BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VÕ TRẦN TRUNG
HIỆU QUẢ CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ DOANH
NGHIỆP TRONG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS TRẦN NGỌC THƠ
Tôi xin chân thành cám ơn TS. Nguyễn Đức Hải - Phó Giám đốc Trung tâm Tài
chính Vi mô Học viên ngân hàng, anh Nguyễn Hải Đường - Phó giám đốc Quỹ hỗ
trợ phụ nữ nghèo Thanh Hoá, chị Nguyễn Thu Hương – Cán bộ giám sát M7 Điện
Biên, anh Nguyễn Thanh Hà – Cán bộ Quỹ VietED, chị Nguyễn Thị Hà – Kế toán
Quỹ phát triển phụ nữ Uông Bí, chị Nguyễn Thị Tiếp – Quỹ phụ nữ nghèo Sóc Sơn
và các anh chị đang công tác tại các tổ chức tài chính vi mô khác đã cung cấp thông
tin và dành thời gian trả lời email của tôi.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CGAP : Tập đoàn tư vấn hỗ trợ người nghèo (Consultative Group to Assist
the Poor)
IDB : Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (Inter-American Development Bank)
IFAD : Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế (International Fund for
Agricultural Development)
FinP : Hiệu quả tài chính
HĐQT : Hội đồng quản trị
HTX : Hợp tác xã
MIX : Tổ chức trao đổi thông tin vi mô (Microfinance Information
Exchange, Inc)
NGO : Hình thức sở hữu bởi tổ chức phi lợi nhuận
OC : Chi phí hoạt động
Outreach : Tiếp cận cộng đồng (hiệu quả xã hội)
PY : Sản lượng danh mục đầu tư
SHF : Hình thức sở hữu công ty cổ phần
SPI : Chỉ số đo lường hiệu quả xã hội (Social Performance Indicators
Initiative)
TCVM : Tài chính vi mô
TCTCVM : Tổ chức tài chính vi mô
USAID : Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (United States Agency for
International Development)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
quả tiếp theo đưa ra rằng, các tổ chức tài chính vi mô sở hữu bởi các tổ chức phi lợi
nhuận sẽ hoạt động tốt hơn trong lĩnh vực này. Và cuối cùng, khuôn khổ pháp lý
quy định phù hợp hơn đối với các tổ chức tài chính vi mô, làm gia tăng khả năng
mở rộng hoạt động và tiếp cận những người nghèo của các tổ chức này.
Từ khóa: tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, quản trị, hiệu quả
2
Giới thiệu
Việt Nam đã xác định ba vấn đề cốt lõi để đảm bảo con đường phát triển bền vững
của đất nước là: tăng trưởng cao về kinh tế gắn với công bằng xã hội, xóa đói giảm
nghèo và bảo vệ môi trường. Với mục tiêu này, hoạt động tài chính vi mô của Việt
Nam đã và đang thể hiện vai trò quan trọng, tăng cường hỗ trợ tài chính cho khu
vực nông thôn và các hộ gia đình thu nhập thấp. Vấn đề đặt ra là, chúng ta không dễ
đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô. Thật vậy, chúng ta xem xét tính
bền vững tài chính của các tổ chức tài chính vi mô chỉ cho thấy một trong những
đặc điểm trong hiệu quả hoạt động. Các tổ chức tài chính vi mô được thành lập để
giúp đỡ những người nghèo nhất, đó là khía cạnh tiếp cận cộng đồng trong hoạt
động của các tổ chức này. Vì vậy, hiệu quả của một tổ chức tài chính vi mô có thể
xem là đa chiều.
Trong bài luận văn này, tập trung vào các mối quan hệ giữa hiệu quả công ty và
quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô. Hầu hết, các tổ chức tài
chính vi mô tuyên bố có một nhiệm vụ kép là: tiếp cận khách hàng là những người
nghèo và bền vững về tài chính. Do đó, hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô
nên được đo lường theo cả hai khía cạnh này.
Quản trị doanh nghiệp tốt được xác định là một nút thắt quan trọng trong việc tăng
cường hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô và gia tăng tiếp cận cộng
đồng (Rock và các cộng sự, 1998; Labie, 2001; Helms, 2006; United Nations, 2006;
Otero và Chu, 2002). Tuy nhiên, chúng ta mới chỉ có nghiên cứu của Hartarska
(2005) ở các tổ chức tài chính vi mô Đông Âu, xét đến ảnh hưởng của quản trị
Bài luận văn này xem xét đặc điểm hội đồng quản trị tác động đến hiệu quả của các
tổ chức tài chính vi mô được điều tra ở Việt Nam. Các đặc điểm này bao gồm: việc
phân quyền giám đốc điều hành/thành viên hội đồng quản trị, giám đốc điều hành là
nữ, hình thức sở hữu doanh nghiệp tác động đến hiệu quả trên hai khía cạnh của các
tổ chức tài chính vi mô. Bên cạnh đó, bài luận văn cũng xem xét các nhân tố tác
4
động đến hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng trên phương diện lý thuyết và
thực nghiệm. Trong đó nổi bật lên các nhân tố như: phương pháp cho vay (cho vay
theo cá nhân hay theo nhóm), thị trường tiếp cận (thành thị hay nông thôn), khuôn
khổ pháp lý và số lượng nhân viên trong một tổ chức tài chính vi mô ảnh hưởng như
thế nào đến việc đo lường hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô.
Câu hỏi nghiên cứu
Bài luận văn đi vào lý giải hai câu hỏi quan trọng trong lĩnh vực tài chính vi mô mà
còn có nhiều tranh luận trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là:
Câu hỏi thứ nhất: Các nhân tố nào tác động đến hiệu quả của các tổ chức tài chính
vi mô được điều tra tại Việt Nam?
Câu hỏi thứ hai: Quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và tiếp
cận cộng đồng của các tổ chức tài chính vi mô được điều tra ở Việt Nam như thế
nào?
Bố cục luận văn
Bố cục bài luận văn gồm 5 phần. Phần 1 nêu lên tổng quan về tài chính vi mô, cũng
như lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới và
Việt Nam. Phần 2 xem xét một số nghiên cứu có liên quan và phát triển giả thuyết.
Sau đó, phần 3 đưa ra cách thu thập dữ liệu và những thống kê mô tả. Phần 4 trình
bày các kết quả chính của bài luận văn cũng như các kiểm định thống kê, và cuối
cùng kết luận ở phần 5.
5
chất lượng của các tổ chức tài chính vi mô, đặc biệt là đối với khách hàng nghèo
và dễ bị tổn thương (tiếp cận những người nghèo và nghèo nhất).
Tính bền vững của các tổ chức tài chính vi mô là khả năng các tổ chức đó cung
ứng cho khách hàng các dịch vụ tài chính – ngân hàng một cách có lợi nhuận và
phát triển lâu dài. Tính bền vững của các tổ chức tài chính vi mô được đo bằng
các tỷ lệ tự bền vững và các hệ số sinh lời. Có ba mức độ bền vững là: tự bền
vững về hoạt động OSS (Operation Self – Sustainability), tự bền vững về tài
chính FSS (Financial Self – Sustainability) và tự bền vững về thể chế ISS
(Institutional Self – Sustainability). Và hai hệ số sinh lời là: ROA (Return on
Asset) và ROE (Return on Equity).
1.2. Đối tượng của các tổ chức tài chính vi mô
Đối tượng của ngành tài chính vi mô là người nghèo. Một đối tượng mà dưới góc
nhìn của khu vực tài chính chính thức, mà cụ thể là các ngân hàng thương mại là
nhóm người có đặc điểm sau:
Đối tượng cho vay có rủi ro tín dụng rất cao (tỷ lệ vỡ nợ rất cao). Họ là
những người có thu nhập thấp, người nghèo, các nông dân không có tài sản
thế chấp, thậm chí không có đất sản xuất. Rồi họ được phác họa như những
người không có khả năng làm ăn, phát triển sản xuất, thậm chí có những
nhận thức ngược chiều hơn là những người lười biếng.
Người nghèo là những người không có khả năng tiết kiệm và khả năng trả nợ
của họ rất hạn chế. Theo góc nhìn này, người nghèo là những người đáng
thương và cần những sự giúp đỡ mang tính chất từ thiện nhiều hơn. Việc cho
7
họ vay chỉ mang ý nghĩa phúc lợi và nhân đạo là chính, chứ không được coi
là đối tượng vay (khách hàng thực sự) một cách sòng phẳng.
Đối tượng cho vay có chi phí cấp xét tín dụng rất cao. Với những quy trình
cấp xét tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, các hợp đồng tín dụng
5 tỷ và 10 tỷ thì các thủ tục cấp xét là như nhau. Nhân viên ngân hàng có tâm
lý và xu hướng muốn cho vay những khoản vay lớn nhằm tăng hiệu quả kinh
khách hàng thực sự, đối tượng vay bình đẳng về lãi suất.
9
1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của tài chính vi mô
1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô trên thế
giới
Cách đây 200 năm, quỹ tín dụng vi mô đầu tiên được Jonathan Swift lập ra tại
Ailen. Đầu tiên ông bỏ ra 500 bảng tiền túi để xoay vòng cho các chủ của hàng vay
trong lúc khó khăn với điều kiện là có hai người hàng xóm đứng ra bảo lãnh rằng:
ông ta là người tốt bụng, chăm chỉ và không nghiện ngập (Aidan Hollis, 1999). Mô
hình này sau đó phát triển thành quỹ Irish Loan fund, được nhân rộng và phát triển
rất mạnh tại Ailen trong thời kỳ này.
Trong thế kỷ 19, các nhóm tiết kiệm và tín dụng đã phát triển khắp các khu vực
nông thôn và các thành phố nghèo đói ở Châu Âu dưới các hình thức: ngân hàng
nhân dân (People’s Bank), liên hiệp tín dụng (Credit Unions), và hợp tác xã tín
dụng (Savings and Credit Cooperatives).
Friedrich Wilhelm Raiffeisen và cộng sự của ông đã phát triển hình thức liên hiệp
tín dụng. Họ đã thúc đẩy sự quan tâm đến việc hỗ trợ người dân ở khu vực nông
thôn thoát khỏi sự phụ thuộc vào người cho vay và tăng cường phúc lợi cho người
nghèo. Từ năm 1870, các liên hiệp tín dụng phát triển mạnh, mở rộng ra khỏi vùng
Rhine và các bang khác của nước Đức và phát triển nhanh chóng sang các nước
Châu Âu và Bắc Mỹ, cuối cùng được nhân rộng sang các nước đang phát triển. Tại
Indonesia ngân hàng Perkreditan Rakyat (BPR) được lập ra năm 1895. BPR trở
thành mạng lưới tài chính vi mô lớn nhất Indonesia với gần 9,000 thành viên.
Đầu những năm 1900, hàng loạt các ngân hàng tương tự BPR ra đời tại khu vực
nông thôn ở Châu Mỹ Latinh, với mục tiêu là hiện đại hóa nông thôn. Họ đưa ra các
tiêu chí như sau: phát triển thương mại khu vực nông thôn; tập trung các nguồn tiết
kiệm nhàn rỗi; gia tăng đầu tư thông qua tín dụng; và xóa bỏ các tập tục lạc hậu. Đa
số các ngân hàng cho ngời nghèo này thì không thuộc sở hữu của người nghèo như
chuyển tiền. Dưới đây là sơ đồ cung cấp các dịch vị tài chính – ngân hàng trên thế
giới.
Hình 1: Sơ đồ cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng
Các tổ chức tài chính vi mô ra đời với mục tiêu và sứ mệnh là cung cấp dịch vụ tài
chính cho hơn 4 tỷ người trên thế giới. Đây có thể xem là một thách thức lớn đối
với các tổ chức tài chính vi mô.
12
1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt
Nam
Các tổ chức tài chính – ngân hàng khác nhau hướng đến từng đối tượng khách hàng
mục tiêu khác nhau. Đặc biệt với sự ra đời của các tổ chức tài chính vi mô, có thể
đảm bảo gần như tất cả thành viên trong xã hội đều có thể tiếp cận với dịch vụ tài
chính – ngân hàng.
Chúng ta sẽ đi tìm hiểu một số tổ chức tài chính vi mô đang phục vụ cho người
nghèo ở Việt Nam.
Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP)
Đây là loại hình ngân hàng chuyên doanh ở Việt Nam, thành lập theo quyết định số
131/2002/QĐ-TTg ngày 4/10/2002 của Thủ Tướng Chính Phủ. Ngân hàng có nhiệm
vụ thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách
khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ Người Nghèo được thành lập theo
Quyết định số 230/QĐ-NH5 ngày 1/9/1995 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Hoạt động của Ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước
bảo đảm khả năng thanh toán, tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia
bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.
Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm thành phố Hồ Chí Minh
(Quỹ trợ vốn CEP)
Quỹ trợ vốn CEP được thành lập bởi Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 05/07/2006, thành phố Điện Biên Phủ, Mạng lưới tài chính vi mô quốc gia -
nhóm M7 được thành lập, gồm 7 chương trình tài chính vi mô hợp thành mạng lưới
M7. Mạng lưới trải dài trên 52 xã thuộc địa bàn 7 huyện với 31,492 hội viên tham
gia, trong đó 7,289 người là dân tộc thiểu số. Vào tháng 12/2007, tổng doanh số cho
14
vay của M7 đạt 2,865,862 USD, giá trị bình quân mỗi khoản vay là 113 USD.
Thành viên của mạng lưới M7 gồm 7 tổ chức đang cung cấp dịch vụ tiết kiệm tín
dụng cho người nghèo. Mạng lưới M7 theo mô hình do ActionAid thiết kế và hỗ trợ
hoạt động từ năm 1993 tới năm 2003 và một tổ chức hỗ trợ kỹ thuật.
Sau đây, là một số thống kê các chỉ số của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam
có thể cho chúng ta thấy một cái nhìn tổng quan trong hoạt động tài chính vi mô ở
Việt Nam.
15
Hình 2: Các chỉ số thống kê về các tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại
Việt Nam
(Nguồn: Thông tin của Planet Rating tới tháng 12/2008: số liệu của Mix Market
dành cho các tài chính vi mô Việt Nam tới tháng 12/2008)
16
Qua hình trên, chúng ta có thể thấy được phần nào hoạt động của các tổ chức tài
chính vi mô ở Việt Nam. Và điều này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau khi đi
vào so sánh các số liệu thống kê của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam.
Chương tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các lý thuyết và các nghiên cứu
trước đây, để đo lường hiệu quả công ty và quản trị doanh nghiệp trong các tổ chức
tài chính vi mô trên thế giới.
2. Các nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết về tài chính vi mô
nên các ngân hàng cổ điển không chú trọng vào các khoản vay nhỏ lẻ. Độ
sâu của tiếp cận cộng đồng trong các tổ chức tài chính vi mô được đo lường
dựa trên sự tập trung vào phục vụ những người nghèo và nghèo nhất.
Thứ hai, sự phù hợp của các dịch vụ và sản phẩm cho khách hàng mục tiêu.
Các tổ chức tài chính vi mô phải thiết kế của các dịch vụ tài chính có thể phù
hợp với nhu cầu và những khó khăn của khách hàng. Chỉ số hoạt động xã hội
phân tích mức độ mà các tổ chức tài chính vi mô có thể đáp ứng những nhu
cầu này của khách hàng.
Thứ ba, cải thiện đời sống của khách hàng và cộng đồng. Đối với các tổ chức
tài chính vi mô, sự tin tưởng của khách hàng có thể làm giảm chi phí giao
dịch và nâng cao tỉ lệ hoàn trả. Đối với các khách hàng, các dịch vụ của các
tổ chức tài chính vi mô giúp khách hàng gia tăng sự tự tin, hòa nhập tốt hơn
vào các hoạt động cộng đồng. Chỉ số hoạt động xã hội được đo lường bằng
mức độ minh bạch, sự nỗ lực của các tổ chức tài chính vi mô theo hướng
nâng cao đời sống của khách hàng.
Thứ tư, trách nhiệm xã hội của các tổ chức tài chính vi mô. Trách nhiệm xã
hội đòi hỏi phải có một sự phù hợp của văn hóa doanh nghiệp với bối cảnh
văn hóa và kinh tế - xã hội của khách hàng. Các tổ chức tài chính vi mô chú
18
trọng xây dựng văn hóa tổ chức trên cơ sở tôn trọng, đồng cảm và chia sẻ đối
với khách hàng.
Tiếp đến, Hartarska (2005) đã xem xét mối quan hệ giữa cơ chế quản lý và hiệu quả
của các tổ chức tài chính vi mô ở các nước Đông Âu trong giai đoạn từ năm 1998
đến năm 2002. Trong đó, hiệu quả tài chính và tiếp cận cộng đồng là các biến phụ
thuộc, và cơ chế quản lý bao gồm các đặc điểm hội đồng quản trị và hình thức sở
hữu là các biến độc lập. Tác giả phát hiện ra rằng, trong một tổ chức tài chính vi mô
có một hội đồng quản trị tách biệt với người quản lý có ROA tốt hơn. Nhưng một tổ
chức tài chính vi mô với giám đốc là một thành viên trong hội đồng quản trị, cho
hiệu quả tài chính thấp hơn và tiếp cận cộng đồng cũng thấp hơn. Bên cạnh đó, sự
thống nhất nhân tố nào là cần thiết và quan trọng trong việc đo lường này vẫn đang
còn nhiều tranh luận. Tương tự như vậy, việc xem xét hiệu quả công ty và quản trị
doanh nghiệp trong các tổ chức tài chính vi mô cần có nhiều những nghiên cứu
trong tương lai để có thể làm rõ được điều này. Chương tiếp theo, bài luận văn trình
bày những hiểu biết sâu hơn trong lĩnh vực tài chính vi mô.
2.2. Lý thuyết về tài chính vi mô
2.2.1. Thách thức của tài chính vi mô
Trước khi thảo luận về cơ chế quản lý, chúng ta cần phải xem xét tính chất đặc biệt
của các tổ chức tài chính vi mô. Như một nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng, các tổ
chức tài chính vi mô là đối tượng lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức từ các khách
hàng tín dụng. Thêm vào đó, Stiglitz và Weiss (1981) chỉ ra rằng lựa chọn bất lợi
phát sinh kể từ khi các tổ chức tài chính vi mô không có đủ thông tin để xác định rủi
ro tốt và xấu. Lý do là vì khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô thường có một
lịch sử tín dụng ngắn hoặc là khách hàng lần đầu tiên, với ít hoặc không có tài sản