Luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu hành vi của nhà đầu tư trên sàn chứng khoán - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THANH NHÃ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


HUỲNH THANH NHÃ Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

nghiên cứu.
- Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc
Trang, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực
hiện và hoàn thành luận văn này. Với kiến thức và kinh nghiệm sâu rộng mà Cô
truyền dạy lại cho tôi đã làm cho luận văn này trở thành một tài sản quý báu và
vô giá trong cuộc đời tôi.
- Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các quý Thầy Cô của khoa Tài Chính Doanh
Nghiệp nói riêng và trường ĐH Kinh Tế Tp.HCM nói chung đã giành hết tâm
huyết để giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức mới mẻ và bổ ích, làm
nền tảng để tôi hoàn thành luận văn này.
- Con xin được gửi một lời cảm ơn đặc biệt nhất đến Mẹ và Bố, hai người đã hy
sinh vì con rất nhiều, suốt cả 4 năm con học Đại học và 2 năm Cao học, động
viên con mỗi khi con gặp khó khăn, để rồi từ tình thương của Bố Mẹ con đã
hoàn thành được luận văn thạc sĩ, một sự nỗ lực rất lớn từ cả gia đình mình.
- Cảm ơn gia đình, em trai đã ở bên canh và khuyến khích tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
- Các anh chị em bạn bè lớp Cao học TCDN đêm 3 K21 và lớp Đại cương đêm 12
K21 Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã cùng nhau trao đổi, chia sẻ kiến
thức trong suốt quá trình tham gia khóa học.
- Những anh chị em đã tham gia khảo sát cho đề tài này. Các bạn đã góp một
phần không nhỏ vào luận văn này của tôi. MỤC LỤC
1. TỔNG QUAN 1
1.1. Tóm tắt: 1
1.2. Giới thiệu 1
1.3. Mục tiêu nghiên cứu: 3
2. KHUNG LÝ THUYẾT và CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÀI CHÍNH
HÀNH VI 4

4.4.2. Tính đại diện (Representativeness) 43
4.4.3. Xu hướng bầy đàn (Herding) 47
4.4.4. Xu hướng Neo (Anchoring) 54
4.4.5. Xu hướng Bất hòa trong nhận thức (Cognitive dissonance) 56
4.4.6. Xu hướng Sợ hối hận (Fear of Regret) 59
4.4.7. Xu hướng gian lận con bạc (Gambler's fallacy) 61
4.4.8 Xu hướng kế toán(Mental Account) 64
4.4.9. Xu hướng nhận thức muộn (Hindsight) 67
5. TÓM TẮT KẾT QUẢ VÀ KIẾN NGHỊ 70
5.1. Tóm tắt: 70
5.2. Một số kết quả chính 70
5.3. Kiến nghị 73
5.3.1. Đối với các nhà đầu tư: 73
5.3.2. Kiến nghị khác 74
6. KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
1

1. TỔNG QUAN
1.1. Tóm tắt:
Những biến động khắc nghiệt đã gây cản trở sự hoạt động của thị trường tài
chính toàn cầu trong những năm 2008. Tâm lý của các nhà đầu tư là một trong những
yếu tố quan trọng dẫn đến sự thay đổi của thị trường. Trong luận văn này, việc nghiên
cứu vai trò của những cảm xúc như sợ hãi, tham lam và dự đoán khi đưa ra quyết định

hợp của một quỹ bảo hộ có tên là Long Term Capital Management cần được nhắc đến.
Mặc dù được hợp tác với cựu phó chủ tịch của Hội đồng dự trữ liên bang, đạt được 2
giải Nobel về kinh tế, nhân viên bao gồm 24 thạc sĩ, họ cũng rơi vào thất bại
(Nofsinger, 2001).
Sự thất bại của những nhà kinh tế và những học thuyết của họ, đã đưa ra một
câu hỏi: Có phải các nhà đầu tư là dựa vào lý trí không ? Hay là họ bị ảnh hưởng bởi
những cuộc chiến của cảm xúc như là sợ hãi và tham lam, điều mà sẽ dẫn đến những
quyết định xấu.
Bernstein (1998) nói rằng “Bằng chứng cho thấy những mô hình được lặp đi lặp
lại với sự không hợp lý, không thống nhất và thiếu hợp lý trong cách con người đưa ra
quyết định và khi đối mặt với sự không chắc chắn”. Nofsinger (2001) nói rằng những
giả thuyết về tính lý trí và sự không thiên về xu hướng của con người đã bị đánh bại
bởi các nhà tâm lý học trong khoảng thời gian dài.
Những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của 2 nhà tâm lý học Daniel
Kahneman và Amos Tversky đóng vai trò là nền tảng và đưa ra một lý thuyết mới
trong những năm 1980, được gọi là Tài chính hành vi.
Từ một quan điểm học thuật, một trong những lý do chính cho sự xuất hiện của
lý thuyết Tài chính hành vi là vì có quá nhiều khó khăn khác nhau phải đối mặt trong
những lý thuyết truyền thống. Các nhà khoa học tranh luận rằng, nếu các giả thuyết về
3

lý trí được nới lỏng, các hiện tượng tài chính khác nhau sẽ dễ hiểu hơn. Sau đó, các mô
hình khác nhau ra đời. Nó nhấn mạnh rằng mục tiêu chính của tài chính hành vi thì
không được chứng minh trong những lý thuyết hiện có, bởi vì nếu những giả thuyết đó
không thể chứng minh những kịch bản khó hiểu thành công, chúng sẽ không còn tồn
tại nữa. Vì vậy, điều mà Tài chính hành vi cần thiết để đạt đến đó là bổ sung các lý
thuyết truyền thống bằng cách kết hợp nó với nhận thức tâm lý, với nỗ lực nhằm tạo ra
một mô hình hoàn chỉnh trong việc đưa ra quyết định của các nhà đầu tư . (Thaler,
2005)
Từ một quan điểm của một người đang nghiên cứu, Tài chính hành vi xác định

đầu tư có kinh nghiệm là những người có trên 5 năm kinh nghiệm, còn nhà đầu tư trẻ
thì có ít hơn hoặc 5 năm kinh nghiệm. Với mỗi xu hướng, sẽ sử dụng kỹ thuật “Thang
đo 3 điểm, 5 điểm” của Likert. Một phân tích tổng thể sẽ được thực hiện bằng cách sử
dụng phân tích Sự khác biệt, để kiểm tra xem hành vi của nhà đầu tư trẻ và nhà đầu tư
có kinh nghiệm có khác nhau không? Thêm nữa, mỗi một xu hướng sẽ được phân tích
riêng rẽ ở mỗi nhóm bằng các sử dụng phương pháp Chấm điểm theo trọng số và Chi –
bình phương cho sự độc lập.
2. KHUNG LÝ THUYẾT và CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÀI
CHÍNH HÀNH VI
2.1. Những lý thuyết hành vi của con người
Tài chính hành vi là một nhánh của tài chính, nghiên cứu hành vi của các nhà
đầu tư trên thị trường như thế nào và ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý đến việc đưa
ra quyết định mua hoặc bán, do đó tác động đến giá cả. Tài chính hành vi nhằm giải
thích lý do tại sao lại hợp lý để tin rằng thị trường là không hiệu quả.
5

Do đó, tài chính hành vi có thể được định nghĩa như một lĩnh vực tài chính, với
mục đích là giải thích những sự bất thường trên thị trường chứng khoán bằng cách sử
dụng những xu hướng tâm lý học, còn hơn là gạt bỏ chúng như “một kết quả phù hợp
với thị trường hiệu quả” (theo Fama, 1998). Người ta giả định là các nhà đầu tư cá
nhân và kết quả thị trường bị ảnh hưởng bởi các thông tin cấu trúc và các đặc điểm
khác nhau của những người tham gia thị trường.
2.1.1. Lý thuyết triển vọng
Lý thuyết này được hình thành bởi Kahneman and Tversky (1979) và sau đó
Daniel Kahneman đã giành được giải thưởng Nobel cho lĩnh vực Kinh tế. Lý thuyết
này chia thành 2 giai đoạn trong quá trình lựa chọn: giai đoạn hình thành (hoặc chỉnh
sửa), giai đoạn ước lượng. Tversky and Kahneman, 2 người phát minh ra lý thuyết này,
cho thấy con người kiểm soát sự rủi ro và sự không chắc chắn như thế nào. Về bản
chất, lý thuyết này giải thích sự bất thường trong hành vi của con người khi đánh giá
rủi ro và sự không chắc chắn. Nó nói rằng: con người không phải lúc nào cũng sợ rủi

sự ưa thích rủi ro trong khu vực thua lỗ. Một đặc tính hấp dẫn của hàm giá trị nữa là nó
có độ dốc cao nhất tại điểm tham chiếu. Điều này nghĩa là một sự thay đổi trong lợi
nhuận hoặc thua lỗ có một ảnh hưởng nhỏ hơn trên giá trị, điều này được nhận biết bởi
các nhà đầu tư khi khoảng cách giữa các điểm tham chiếu là lớn. Lý thuyết triển vọng
7

tranh luận rằng khi lựa chọn giữa các trò chơi may rủi, con người tính toán lợi nhuận
và thua lỗ và sau đó chọn một trong hai xét theo lợi ích về sau. Trong bối cảnh tài
chính, điều này đề nghị con người có thể chọn cách phân bổ danh mục đầu tư bằng
cách tính toán, với mỗi sự phân bổ, lợi ích và thua lỗ tiềm năng trong giá trị cổ phần
mà họ năm giữ, và sau đó chọn một sự phân bổ có lợi ích cao nhất sau này .
2.1.2. Lý thuyết ra quyết định dựa trên kinh nghiệm chủ quan (Heuristics)
“Heuristics là những quy luật hiệu quả, đơn giản, được sử dụng để giải thích
việc con người đưa ra quyết định đầu tư như thế nào, nhìn nhận và giải quyết vấn đề,
tiêu biểu là khi đối mặt với những vấn đề phức tạp và thông tin chưa hoàn chỉnh.
Những nguyên tắc này làm việc tốt ở hầu hết các trường hợp, nhưng trong một vài
trường hợp nhất định, nó dẫn đến các xu hướng nhận thức dựa theo kinh nghiệm”. -
Daniel Kahneman (Parikh, 2011).
Tversky và Kahneman xác nhận sự ảnh hưởng của Heuristics đến việc đưa ra
quyết định. Tversky định nghĩa heuristic như là một chiến lược, có thể được sử dụng
cho nhiều vấn đề, thường – không phải là luôn luôn – mang lại một giải pháp chính
xác. Con người thường sử dụng heuristics để làm giảm sự phức tạp trong cách giải
quyết vấn đề (Tversky và Kahneman, 1981). Quá trình quyết định dựa trên heuristics là
một quá trình mà các nhà đầu tư tự mình nhận thấy những điều, thường là bằng cách
thử và sai, dẫn đến sự phát triển của quy tắc ngón tay cái. (Luật ngón tay cái là một quy
luật dựa trên kinh nghiệm, thói quen của con người chứ không phải dựa trên khoa học
hay là sự đo lường chính xác.)
Con người thì không có khả năng xử lý toàn bộ các thông tin được thể hiện hàng
ngày. Trong khi tích lũy kinh nghiệm thông qua quá trình làm một việc gì đó, những
kinh nghiệm này cho thấy những ấn tượng về việc đó hoạt động như thế nào. Quá trình


thức, cảm tính, kế toán, và Neo. Những yếu tố hành vi này được xem như là yếu tố rủi
ro trong khi đưa ra quyết định đầu tư.
Chira, Adams và Thornton (2008) nhắm đến việc nghiên cứu sự nhận thức
muộn và cảm tính, điều mà các nhà đầu tư là sinh viên phải gánh chịu. Mục đích của
nghiên cứu này là xem xét các sinh viên bị ảnh hưởng bởi những xu hướng này như thế
nào. Một cuộc khảo sát được tổ chức với mẫu bao gồm 68 sinh viên ở đại học
Jacksonville của Mỹ trong suốt tháng 11/2007 bằng cách phát hành một bảng câu hỏi
và thu thập bằng chứng thực nghiệm từ cả sinh viên tốt nghiệp và chưa tốt nghiệp về sự
am hiểu của họ về các xu hướng. Nghiên cứu kết luận rằng các sinh viên thì ít có
khuynh hướng về sự quá tự tin hoặc quá chủ quan. Họ không bị đánh lừa bởi những xu
hướng kiểm soát và một xu hướng tương tự như cảm tính.
Sairafi, Selleby and Stahl (2008) trong nghiên cứu của mình: “Tài chính hành vi
– Một góc nhìn của sinh viên” kiểm định những đặc trưng của các sinh viên có quan
tâm đến đầu tư, quá trình họ đưa ra quyết định và những sự lựa chọn bắt nguồn từ sự
am hiểu về tài chính hành vi. nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận riêng và dữ liệu
định tính. Dữ liệu được thu thập thông qua một bảng câu hỏi được đăng trên Internet.
Trong nghiên cứu, hành vi bầy đàn được được xem như là yếu tố hành vi rõ ràng nhất.
Nghiên cứu này nhận thấy rằng hành vi của những người tham gia được miêu tả như là
“hành vi sinh viên”; một hành vi không hợp lý nào đó được giải thích bởi môi trường
và quá trình học tập mà sinh viên kinh doanh tồn tại.
Cipriani và Guarino (2008) nghiên cứu hành vi tài chính trên thị trường thực
nghiệm với sự tham gia của các chuyên gia tài chính. Nghiên cứu kết hợp lợi thế của
thí nghiệm có kiểm soát với việc quan sát hành vi của các chuyên gia, những người
quan tâm đến các hoạt động giao dịch, định giá và phân tích tài sản tài chính từ ngày
này qua ngày khác. Nó so sánh 2 cách xử lý, một là giá điều chỉnh theo dòng chu
chuyển lệnh (Đây là một phương pháp tiếp cận mới và ngược với phương pháp thứ
hai, tức là cho rằng tỷ giá chịu tác động chủ yếu bởi các cấu trúc vi mô của thị trường
ngoại hối: lệnh giao dịch, tin tức và điều chỉnh danh mục. Tuy nhiên, các mô hình này
10


biết đến đó là ảo tưởng về kiểm soát và sự mơ hồ. Thông qua 8 nghiên cứu thực
nghiệm với 196 người tham gia, được thực hiện ở trường Đại học Catholic – Brazil,
cho thấy các nhà đầu tư có xu hướng biểu hiện những hiện tượng này trong quá trình
quyết định rủi ro tài chính. Những quyết định của sinh viên cho thấy họ có một ảo
tưởng về sự kiểm soát, nghĩa là họ nghĩ họ có thể kiểm soát những sự kiện ngẫu nhiên
tốt hơn. Tuy nhiên, họ lại không sẵn sàng trả một mức giá nhỏ để tận dụng lợi thế của
kiểm soát này. Để kiểm định sự mơ hồ, các sinh viên phải lựa chọn giữa “biết” và
“không biết” trong 4 nghiên cứu thực nghiệm theo kết cấu khác nhau. Kết quả cho thấy
tỷ lệ đầu tư thì cao hơn trong những cổ phiếu được biết đến. Mặc dù, các sinh viên thể
hiện sự mơ hồ, nhưng không nhiều người sẵn sàng trả một mức giá để làm giảm hoặc
loại bỏ sự mơ hồ đó.
Oehler (2008) trong nghiên cứu của mình phân tích thành phần của 102 quỹ đầu
tư mà tài sản của họ đạt trên 100 triệu EURO mỗi năm, bằng cách thu thập số liệu từ
những bản báo cáo trong giai đoạn 2000 – 2003 và đưa ra những bằng chứng thực
nghiệm về việc lựa chọn danh mục đầu tư nội địa trong giai đoạn này. Ba lý do được
đưa ra: chi phí giao dịch thấp hơn, khả năng bảo vệ tốt hơn và thuận lợi trong thông tin
bất cân xứng. họ nhận ra rằng những quỹ tương hỗ mà được bán cho các nhà đầu tư tư
nhân có xu hướng thiên về nội địa, nhưng những quỹ này đầu tư rất mạnh vào thị
trường chứng khoán ở các nước châu Âu, những quỹ càng lớn thì xu hướng thiên về
đầu tư nội địa càng lớn so với các quỹ nhỏ và trung bình. Họ cố gắng tìm ra “xu hướng
địa phương” có được dẫn dắt bởi các nhà đầu tư tư nhân hay những nhà quản lý quỹ
hay không và kết quả là xu hướng này được dẫn dắt bởi các nhà đầu tư nhiều hơn là
nhà quản lý quỹ tương hỗ. họ cũng đề cập rằng xu hướng nội địa thì thấp hơn đáng kể
so với dữ liệu những năm 1990.
Phan Thanh Hùng (3/2012) trong luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu lý thuyết Tài
chính hành vi trên thị trường chứng khoán Việt Nam với 150 người tham gia. Kết quả
của nghiên cứu cho thấy các nhà đầu tư trong thời kỳ “bong bóng”, thì tin tưởng vào
lời khuyên của các chuyên gia tài chính. Điều này có thể là do dự đoán về lợi nhuận
12

thuyết chung chung về hành vi của nhà đầu tư, tài chính hành vi dựa trên một tập hợp
lớn các bằng chứng chỉ ra sự không hiệu quả trong các quyết định đầu tư của con người
trong các hoàn cảnh kinh tế khác nhau.” (Pompian, 2006).
2.3.1. Xu hướng quá tự tin (Overconfidence)
“Trong hình thức cơ bản này, Quá tự tin có thể được tóm tắt như là niềm tin
không có cơ sở trong khả năng nhận thức, quyết định, và lý lẽ chủ quan của một nhà
đầu tư” (Pompian, 2006). Các nhà tâm lý học xác định rằng quá tự tin làm cho con
người đánh giá quá cao kiến thức của họ, đánh giá thấp rủi ro mà họ phải gánh chịu,
thổi phồng khả năng có thể kiểm soát mọi việc. Khái niệm quá tự tin bắt nguồn từ
những nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm và những khảo sát, trong đó người tham gia
đánh giá quá cao khả năng dự đoán của họ và giá trị của thông tin mà họ có được. Các
nhà đầu tư thì khá kém trong việc ước tính xác suất – những sự kiện mà họ nghĩ chắc
chắn sẽ xảy ra, thì thường không xảy ra 100% như họ nghĩ. Họ cũng nghĩ là họ thông
minh hơn và có những thông tin tốt hơn so với những nhà đầu tư khác (Pompian,
2006).
Theo Shefrin (2000), “Quá tự tin liên quan đến việc con người hiểu rõ khả năng
của họ như thế nào và những hạn chế trong kiến thức của họ”. Các cá nhân quá tự tin
về khả năng của mình thường có xu hướng họ nghĩ bản thân họ tốt hơn so với thực tế.
Điều này tương tự với kiến thức. Quá tự tin không có nghĩa là các cá nhân thiếu hiểu
biết hoặc không đủ năng lực, mà nó có nghĩa là quan điểm của họ về bản thân thì tốt
hơn so với thực tế. Một đặc điểm chung của các nhà đầu tư là quá tự tin về khả năng
của mình khi chọn lựa cổ phiếu và quyết định khi nào nên tiếp tục hoặc thoát khỏi tình
trạng đó. Những xu hướng này được nghiên cứu bởi Odean (1998) và nó cho rằng các
nhà đầu tư nào thực hiện hoạt động kinh doanh của mình dựa trên xu hướng quá tự tin
thì sẽ có hiệu suất thấp hơn đáng kể trên thị trường. Thêm nưã, các nhà tâm lý học xác
14

định rằng quá tự tin làm cho con người đánh giá quá cao kiến thức, khả năng của họ,
đánh giá thấp rủi ro. Lựa chọn cổ phiếu là một công việc khó khăn. Hoạt động này sẽ
thể hiện sự quá tự tin của nhà đầu tư rõ ràng nhất (Nofsinger, 2001).

phổ biến nhất mà các nhà đầu tư mắc phải. Đó là lý do tại sao, trên thị trường tài chính,
khi thời điểm tốt nhất để bán hoặc mua cổ phiếu đang trong tầm tay, một nhà đầu tư
thậm chí phải chịu đựng một áp lực tâm lý mạnh mẽ ngăn cản anh ta làm như vậy. Lý
do chính cho việc này đó là áp lực hoặc ảnh hưởng của những nhà đầu tư khác trên thị
trường. Các nhà đầu tư áp dụng xu hướng bầy đàn bởi vì họ quan tâm đến việc người
khác nghĩ gì về quyết định của họ (Scharfstein và Stein, 1990).
Các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng bị ảnh hưởng bởi các ý kiến, đề xuất của
những nhà phân tích nổi tiếng. Welch (2000) nhận ra rằng trong các phân tích cũng có
thể xuất hiện xu hướng bầy đàn. Nhưng nó không được xác nhận vì thiếu dữ liệu ở
mức vi mô.
Xu hướng bầy đàn là xu hướng mà những cá nhân phải bắt chước hành động của
một tổ chức lớn, không cần biết là họ có đưa ra quyết định cá nhân hay không. Một lý
do đó là con người thì hòa đồng và có xu hướng tán thành ý kiến của nhóm hơn là chịu
là người duy nhất phản đối. Một lý do khác nữa, đó là con người thường nghĩ một
nhóm lớn thì ít khi quyết định sai. Điều này sẽ làm cho nhà đầu tư theo xu hướng bầy
đàn với một ảo tưởng là đám đông có thể biết những điều mà anh ta không biết.
Economou, Kostakis và Philippas (2010) kiểm tra xu hướng bầy đàn trong
những điều kiện khắc nghiệt nhất, sử dụng dữ liệu hàng ngày từ sàn chứng khoán của
Hy Lạp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha từ 1998 – 2008, ví dụ: sự tồn tại của tính bầy
đàn có liên quan đến lợi nhuận thị trường, khối lượng giao dịch và sự biến động của lợi
nhuận. Theo nghiên cứu này, họ cũng điều tra sự hiện diện của hành vi bầy đàn trong
16

suốt cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Kết quả cho thấy tính bầy đàn được kết
luận là mạnh mẽ hơn trong những giai đoạn mà các thị trường này gia tăng. Xu hướng
bầy đàn xuất hiện trong thị trường chứng khoán Bồ Đào Nha trong suốt giai đoạn lợi
nhuận sụt giảm và không có bằng chứng nào cho thấy có sự xuất hiện của tính bầy đàn
ở Tây Ban Nha. Cuối cùng, họ cho rằng có bằng chứng của sự hiện diện xu hướng bầy
đàn trong cuộc khủng hoảng 2008 chỉ ở Bồ Đào Nha, và chống lại xu hướng này ở Tây
Ban Nha và Ý. Hành vi của các nhà đầu tư ở Hy Lạp được xem như là có lý trí trong

những người tham gia thị trường bằng cách sử dụng thuật toán giao dịch. Thuật toán
này được áp dụng vào những dữ liệu thị trường thật của chỉ số Dow Jones và chỉ số
CAC40 để tìm khả năng kinh doanh chênh lệch giá. Nó cung cấp một bằng chứng là xu
hướng Neo đóng vai trò quan trọng việc ấn định giá hàng tuần của chỉ số Dow Jones và
CAC40.
2.3.5. Xu hướng Bất hòa trong nhận thức (Cogintive dissonance)
Bất hòa trong nhận thức là một xung đột tinh thần mà con người phải đối mặt
khi họ có bằng chứng rằng những niềm tin hoặc giả định của họ là sai. (Montier, 2002)
Khi một nhà đầu tư đối mặt với một tình huống mà anh ta phải chọn giữa hai
trường hợp, dường như một vài sự xung đột sẽ xuất hiện sau khi quyết định được đưa
ra. Các khía cạnh tiêu cực của trường hợp mà anh ta đã chọn có thể sẽ rất dễ nhìn thấy
nhưng khía cạnh tích cực của phương án mà anh ta không chọn sẽ thêm vào sự xung
đột. Điều này trở thành thử thách sự tự tin của nhà đầu tư trong quyết định mà anh ấy
vừa thực hiện. “Các nhà tâm lý học kết luận rằng con người thường thể hiện sự hợp lý
hóa để đồng bộ hóa nhận thức của họ và duy trì một sự ổn định trong tâm lý”
(Pompian, 2006).

Trích đoạn Quá tự tin (Overconfidence) Tính đại diện (Representativeness) Xu hướng Bất hòa trong nhận thức (Cognitive dissonance) Xu hướng Sợ hối hận (Fear of Regret) Xu hướng gian lận con bạc (Gambler's fallacy)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status