, truyện Nước Vạn Xuân (Lý Nam Đế),Mai Hắc Đế, Bố Cái Đại Vương
của nhà xuất bản trẻ để khi học đến các bài nói về các nah6n vật trên các em sẽ hưng thú học
tập và hiểu biết chi tiết hơn, hăng hái phát biểu ý kiến.
3. Tập cho học sinh sử dụng lược đồ, bản đồ.
-Page-7
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
Tương tự như vậy giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước lược đồ khởi nghĩa Lý Bí
(trang 59 SGK) và điền các kí hiệu mô tả diễn biến khởi nghĩa Lý Bí, chắc chắn học sinh sẽ
làm được. Hay giành vài phút để tập cho học sinh cách sử dụng bản đồ khi trình bày một
cuộc khởi nghĩa như: Khởi nghĩa Mai Thúc Loan, khởi nghĩa của Phùng Hưng hay chiến
thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, … Có như thế, học sinh mới từng bước hoàn thiện kĩ
năng sử dụng bản đồ của mình ở mức độ cơ bản nhất mà yêu cầu đặt ra đối với học sinh lớp
6 trong học tập lịch sử.
4. Cụ thể hoá câu hỏi dạng trình bày (tự luận) sang hình thức trắc nghiệm.
Trong nội dung một bài học gồm nhiều tiêu đề với nhiều nội dung, sự tiếp thu kiến thức
của học sinh có sự phân cấp trong một lớp (Giỏi, khá, TB, chậm). Do đó giáo viên đặt câu
hỏi tự luậ thì học sinh “chậm tiếp thu” không trả lời được, hay chỉ gọi một số học sinh khá,
giỏi trả lời thì không đồng bộ.
Ví dụ bài 13: Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang. Câu hỏi cuối bài
(trang 40) như sau: Điểm lại những nét chính trong đời sống vật chất và tinh thần của cư
dân Văn Lang qua nơi ở, ăn mặc, phong tục, tín ngưỡng.
Câu hỏi này bao gồm 2 tiêu đề: Đời sống vật chất (mục 2-trang 39) và đời sống tinh thần
(mục3-trang 40), với khả năng của học sinh lớp 6 ở trường, thì một số học sinh khá,
giỏi,chưa hẳn trả lời đầy đủ mà không có sự nhắc nhở của giáo viên. Vì thế tôi đã cụ thể hoá
câu hỏi thành một số câu hỏi trắc nghiệm như sau:
1. Nhà ở phổ biến của cư dân Văn Lang là gì?
a. Nhà làm bằng đất b. Nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa, ….
c. Nhà làm bằng ngói d. Nhà sàn làm bằng đất sét trội rơm.
2. Phương tiện đi lại giữa các làng, chạ là gì?
a. Bằng voi b. Bằng ngựa c. Bằng thuyền d. Xe kéo
3. Người Văn Lang có tục gì?
a. Tết tóc đuôi sam b. Đàn ông mặc áo quần, đàn bà mặc váy.
c. Đi guốc, dép d. Ăn trầu, nhuộm răng đen.
4. Trong những ngày lễ hội thường có những hoạt động gì?
a. Trai, gái ăn mặc đẹp, nhảy múa, ca hát,… b. Đánh, trống, chiêng, thổi kèn.
nhận thức và khả năng tiếp thu cảu học sinh lớp 6 ở trường THPT An Thạnh 3 còn vấp
-Page-10
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm GV: Lê Hồng Muôn
những hạn chế nhất định. Do đó, trong dạy học lịch sử nhiều năm qua ở trường, tôi đã sử
dụng các giải pháp trên giúp học sinh trong quá trình tư duy, tìm tòi kiến thức, để các em
theo phần tự tin, thích thú khi học môn lịch sử, và đều quan trọng là học tốt môn lịch sử 6
về mặt lí thuyết và vận dụng tốt qua trả bài, kiểm tra 1 tiết hay thi học kì.
Trong một thời gian khá lâu trực tiếp dạy môn lịch sử ở trường THPT An Thạnh 3, ngoài
việc tích luỹ kinh nghiệm của bản thân, tôi còn trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp qua
các tiết dự giờ, thao giảng, đặc biệt là giáo viên dạy môn lịch sử 6 trong những năm học
trước.
Qua hai năm dạy trước và khi thực hiện áp dụng phương pháp hỗ trợ tôi nhận được kết
quả như sau:
Năm
học
Tổng
số HS
Kết
quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu
2007-
2008
SL TL % SL TL % SL TL % SL TL %
92 HK I 25 27.2 20 21.7 28 30.4 19 20.7
2008-
2009
81 CN 25 30.9 21 25.9 27 33.3 8 9.9
146 HK I 55 37.7 44 30.1 30 20.6 17 11.6
140 CN 60 42.9 43 30.7 28 20.0 9 6.4
Với kết quả trên, tôi nhận thấy rằng các giải pháp tôi áp dụng khá thích hợp và hiệu quả