BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH MAI THU THỦY
QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh - Năm 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH MAI THU THỦY QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị Trang
Mở đầu 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Vấn đề thanh khoản trong ngân hàng thương mại 5
1.1.1 Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản 5
1.1.1.1 Khái niệm thanh khoản 5
1.1.1.2 Khái niệm rủi ro thanh khoản 6
1.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến thiếu hụt thanh khoản và dấu hiệu của rủi ro
thanh khoản 7
1.1.2.1 Nguyên nhân bên trong 7
1.1.2.2 Nguyên nhân bên ngoài 10
1.1.3 Đánh giá rủi ro thanh khoản 12
1.2 Quản lý rủi ro thanh khoản 14
1.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro thanh khoản 14
1.2.2 Mục tiêu của việc quản lý rủi ro thanh khoản 14
2.2 Quản lý rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân
Đội 46
2.2.1 Khung pháp lý cho quản lý rủi ro thanh khoản 46
2.2.1.1 Quy định của Nhà nước 46
2.2.1.2 Quy định của Ngân hàng TMCP Quân đội 48
2.2.2 Quản lý rủi ro thanh khoản của Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) 50
2.2.2.1 Về nhân sự và tổ chức 50
2.2.2.2 Về quy trình quản lý rủi ro thanh khoản 53
2.2.2.3 Phương pháp và công cụ quản lý rủi ro thanh khoản 54
2.3 Phân tích các chỉ số thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân Đội 56
2.3.1 Các chỉ số theo quy định của Ngân hàng Nhà nước 56
2.3.2 Phân tích các chỉ số đo lường thanh khoản của MB 58
2.4 Đánh giá tình hình thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân đội 61
2.5 Đánh giá khâu quản lý rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Quân đội 62
2.5.1 Những kết quả đạt được 62
2.5.2 Những tồn tại và hạn chế 64
Chương 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI
66
3.1 Định hướng kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân
đội trong thời gian tới 66
3.1.1 Giả thuyết và căn cứ dự báo kế hoạch 66
3.1.2 Định hướng chiến lược của NHTMCP Quân đội trong những năm tới 67
3.1.3 Đánh giá của tổ chức tư vấn về kế hoạch lợi nhuận của NHTMCP Quân
TMCP Thương mại cổ phần
UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà Nước
V.A.S Chuẩn kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting System)
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp quá trình tăng vốn từ năm 2006 đến 2013 30
Bảng 2.2: Cơ cấu cổ đông vào 30/12/2013 31
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng từ 2009 đến 2013 36
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay theo kỳ hạn của MB từ 2009 đến 2013 36
Bảng 2.5: Phân loại nợ và tỷ lệ nợ xấu của MB từ 2009 đến 2013 38
Bảng 2.6: Cơ cấu huy động vốn của MB từ 2009 đến 2013 39
Bảng 2.7: Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng khách hàng từ 2009 đến 2013 41
Bảng 2.8: Cơ cấu tiền gửi theo hình thức huy động từ 2009 đến 2013 41
Bảng 2.9: Cơ cấu tiền gửi theo loại tiền từ 2009 đến 2013 42
Bảng 2.10: Kết quả hoạt động kinh doanh của MB từ 2009 đến 2013 45
Bảng 2.11: Chỉ tiêu thanh khoản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước 56
Bảng 2.12: Phân tích các chỉ tiêu thanh khoản 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, Nxb Thống Kê, TP Hồ Chí Minh
2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (2009, 2010, 2011, 2012, 2013), Báo
cáo thường niên
3. Nguyễn Đăng Dờn (2005), Tiền tệ ngân hàng, Nxb Thống Kê, TP Hồ Chí Minh
4. Nguyễn Thị Mùi (2008), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Tài Chính, Hà Nội
5. Nguyễn Văn Tiến (2005), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nxb Thống
kê, Hà Nội
6. Trần Huy Hoàng (2007), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Lao động xã hội, Hà
Nội
Tiếng Anh
1. Andrew Crokett (2008), Market Liquidity and financial stability, JB Morgan Chase
International
2. Anthony Sauders, Marcia Millon Cornett (2008), Financial Institutions
Management - A Risk Management Approach, McGraw Hill, New York
3. Basel (2008), Principles for Sound Liquidity Risk Management and Supervision,
Bis
4. Brendan van de Vossen (2010), Bank Liquidity Management, Albany, State
University of New York
5. Denis G. Uyemura, Donald R. Van Deventer (1993), Financial risk management in
banking, A bank line publication
6. ICRA Rating Figure (2007), Liquidity Management in Banks - An Increasingly
complex affair, www.icraratings.com
7. Manish Kumar (2013), Liquidity Risk Management in Bank : a conceptual
Framework, Delhi
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn hai thập kỷ qua, từ khi hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện quá trình
cải cách, các ngân hàng thương mại đã có bước phát triển mới về lượng và chất, nhưng
vấn đề rủi ro thanh khoản vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Từ năm 2007, hệ thống
ngân hàng Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh với hàng loạt thành viên chuyển đổi, phần
lớn là những cổ đông trước đây kinh doanh trong ngành thương nghiệp. Khi tham gia
vào lĩnh vực ngân hàng, họ mạnh dạn dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vì
những khoản lợi nhuận trước mắt. Khi tín dụng phát triển quá nhanh, nợ xấu của các
ngân hàng này trở thành hiểm họa và để lại những tác hại nặng nề.
Từ bài học trong năm 2007, không bất ngờ khi vấn đề thanh khoản được đặt lên
hàng đầu ở các ngân hàng trong những năm 2008 và 2009. Tuy nhiên, việc quản lý
thanh khoản chỉ dừng lại ở mức độ quản lý theo dữ liệu sổ sách và cơ cấu các kỳ hạn.
Các ngân hàng đã đánh đổi lợi ích chi phí với khả năng rủi ro bằng việc lách kỳ hạn
của các khoản tiền gửi. Nói một cách ví von, các ngân hàng cố gắng xây tường chận rủi
ro thanh khoản nhưng lại chừa những khoảng trống để rủi ro có thể thoát ra gây tác hại
bất cứ lúc nào.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản lý ngân hàng là đảm
bảo thanh khoản hợp lý cho ngân hàng. Nếu ngân hàng bị thiếu thanh khoản sẽ dễ bị
mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống. Với xu thế
hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, cùng với những thực
trạng trên thị trường tiền tệ Việt Nam, thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản của
các ngân hàng thương mại có ý nghĩa bức thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn. Trên cơ sở
vận dụng những lý thuyết tiếp thu trong quá trình đào tạo tại Trường Đại học Kinh tế
thích ý nghĩa của tính thanh khoản, rủi ro thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản.
3
Ngoài ra, tác giả cũng tập trung vào việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro thanh
khoản cho ngân hàng.
A. Vento (2009), "Bank Liquidity Risk Management and Supervision: Which
Lessons from Recent Market Turmoil?", Journal of Money, Investment and Banking,
là nghiên cứu phân tích các kỹ thuật quản lý thanh khoản tại một số nước Châu Âu
nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và giám sát thanh khoản ngân
hàng. Tuy nhiên, đó không phải là giải pháp tối ưu khi các ngân hàng phải đối mặt với
việc thanh khoản bị cạn kiệt. Không có một công cụ đầy đủ để chống lại rủi ro thanh
khoản, nhưng các yếu tố cơ bản không thể thiếu đối với các ngân hàng là phải có
những nguyên tắc quản trị rõ ràng để xây dựng chiến lược về quản lý rủi ro thanh
khoản. Nghiên cứu này cũng đánh giá cao vai trò của các tổ chức đánh giá xếp hạng
trong việc cung cấp thông tin và đưa ra những cảnh báo cho thị trường tài chính.
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Duy Sinh (2009), "Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong
các ngân hàng thương mại Việt Nam", nghiên cứu những đặc điểm của việc quản lý
thanh khoản trong các ngân hàng thương mại thông qua phương pháp tiếp cận các chỉ
số đảm bảo khả năng thanh toán, từ đó đưa ra đánh giá chung về sự yếu kém trong
quản lý rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc đo lường, đánh giá mức độ an toàn thanh khoản tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Quân Đội, tác giả mong muốn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
khâu quản lý thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội, và nói rộng
hơn, cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Cụ thể là:
• Hệ thống lại lý thuyết về thanh khoản và quản lý thanh khoản của ngân hàng
• Giới thiệu về thực trạng quản lý thanh khoản tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Quân Đội
• Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý thanh khoản tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
có một hệ thống ngân hàng mạnh, ở đó nền kinh tế sẽ phát triển với tốc độ cao. Trong
nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản: trung gian tín
dụng, trung gian thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng.
Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro khi ngân hàng thường
xuyên phải đối mặt với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường (rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái,
rủi ro thanh khoản và rủi ro đầu tư), rủi ro vận hành, rủi ro tác nghiệp….
1.1. Vấn đề thanh khoản trong ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản
1.1.1.1 Khái niệm thanh khoản
Crockett đã nói: "Tính thanh khoản dễ nhận ra hơn là định nghĩa nó". Theo Ủy
ban Basel về giám sát Ngân hàng, “thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể
tăng thêm tài sản, vừa đủ sức đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không phải đắn đo,
cân nhắc nhiều như trong bài toán kinh tế cơ bản cổ điển” (được cái nọ phải chịu mất
cái kia, khó lưỡng toàn).
6
Trong hoạt động ngân hàng, "tính lỏng" khác với "thanh khoản". "Tính lỏng"
(liquid) là thuật ngữ chỉ khả năng nhanh chóng chuyển đổi một khoản mục tài sản
thành tiền. Ngân hàng quản lý nhiều khoản mục tài sản khác nhau, đều được thể hiện
dưới hình thái giá trị. Có tài sản có thể sử dụng tức thì như tiền mặt tại quỹ, có thể lấy
ra chi trả ngay. Trên số dư tiền gởi tại Ngân hàng Nhà Nước hay các tổ chức tín dụng
khác, ngân hàng có thể phát hành séc hay lệnh chi theo nhu cầu chi trả hay đi rút tiền
mặt về chi trả tại quầy. Ngoại tệ hay vàng phải ra thị trường ngoại hối bán theo thời giá
mới có tiền theo thời gian T+2. Ngân hàng phải mất công sức và thời gian đi đòi các
khoản phải thu. Muốn bán bất động sản thuộc tài sản cố định, phải theo thủ tục luật
định, không thu tiền nhanh theo ý muốn được.
"Thanh khoản" (liquidity) là khả năng đáp ứng tức thì các món nợ phải trả đến
hạn trước mắt. Một ngân hàng được đánh giá có thanh khoản tốt khi không phải hoãn
lại bất cứ món tiền nào cần chi trả hay thanh toán ngay trong ngày.
Chúng ta phải xem xét thanh khoản của ngân hàng thương mại trong trạng thái
động, nghĩa là phải xem xét thanh khoản trong mối tương quan giữa cung-cầu thanh
sử dụng vốn với các nguồn vốn huy động. Các ngân hàng thường lạm dụng các nguồn
vốn huy động ngắn hạn, chủ yếu là các khoản tiền gửi ngắn hạn của cá nhân và vay của
định chế tài chính khác, để đi đầu tư dài hạn trước hấp lực của lợi nhuận kỳ vọng. Vốn
đầu tư chưa thu hồi đủ do thời hạn còn xa, ngân hàng phải hoàn trả vốn và lãi cho
người gởi tiền. Ngay với kỳ hạn ngắn, kỳ hạn huy động do người gởi tiền quyết định
còn kỳ hạn vay phải đáp ứng yêu cầu của khách nợ, giữa tài sản và nguồn vốn khó
trùng khớp nhau về hạn kỳ. Trong kinh doanh, người ta hay phê phán việc huy động
8
tiền của người sau để trả cho người trước, song đó lại là nguyên tắc cơ bản trong hoạt
động ngân hàng. Như vậy, rủi ro kỳ hạn đưa đến rủi ro thanh khoản.
Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ khâu điều hành hoạt động ngân hàng. Trên
nguyên tắc, ngân hàng đi huy động vốn để sử dụng vào các hoạt động kinh doanh bình
thường của mình theo phương châm “đi vay để cho vay”. Ngân hàng thương mại ngày
nay có chức năng kinh doanh tổng hợp, song luật pháp có những ràng buộc chặt chẽ
cho từng loại hình kinh doanh, mà khi các nhà điều hành ngân hàng vượt qua giới hạn
này, nguy cơ phát sinh rủi ro sẽ tăng lên.
Luật pháp quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cùng quỹ đảm bảo thanh toán tính trên
nguồn huy động theo từng kỳ hạn nhằm mục đích:
+ Hạn chế khả năng cho vay ra tức khả năng gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
+ Hạn chế khả năng tạo bút tệ với hệ số gia tốc, tác động lên lưu thông tiền tệ,
tạo áp lực lạm phát cho nền kinh tế.
+ Bổ sung cho vốn chủ sở hữu, tăng cường thanh khoản tức tăng thêm khả năng
chịu đựng các loại rủi ro cho ngân hàng.
Quy định này ngầm nhắc ngân hàng không được cho vay vượt quá khả năng huy
động nguồn vốn rồi tự chuốc lấy nguy cơ thiếu hụt thanh khoản.
Luật pháp cũng khống chế tỷ lệ sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để đầu
tư trung dài hạn. Một cách chính thống nhất, ngân hàng chỉ nên dùng nguồn huy động
trung dài hạn để đầu tư sau khi đã trích lập dự trữ bắt buộc và chừa phần đảm bảo
thanh toán theo luật định. Điều này nhằm ngăn ngừa rủi ro tín dụng và rủi ro kỳ hạn.
Luật pháp chỉ cho phép sử dụng có giới hạn một phần vốn điều lệ để mua cổ
10
+ Chi phí tài trợ vốn trên thị trường bán lẻ, bán buôn tăng.
+ Tiền gửi có kỳ hạn bị rút trước hạn gia tăng.
+ Các món thanh toán thường xuyên bị chậm trễ.
+ Khách hàng khó rút tiền tại ngân hàng.
1.1.2.2. Nguyên nhân bên ngoài
Nguyên nhân thứ nhất là rủi ro trong cho vay. Rủi ro tín dụng là những tổn
thất xảy ra khi người vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn
theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro tín dụng có nguyên nhân khách quan –
khách hàng kinh doanh không thuận lợi, bị mất khả năng thanh toán – và chủ quan –
khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích, chây ì, lừa đảo…. Trong lúc đó, ngân
hàng phải trả đủ tiền gốc và lãi đúng hạn cho người gởi. Khi rủi ro tín dụng phát sinh
với quy mô đáng kể, các tổn thất ăn mòn hết vốn chủ sở hữu, sẽ tiếp tục xâm thực vào
nguồn vốn huy động, ngân hàng tiến gần đến nguy cơ mất khả năng thanh toán. Như
vậy, rủi ro tín dụng cũng đưa đến rủi ro thanh khoản.
Nguyên nhân thứ hai là sự thay đổi lãi suất thị trường, tác động đến cả người
gửi lẫn người vay tiền. Lãi suất tiền gởi và tiền vay trong ngân hàng có thể không thay
đổi cùng lúc và cùng mức độ. Lúc đó, tùy vào khe hở nhạy cảm lãi suất (Interest
Sensitive Gap-ISG) và khe hở kỳ hạn (Duration Gap) thực tế trong ngân hàng, người ta
lượng hóa được tác động cụ thể của thay đổi lãi suất lên lợi nhuận cùng thanh khoản
của ngân hàng.
Khi lãi suất tăng,
+ Người gửi tiền có thể rút tiền đang gửi để chuyển sang nơi đang chào lãi suất
cao hơn. Ngân hàng có thể được lợi khi người gởi tiền chấp nhận bỏ lãi suất đang
hưởng (và trở về lãi suất không kỳ hạn), nhưng thiệt mất nguồn huy động khi người gởi
rút vốn đi khỏi ngân hàng. Nếu người gởi tiền chấp nhận mức lãi suất cũ, ngân hàng
11
được thêm lợi nếu cho vay ngay được theo lãi suất mới vừa tăng lên. Lợi ích này chỉ
kéo dài đến khi hết kỳ hạn gởi vốn cũ.
với:
∑Cung thanh khoản = S
1
+
S
2
+
S
3
+
S
4
+
S
5
(S
1
) : Các khoản tiền gửi đang đến
(S
2
) : Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ
(S
3
2
) : Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao
(D
3
) : Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi
(D
4
) : Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ
(D
5
) : Thanh toán cổ tức cho các cổ đông
Trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại một thời điểm có thể rơi vào một trong
những trường hợp sau:
Trạng thái thanh khoản ròng (NLP
t
) = ∑Cung thanh khoản - ∑Cầu thanh khoản
13
* Thặng dư thặng khoản (Liquidity Surplus) khi NLP
t
> 0
Ngân hàng ở trong trạng thái thừa thanh khoản. Thừa thanh khoản là một trạng
thái mất cân bằng, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không
tiếp cận được khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay.
Trong phạm vi của một ngân hàng, đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời
của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản Có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có
khả năng sinh lời (tồn quỹ tiền mặt quá lớn), hoặc ngân hàng tăng vốn quá nhanh khi
chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả.
Khi ngân hàng rơi vào trạng thái thừa thanh khoản, nhà quản trị phải kịp thời sử
dụng khoản thừa để tạm thời đầu tư kiếm lời cho đến khi có nhu cầu về thanh khoản