BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HÀ THÀNH
ĐỀ TÀI :
QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM-
CHI NHÁNH 5 TPHCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HÀ THÀNH
1.2. Lý thuyết về quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 11
1.2.1. Khái niệm quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại 11
1.2.2. Mục tiêu của quản lý nợ xấu 12
1.2.3. Nội dung của quản lý nợ xấu 12
1.2.3.1. Xây dựng chiến lược và thực thi quản lý nợ xấu 12
1.2.3.2. Các biện pháp xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại 14
1.3. Ảnh hưởng của nợ xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại 18
1.4. Khái quát về quản lý nợ xấu của một số nước trên thế giới và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam 18
1.4.1. Trung Quốc 18
1.4.2. Thái Lan 19
1.4.3. Hàn Quốc 20
1.4.4. Mỹ 21
1.4.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 22
Chương 2-Thực trạng nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam- Chi nhánh 5 TPHCM 24
2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh 5TPHCM. 24
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
– Chi nhánh 5 TPHCM 24
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi
nhánh 5 TP.HCM 25
2.1.3. Kết quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh 5
TPHCM trong thời gian qua 25
2.2. Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi
nhánh 5 TPHCM 30
2.3. Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi
nhánh 5 TPHCM 33
2.3.1. Hệ thống pháp luật về quản lý nợ xấu 33
2.3.2. Thực trạng xây dựng chiến lược quản lý nợ xấu 34
3.2.1.6. Hoàn thiện công tác phân loại nợ xấu 55
3.2.1.7. Hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu 57
3.2.2. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro 61
3.2.3. Các giải pháp về hệ thống thông tin 61
3.2.4. Các giải pháp về nguồn nhân lực 62
3.2.5. Các giải pháp về kiểm tra, giám sát 63
3.3. Các giải pháp hỗ trợ 64
3.3.1. Đối với Chính phủ 64
3.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước 66
3.3.3. Đối với toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 69
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO iii
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBTD : Cán bộ tín dụng
CN5 : chi nhánh 5 TPHCM
DN : Doanh nghiệp
DPRR : Dự phòng rủi ro
GHTD : Giới hạn tín dụng
KHDN : Khách hàng Doanh nghiệp
NHCT : Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCTD : Tổ chức tín dụng
Bảng 2.15-Nợ xấu, lãi suất bình quân và thu nhập tương ứng giai đoạn 2008 – 2012 43
Bảng 2.16-Kết quả hoạt động giai đoạn 2008 – 2012 43
1
MỞ ĐẦU: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:
Thời gian qua, hoạt động của hệ thống NHTM đang phải đối mặt với nhiều khó khăn
và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM, bởi nó làm
tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Do vậy, xử lý nợ xấu là bước đi quan
trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Dù nợ xấu ở mức nào thì hiện tại, đã
và đang ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước,
đến lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các
ngân hàng.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên tác giả đã chọn vấn đề:“Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh 5 TPHCM” để làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Để có thể giải quyết được vấn đề nghiên cứu đặt ra và với qui mô của một luận văn, tôi
cho rằng vấn đề quan trọng đầu tiên mà tôi cần giải quyết là tìm hiểu các lý thuyết về nợ
xấu trong bối cảnh hiện tại và thực tiễn vấn đề nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh 5 TPHCM. Chỉ có thế, tôi mới đưa ra được
các giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý nợ xấu tại ngân hàng này.
3. Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các cơ chế, quy định, quy trình quản lý nợ xấu trên thế giới
để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Qua đó, đề tài đi sâu phân tích thực trạng nợ
Kết cấu của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 :Lý thuyết về quản lý nợ xấu của các NHTM
Chương 2:Thực trạng nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam-Chi nhánh 5 TPHCM
Chương 3:Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam- chi nhánh 5 TPHCM
3
CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về nợ xấu tại các NHTM.
1.1.1. Khái niệm nợ xấu.
1.1.1.1. Nợ xấu theo quan điểm thế giới.
Theo ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu.
Nợ xấu trong các NHTM gồm:
- Những khoản nợ không thể thu hồi được: những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những
khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ nợ; người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích,
không còn tài sản để thanh toán nợ; những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được
với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; những khoản nợ mà khách nợ đã
chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn
lại không đủ để trả nợ.
- Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: là những khoản nợ không có tài sản
thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng
để trả và lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không
thể thu hồi được đầy đủ.
Theo định nghĩa Nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hợp quốc.
Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90
ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc
chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng
có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ.
TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM. Theo Quyết định này có thể
hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000 và không
5
có khả năng trả nợ, mặc dù ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy định hiện hành
nhưng vẫn không thu hồi được nợ. Như vậy, khác với giai đoạn trước, các NHTM phân loại
các khoản nợ xấu tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính
chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm của khoản vay (có TSBĐ
hoặc không có TSBĐ) và tình trạng pháp lý khách hàng (không còn tồn tại hoặc còn tồn tại,
hoạt động) để phân loại thành 03 nhóm nợ tương ứng với các cơ chế xử lý kèm theo khác
nhau, bao gồm: (i) Nợ xấu tồn đọng có TSBĐ (nợ tồn đọng nhóm 1); (ii) Nợ xấu tồn đọng
không có TSBĐ và không còn đối tượng thu hồi (nợ tồn đọng nhóm 2);(iii) Nợ xấu tồn đọng
không có TSBĐ nhưng con nợ đang còn tồn tại, hoạt động (nợ tồn đọng nhóm 3).
Quan niệm về nợ xấu theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (giai đoạn hiện
nay)và Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/03/2013(sẽ có hiệu lực kể từ
ngày 01/06/2014).
Theo đó ,nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn),
nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”.
Các tiêu chí để phân loại nợ xấu cụ thể như sau:
Trích Điều 6, Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
* Phân loại nợ theo phương pháp định lượng:
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả
nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 ở trên; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ khác được phân loại
vào nhóm 3.
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2; các khoản nợ khác
được phân loại vào nhóm 4.
số tồn kho tăng mạnh,dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và phần vốn vay ngân
7
hàng khi đến hạn không có khả năng thanh toán dẫn đến nợ quá hạn Bên cạnh đó, rất nhiều
DN hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu
nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế. Vì vậy, khi môi
trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ
hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả
năng trả nợ vay ngân hàng của DN.
- Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lý của pháp luật, môi trường pháp lý cho kinh
doanh tín dụng chưa đầy đủ.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật văn bản dưới luật hướng
dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng Ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn
bản đã có, song việc triển khai vào hoạt động của Ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và
gặp nhiều vướng mắc, bất cập như một số vấn đề cưỡng chế và thu hồi nợ như trường hợp
khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSBĐ nợ vay. Thực tế, NHTM
không làm được điều này vì NHTM không có chức năng chế buộc khách hàng…cùng nhiều
các quy định khác dẫn đến tình trạng không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn
đọng. Chính vì môi trường pháp lý không chặt chẽ tạo cho khách hàng có cơ hội lợi dụng sơ
hở của pháp luật, gây bế tắc cho Ngân hàng khi giải quyết các khoản thu hồi.
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra Ngân hàng và đảm
bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải tiến căn bản về chất lượng. Năng lực cán bộ thanh tra
giám giát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ
mới thanh tra Ngân hàng vẫn chưa theo kịp. Thanh tra Ngân hàng còn hoạt động một cách
thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro
và vi phạm. Do vậy, có những sai phạm của NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo,
có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả xảy ra rồi mới can thiệp.
-Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
9
xuất kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
Thêm vào đó, do hạn chế về kiến thức kinh doanh nên khi lập các phương án kinh
doanh, các dự án đầu tư, DN đã không tính đến những biến động của thị trường, đưa ra
những phương án kinh doanh không hiệu quả, quản lý vốn lỏng lẻo nên bị các đơn vị khác
chiếm dụng vốn quá nhiều, đầu tư dàn trải không hiệu quả, dẫn đến làm ăn thua lỗ, không
trả được nợ cho Ngân hàng.Một số DN sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tài
sản cố định làm cho vốn bị đọng gây ra nợ quá hạn cho ngân hàng.
- Các nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức khách hàng.
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay, cố ý lừa đảo Ngân
hàng để chiếm đoạt tài sản. Nó biểu hiện là hành động có chủ ý của người vay, được tính
toán chuẩn bị trước nhằm mục đích chiếm đoạt tiền vay của Ngân hàng. Họ tìm cách làm
giả mạo giấy tờ, chữ ký, con dấu, hoặc điều chỉnh các báo cáo tài chính, hay làm các hóa
đơn, chứng từ mua bán khống…để vay được vốn của Ngân hàng sau đó sử dụng tiền vay
không đúng mục đích, không trả nợ. Trường hợp này không nhiều, tuy nhiên, khi vụ việc
phát sinh lại ảnh hưởng hết sức nặng nề, Ngân hàng khó thu hồi được nợ, có nguy cơ bị mất
vốn hoàn toàn hoặc chỉ thu hồi được một phần, làm liên quan đến uy tín của cán bộ, làm ảnh
hưởng xấu đến các DN khác.
1.1.2.2. Nguyên nhân chủ quan.
- Sự yếu kém trong công tác xây dựng và thực thi chiến lược quản lý nợ xấu.
Với tình hình thực tiễn của nền kinh tế và đặc điểm của mỗi ngân hàng thì chiến lược
quản lý nợ xấu phải được xây dựng sao cho phù hợp. Tuy nhiên, do sự yếu kém trong công
tác này, các sai lầm ví dụ như trong việc đề ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng quá cao khi
chưa đồng bộ với một cơ chế kiểm soát, một qui trình tín dụng chặt chẽ sẽ dẫn đến sự gia
tăng của nợ xấu. Bên cạnh đó là sự mất hợp lý của cơ cấu cho vay, sự thiếu chính xác trong
nhận định xu hướng phát triển hay suy thoái của các ngành, các khách hàng mục tiêu dẫn
đến sự tập trung tín dụng sai lầm.
10
tế cho thấy, nhiều cán bộ ngân hàng đã thông đồng rút ruột với khách hàng, cho vay khống
dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Họ có thể thực hiện việc này thông qua việc làm sai
lệch cách nhìn về báo cáo tài chính và triển vọng của khách hàng, cũng như là sự sai lệch về
giá trị thực của TSBĐ .Tuy nhiên hiện chưa có tính toán, trong tỷ lệ nợ xấu có bao nhiêu
xuất phát từ đạo đức ngân hàng. Ngoài ra, nợ xấu còn nằm ở dạng “chuyển vốn cho vay
thành vốn góp.” Khoản nợ này không chỉ “rất xấu” mà còn nguy hiểm ở chỗ đôi khi chỉ tồn
tại trên sổ sách của con nợ và chủ nợ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các lỗi này đều xuất phát từ vấn đề đạo đức mà có thể
xuất phát từ vấn đề trình độ của nhân viên tín dụng, từ đó dẫn đến chất lượng thẩm định
thấp, quản lý lỏng lẻo, không sâu sát khách hàng.
-Hoạt động thâu tóm, mua bán, sáp nhập, các công ty sân sau, sở hữu chéo trong ngân
hàng đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền.
Bởi lẽ, việc sở hữu chéo sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để cho
các DN sở hữu ngân hàng này có thể dễ dàng vay được vốn từ ngân hàng kia, hoặc dễ dàng
cho các công ty con của các DN có vốn sở hữu tại ngân hàng vay vốn, thậm chí khi một
TCTD lớn chiếm cổ phần chi phối ngân hàng khác và biến ngân hàng này thành "sân sau”
của mình, họ có thể buộc ngân hàng bị chi phối cấp tín dụng cho những dự án không an toàn
hoặc cho DN có quan hệ thân thiết. Việc cho vay dễ dàng, thiếu kiểm soát cộng với việc
thẩm định vốn vay thiếu cẩn trọng tất yếu sẽ dẫn đến nợ xấu.
1.2. Lý thuyết về quản lý nợ xấu tại các NHTM.
1.2.1. Khái niệm quản lý nợ xấu tại các NHTM.
Quản lý nợ xấu bao gồm quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính
sách quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và
hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh nhằm phù
hợp đối với mục tiêu trong từng giai đoạn của mỗi ngân hàng.
12
1.2.2. Mục tiêu của quản lý nợ xấu.
Mục tiêu của quản lý nợ xấu tại mỗi ngân hàng và các thời điểm khác nhau là khác
phát huy tối đa tiềm lực của ngân hàng. Như ta thấy hoạt động kinh doanh của NHTM chủ
yếu là cho vay nên thường đi kèm với rủi ro tiềm ẩn ,nợ xấu là không thể tránh được. Vì thế
cần phải xác định giới hạn cần thiết của nợ xấu hay cụ thể hơn là xác định mức độ và tỷ lệ
của nợ xấu thích hợp.
Ngoài ra, chiến lược quản lý nợ xấu hay chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cần đặc
biệt chú trọng đến việc đa dạng hoá danh mục khách hàng, ngành hàng nhằm giảm bớt rủi
ro. Tránh tình trạng “bỏ trứng vào một giỏ”, tín dụng chỉ tập trung vào một khách hàng/
nhóm khách hàng liên quan, ngành hàng hay một lĩnh vực nào đó. Không chỉ thế, cơ cấu tín
dụng còn phải phù hợp với cơ cấu nguồn vốn huy động được.
Bên cạnh đó, để có thể thực hiện được việc quản lý nợ xấu thì ngân hàng phải xây
dựng các qui trình, qui chế và thực thi chúng một cách hợp lý. Cụ thể:
- Xây dựng và thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng.
Khi các ngân hàng tiến hành hoạt động tín dụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình
từ khâu tìm kiếm khách hàng, đến thẩm định, giải ngân đến các kiểm tra giám sát trước và
sau cho vay. Việc xây dựng, thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng sẽ
giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp
thời các sai phạm và thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Xây dựng và thực thi qui chế kiểm tra kiểm soát nội bộ.
Một khía cạnh khác cũng rất quan trọng của hoạt động kiểm tra giám sát hoạt động
tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Thông qua công tác này có thể phát
hiện,ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện quy trình nghiệp vụ
tín dụng. Bên cạnh đó, hoạt động kiểm soát nội bộ còn góp phần phát hiện ngăn chặn những
rủi ro đạo đức do CBTD gây ra. Hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi
một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa
ra các đánh giá một cách khách quan đối với hoạt động tín dụng. Trên cơ sở đó, bộ phận
14
kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng tư vấn cho các bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản lý
của ban lãnh đạo ngân hàng.
1.2.3.2. Các biện pháp xử lý nợ xấu tại các NHTM:
tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao.
Giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả:
Giải pháp này có thể được xem xét áp dụng tuỳ thuộc vào thiện chí trả nợ vay của
khách hàng và tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từng ngân hàng.
Việc giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy sinh một phần doanh thu của ngân
hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay.
b/ Xử lý TSBĐ, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có khả năng
phát triển, chây ỳ trong việc trả nợ… NHTM chủ động xử lý các TSBĐ nợ vay theo các
hình thức sau: Tự bán công khai trên thị trường; Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài
sản; Bán cho Công ty mua bán nợ của Nhà nước. Trong trường hợp khoản vay không được
thanh toán đầy đủ thì ngân hàng được xử lý TSBĐ theo nguyên tắc và cơ chế theo luật định.
Đối với các khoản cho vay có sự bảo lãnh của bên thứ 3: Ngân hàng yêu cầu bên bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thay, ngân hàng chủ động xử lý tài sản bảo lãnh tương tự như các tài sản thế
chấp cầm cố của bên vay.
Thực hiện quyền truy đòi cho vay gián tiếp: nếu đến hạn mà người thanh toán không
thực hiện nghĩa vụ thì ngân hàng truy đòi người đi vay, người bảo lãnh.
Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại TSBĐ hoặc đòi nợ bên
bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn nhiều thời gian, khả năng thu hồi đầy đủ
nợ thường không cao, song ngân hàng vẫn buộc phải thực hiện để thu hồi vốn. Cho đến nay,
đây là một trong số các biện pháp thu hồi vốn có hiệu quả nhất cho các ngân hàng, đặc biệt
các khoản nợ do cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng…
16
c/ Sử dụng hệ thống pháp luật để giải quyết nợ xấu.
Biện pháp kiện khách hàng ra Toà để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi các biện
pháp trên không khả thi. Ngân hàng có thể nhờ Toà án can thiệp buộc khách hàng trả nợ,
chuyển giao TSBĐ tiền vay, phát mại tài sản của khách hàng hoặc nếu khách hàng là DN
không trả được nợ và ngân hàng với tư cách là chủ nợ chính có thể làm đơn xin toà mở thủ
biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài
sản, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hoá cao gọi là Công ty
quản lý nợ và khai thác tài sản. Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán
tiếp theo.
f/ Chứng khoán hoá các khoản nợ xấu.
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đuợc áp dụng rộng rãi trên
thế giới là chứng khoán hoá các khoản nợ. Chứng khoán hoá là chuyển đổi một tập hợp có
chọn lọc các khoản vay có thế chấp của ngân hàng mà trước đó không có thị trường thứ cấp
để giao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thể bán trên thị trường thứ cấp. Ngân hàng
có thể dùng kỹ thuật này để xử lý các khoản nợ xấu của mình nhưng cần có sự phát triển
mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cùng giao dịch mua bán nợ.
Đối mặt với áp lực rủi ro tín dụng và yêu cầu tăng vốn chủ sở hữu, công cụ quản lý
rủi ro chứng khoán hoá các khoản cho vay đã giúp ngân hàng hạn chế một cách hiệu quả rủi
ro tín dụng. NHTM bắt đầu bằng cách khoanh khoản nợ xấu có thế chấp và chuyển nó ra
khỏi nội bảng, hạch toán ngoại bảng để bán cho người đầu tư chứng khoán thông qua trung
gian là người được uỷ thác. Người được uỷ thác thường là tổ chức được bảo đảm không bị
phá sản và hoạt động chuyên nghiệp về phát hành chứng khoán. Đầu tư thông qua hoạt động
chứng khoán hoá giúp ngân hàng đa dạng hoá, giảm rủi ro, giảm các chi phí đối với việc
giám sát các khoản cho vay.
Công nghệ chứng khoán hoá hấp dẫn nhiều ngân hàng, bởi vì thông qua đó mà ngân
hàng có thể rút ngắn được thời gian xử lý nợ xấu, tăng khả năng thanh khoản của tài sản,