BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯƠNG NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LƯỢNG TIỀN NẮM
GIỮ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH
LƯỢNG TIỀN NẮM GIỮ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM”
là công trình nghiên cứu của
chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả
nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử dụng là trung thực và có
nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2013
tố quyết định và ảnh hưởng của lượng tiền nắm giữ của doanh nghiệp” – 1999
16
2.3.3. Lee Pinkowitz và Rohan G. Williamson – “Sức mạnh của ngân hàng và
lượng tiền nắm giữ: bằng chứng từ Nhật Bản” – 2001 17 2.3.4. Miguel A.Ferreira và Antonio S. Vilela – “Tại sao doanh nghiệp lại giữ
tiền mặt? Bằng chứng thu thập từ các khối kinh tế và đồng tiền chung Châu
Âu” – 2004 18
2.3.5. Aydin Ozkan và Neslihan Ozkan – “Lượng tiền mặt nắm giữ: Nghiên cứu
thực nghiệm tại các doanh nghiệp thuộc Vương quốc Anh” – 2004 18
2.3.6. Cláudia Custodio, Miguel.A Ferreira và Clara Raposo– “Lượng tiền
nắm giữ và những điều kiện kinh doanh” – 2005 19
2.3.7. Thomas W. Bates, Kathleen M. Kahle và Rene M. Stulz – “Tại sao các
doanh nghiệp Mỹ lại giữ nhiều tiền hơn so với quá khứ của họ?” – 2009 20
2.3.8. Chie-May Suen – “Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ: bằng
chứng các doanh nghiệp niêm yết Hà Lan” – 2011 21
2.3.9. William L. Meggison và Zuobao Wei – “Sở hữu nhà nước, ràng buộc
ngân sách mềm và lượng tiền nắm giữ: bằng chứng từ các doanh nghiệp tư
nhân Trung Quốc” – 2012 21
2.3.10. Eugene F. Fama và James D. MacBeth – “Rủi ro, tỷ suất sinh lợi và sự
cân bằng: Những nghiên cứu thực nghiệm” – 1973 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1. Nguồn dữ liệu 28
3.2. Xác định biến số phụ thuộc và các biến số độc lập 29
3.2.1. Biến phụ thuộc – tỷ số tiền (CASH) 29
3.2.2. Biến độc lập 30
3.3. Phương pháp nghiên cứu 35
3.3.1. Thống kê mô tả 35
3.3.2. Kiểm tra đơn biến 35
Bảng 3.1: Tổng hợp các đo lường các biến sử dụng trong bài nghiên cứu 34
Bảng 4.1: Thống kê mô tả 43
Bảng 4.2: Ma trận các hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu gồm 500 quan sát
45
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả nghiên cứu về các nhân tố đặc thù doanh nghiệp có ảnh
hưởng đến lượng tiền nắm giữ và sự phù hợp của các kết quả với các lý thuyết và
kết quả thực nghiệm trước đây 52
1 TÓM TẮT Bài nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố đặc thù của doanh nghiệp có tác động
đến lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012 bằng cách sử dụng bốn
phương pháp hồi quy (Mô hình Fama – MacBeth, Hồi quy dữ liệu chéo sử dụng giá
trị trung bình, Hồi quy Pooled OLS với biến giả, Hồi quy các ảnh hưởng cố định)
để ước lượng tham số mô hình hồi quy. Tổng hợp kết quả hồi quy cho thấy các
nhân tố có tương quan cùng chiều với lượng tiền nắm giữ là: quy mô doanh nghiệp,
dòng tiền, cơ hội đầu tư và thanh toán cổ tức, các biến có tương quan ngược chiều
với lượng tiền nắm giữ là: đòn bẩy tài chính, nợ ngân hàng, tài sản lưu động thuần
không bao gồm tiền. Bài nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan giữa biến động
dòng tiền và lượng tiền nắm giữ.
2 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
,
tài sản lưu
động thuần không bao gồm tiền
,
cơ hội đầu tư và thanh toán cổ tức. Phần lớn kết
3 quả của các nghiên cứu cho thấy: các nhân tố có tác động ngược chiều với lượng
tiền nắm giữ là: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, nợ ngân hàng, tài sản lưu
động thuần không bao gồm tiền, thanh toán cổ tức và các nhân tố có tác động cùng
chiều với lượng tiền nắm giữ là: dòng tiền, biến động dòng tiền, cơ hội đầu tư. Tại
Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu thực nghiệm hoàn chỉnh nào nghiên cứu về các
nhân tố tác động đến lượng tiền nắm giữ, vì vậy, người viết chọn đề tài “Những
nhân tố quyết định lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm cho các lý thuyết về
các nhân tố quyết định lượng tiền nắm giữ - nghiên cứu trường hợp của các doanh
nghiệp niêm yết Việt Nam. Theo đó, bài nghiên cứu kỳ vọng trả lời cho hai câu hỏi
sau đây:
1. Các nhân tố đặc thù nào của doanh nghiệp có tác động đến lượng tiền nắm giữ
của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
2. Các nhân tố đặc thù của doanh nghiệp có tương quan cùng chiều hay ngược
chiều với lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ của
các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mẫu nghiên cứu
gồm 125 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (không bao
tác giả.
2.1. Nắm giữ tiền mặt
Trong lý thuyết tài chính, tiền được định nghĩa bao gồm tiền, các khoản chứng
khoán thị trường ngắn hạn và các khoản tương đương tiền (Opler et al. (1999),
Ferreira và Vilela (2004), Bates, Kahle và Stulz (2009)). Các khoản tương đương
tiền có đặc điểm là có thể chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian ngắn.
Nắm giữ tiền xét trên khía cạnh tài chính được hiểu là việc nắm giữ tiền và các
khoản tương đương tiền của doanh nghiệp.
Có rất nhiều lý do để doanh nghiệp nắm giữ tiền. Sau đây là bốn lý do chủ yếu
khiến doanh nghiệp nắm giữ tiền:
Động cơ giao dịch: Các doanh nghiệp cần tiền để dùng cho hoạt động kinh
doanh. Nhu cầu về tiền giữa các loại hình kinh doanh cũng rất khác nhau. Ví dụ, các
doanh nghiệp bán lẻ phải có sẵn tiền trong két của cửa hàng để hoạt động kinh
doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp này cần tiền để bổ sung lượng hàng tồn kho
thiếu hụt hoặc để thanh toán lương. Ngược lại, một doanh nghiệp kinh doanh phần
mềm máy tính có thể hoạt động với một số dư tiền nhỏ hơn nhiều (Damodaran,
2008).
Động cơ dự phòng: Một doanh nghiệp nắm giữ tiền để tài trợ cho những hoạt
động kinh doanh và những khoản đầu tư khi những nguồn tài chính khác không có
sẵn hoặc quá đắt (Custodio, Ferreira và Raposo, 2005). Doanh nghiệp nắm giữ tiền
6 để trang trải những khoản chi phí bất ngờ và những khoản nợ tiềm tàng chưa xác
định được. Ví dụ, các doanh nghiệp kinh doanh có tính chu kỳ sẽ tích lũy tiền mặt
trong thời gian bùng nổ kinh tế và dùng số tiền đó trong trường hợp suy thoái kinh
tế để trang trải thâm hụt từ hoạt động kinh doanh (Damodaran, 2008). Nếu doanh
nghiệp không có sẵn những tài sản thanh khoản thì việc thiếu hụt dòng tiền có thể
ngăn cản việc đầu tư vào những dự án có lợi nhuận, vì thế doanh nghiệp sẽ nắm giữ
tiền để loại bỏ chi phí kiệt quệ tài chính. Động cơ nắm giữ tiền này được xem là
họ sẽ một mức chiết khấu hợp lý. Bởi vì người bên ngoài doanh nghiệp nắm ít
thông tin hơn ban quản lý, họ có thể định giá cổ phiếu quá thấp dựa trên những
thông tin được cung cấp bởi ban quản lý (Myer và Majluf, 1984). Thực tế, người
bên ngoài có thể chiết khấu một mức đủ lớn để ban quản lý thấy rằng không bán cổ
phiếu còn có lợi hơn là bán và vì thế họ sẽ giảm đầu tư thay vì bán cổ phiếu ra bên
ngoài. Lý do bất cân xứng thông tin dẫn đến nguồn vốn bên ngoài trở nên đắt hơn.
Mô hình bất cân xứng thông tin đưa ra lý do giải thích tại sao nguồn vốn bên ngoài
lại trở nên đắt đỏ. Mô hình này dự đoán chi phí huy động vốn tăng khi chứng khoán
được bán có mức độ nhạy cảm thông tin và khi vấn đề bất cân xứng thông tin trở
nên quan trọng hơn (Opler et al., 1999).
2.2.1.2. Chi phí đại diện cho các quyết định quản lý
Nghiên cứu về lý thuyết đại diện được khởi đầu bởi Jensen và Meckling (1976) trên
nền tảng những nghiên cứu sớm hơn được thực hiện bởi Fama và Miller (1972).
Jensen và Meckling mô tả hai loại mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa cổ đông và ban quản
lý và mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ. Cổ đông là người chủ của doanh nghiệp
và ban quản lý là người đại diện cho doanh nghiệp. Việc tách biệt người chủ và
người quản lý dẫn đến tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý của doanh nghiệp.
Khi có sự hiện diện của chi phí đại diện của các quyết định của ban quản lý, ban
quản lý có thể nắm giữ tiền để theo đuổi mục tiêu của họ với chi phí thuộc về chủ
sở hữu.
8 Thứ nhất, ban quản lý có thể sẽ nắm giữ tiền đơn giản là để tránh rủi ro. Ban quản
lý càng cố thủ càng có khả năng nắm giữ nhiều tiền để tránh khỏi kỷ luật thị trường.
Vì thế, có thể kỳ vọng rằng những doanh nghiệp với điều khoản chống thâu tóm có
khả năng sẽ nắm giữ lượng tiền dư thừa.
Thứ hai, ban quản lý tích trữ tiền để có thể linh động theo đuổi mục tiêu của họ.
Tiền giống như dòng tiền tự do. Tiền giúp cho ban quản lý có thể đầu tư khi thị
trường tài chính không sẵn lòng tài trợ cho những khoản đầu tư này. Trong khi ban
thể buộc phải từ bỏ những dự án đầu tư có hiện giá ròng dương.
Thứ ba, nắm giữ tiền làm giảm chi phí huy động vốn từ bên ngoài hay tránh trường
hợp buộc phải thanh lý tài sản hiện có của doanh nghiệp, tiền đóng vai trò như cái
đệm giữa nguồn và sử dụng nguồn của doanh nghiệp.
Chi phí biên truyền thống của việc nắm giữ tiền là chi phí cơ hội của vốn vì nó làm
giảm tỷ suất sinh lợi tính trên tài sản lưu động (Ferreira và Vilela, 2004).
2.2.2.2. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking order theory)
Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984) cho rằng: các doanh nghiệp sẽ tài trợ
cho các khoản đầu tư theo thứ tự như sau: đầu tiên là lợi nhuận giữ lại, sau đó là nợ
an toàn, tiếp theo là nợ có rủi ro và cuối cùng là vốn chủ sở hữu. Mục đích của trật
tự tài trợ này là để giảm chi phí do vấn đề bất cân xứng thông tin và những khoản
chi phí tài chính khác. Lý thuyết này cho rằng các doanh nghiệp không có lượng
tiền nắm giữ mục tiêu, thay vào đó, tiền đóng vai trò như tấm đệm giữa lợi nhuận
giữ lại và cơ hội đầu tư. Vì thế, khi dòng tiền hoạt động đủ để tài trợ cho những dự
10 án mới, doanh nghiệp sẽ trả nợ và tích trữ tiền. Khi lợi nhuận giữ lại không đủ để tài
trợ cho những dự án hiện hữu, doanh nghiệp sẽ sử dụng lượng tiền tích trữ và nếu
cần, doanh nghiệp sẽ đi vay (Ferreira và Vilela, 2004).
2.2.2.3. Lý thuyết dòng tiền tự do (Free cash flow theory)
Dòng tiền tự do là dòng tiền vượt quá lượng tiền cần thiết để tài trợ cho tất cả các
dự án có hiện giá ròng dương khi được chiết khấu tại chi phí sử dụng vốn liên quan
(Jensen, 1986).
Sở thích và động cơ của cổ đông và ban quản lý có sự mâu thuẫn với nhau liên quan
đến vấn đề về quy mô tối ưu của doanh nghiệp và việc thanh toán cổ tức cho các cổ
đông. Những mâu thuẫn này đặc biệt nghiêm trọng ở những doanh nghiệp có dòng
tiền tự do lớn. Đó thường là những doanh nghiệp có dòng tiền tự do lớn hơn so với
các cơ hội đầu tư có lợi nhuận (Jensen, 1986).
Lý thuyết dòng tiền tự do cũng dựa trên lý thuyết bất cân xứng thông tin và lý
Lý thuyết dòng tiền tự do: Những doanh nghiệp càng lớn thì càng có sự phân tán về
mức độ cổ đông. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp lớn ít có khả năng trở thành
mục tiêu của các cuộc thâu tóm bởi vì việc này đòi hỏi một nguồn lực tài chính
mạnh. Vì thế, ban quản lý của các doanh nghiệp lớn được kỳ vọng có nhiều sức
mạnh tự chủ trong các quyết định đầu tư và tài chính, điều này dẫn đến việc nắm
giữ lượng tiền lớn hơn ở các doanh nghiệp lớn (Ferreira và Vilela, 2004).
12 2.2.3.2. Đòn bẩy tài chính
Lý thuyết đánh đổi: Có thể thấy rằng đòn bẩy tài chính làm tăng khả năng phá sản vì
áp lực trả nợ vay đặt nặng lên ban quản lý ngân quỹ. Để làm giảm khả năng xảy ra
kiệt quệ tài chính, những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính lớn được kỳ vọng sẽ
nắm giữ nhiều tiền (Ferreira và Vilela, 2004).
Mặt khác, khi xem tỷ lệ đòn bẩy như là một biến đại diện cho khả năng doanh
nghiệp phát hành nợ, có thể kỳ vọng rằng những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính
cao (có nhiều khả năng phát hành nợ) sẽ nắm giữ ít tiền. Vì thế mối quan hệ giữa
lượng tiền nắm giữ và đòn bẩy tài chính không xác định được theo lý thuyết đánh
đổi (Ferreira và Vilela, 2004).
Lý thuyết trật tự phân hạng: nợ thường tăng khi nhu cầu đầu tư vượt lợi nhuận giữ
lại và giảm khi đầu tư ít hơn lợi nhuận giữ lại. Vì thế, lượng tiền nắm giữ tuân theo
một mẫu hình nghịch, tức là lượng nắm giữ tiền sẽ giảm khi nhu cầu đầu tư vượt lợi
nhuận giữ lại và tăng khi đầu tư thấp hơn lợi nhuận giữ lại. Vì thế, theo lý thuyết
trật tự phân hạng, từ mối quan hệ giữa lượng tiền nắm giữ, nợ và cơ hội đầu tư cho
thấy có mối tương quan ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính và lượng tiền nắm giữ
(Ferreira và Vilela, 2004).
Lý thuyết dòng tiền tự do: Những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính thấp sẽ ít bị
giám sát bởi các tổ chức cho vay. Vì thế, những doanh nghiệp có ít nợ vay sẽ nắm
nhiều tiền (Ferreira và Vilela, 2004).
2.2.3.3. Tài sản lưu động thuần không bao gồm tiền
Vì thế, theo lý thuyết đánh đổi, có mối tương quan cùng chiều giữa lượng tiền nắm
giữ và cơ hội đầu tư. Lý thuyết cũng dự đoán rằng những doanh nghiệp với những
cơ hội đầu tư tốt hơn có chi phí kiệt quệ tài chính lớn hơn bởi vì hiện giá ròng
14 dương của những cơ hội đầu tư này sẽ biến mất (gần như là toàn bộ) trong trường
hợp doanh nghiệp phá sản. Trong trường hợp này, những doanh nghiệp có cơ hội
đầu tư tốt hơn sẽ nắm giữ nhiều tiền hơn để tránh lâm vào tình trạng kiệt quệ tài
chính (Ferreira và Vilela, 2004).
Lý thuyết trật tự phân hạng: Một cơ hội đầu tư lớn đòi hỏi một lượng tiền đủ lớn,
bởi vì sự thiếu hụt tiền có thể ngụ ý rằng nếu doanh nghiệp không huy động vốn
bên ngoài với chi phí cao thì doanh nghiệp có thể phải từ bỏ những cơ hội đầu tư.
Vì vậy, theo lý thuyết trật tự phân hạng, có mối tương quan cùng chiều giữa lượng
tiền nắm giữ và cơ hội đầu tư (Ferreira và Vilela, 2004).
Lý thuyết dòng tiền tự do: Ban quản lý của các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư kém
được kỳ vọng sẽ nắm giữ nhiều tiền hơn để đảm bảo được sự sẵn có của quỹ để đầu
tư vào những dự án tăng trưởng, kể cả khi hiện giá ròng của những dự án này âm.
Điều này có thể dẫn đến sự phá hủy giá trị của các cổ đông doanh nghiệp, kể cả khi
doanh nghiệp có một chương trình đầu tư lớn, dẫn đến tỷ số so sánh giá trị sổ sách
và giá trị thị trường thấp. Vì thế, việc sử dụng tỷ số so sánh giá trị thị trường và giá
trị sổ sách như một biến đại diện cho thấy có mối quan hệ tương quan nghịch giữa
cơ hội đầu tư và lượng tiền nắm giữ (Ferreira và Vilela, 2004).
2.2.3.7. Thanh toán cổ tức
Lý thuyết đánh đổi: Một doanh nghiệp hiện đang chi trả cổ tức có thể huy động vốn
với chi phí thấp bằng cách giảm số tiền chi trả cổ tức, ngược lại với doanh nghiệp
không chi trả cổ tức, phải huy động vốn trên thị trường vốn khi cần tiền. Vì thế theo
lý thuyết đánh đổi, một doanh nghiệp có chi trả cổ tức sẽ nắm giữ ít tiền hơn doanh
nghiệp không chi trả cổ tức. Vì thế chi trả cổ tức có tương quan ngược chiều với
lượng tiền nắm giữ (Ferreira và Vilela, 2004).
nguồn tài chính bên ngoài. Điều này có thể ngụ ý rằng, các doanh nghiệp có nhiều
16 nợ ngân hàng sẽ nắm giữ ít tiền và chứng khoán thị trường hơn. Nợ ngân hàng có
thể xem như một khoản thay thế cho việc nắm giữ tiền và các chứng khoán thị
trường khi nợ ngân hàng thường dễ dàng thương lượng và rất linh động (Ozkan và
Ozkan, 2004).
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam cũng phụ thuộc vào nợ ngân hàng như một
nguồn tài trợ chính cho hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư, vậy liệu nợ ngân
hàng có tác động đến việc nắm giữ tiền của các doanh nghiệp ở Việt Nam hay
không cũng là một vấn đề cần được giải quyết trong bài nghiên cứu này.
2.3. Nhóm các nghiên cứu thực nghiệm
2.3.1. Chang – Soo Kim, David C. Mauer và Ann E. Sherman – “Các nhân tố
quyết định đến thanh khoản của doanh nghiệp theo lý thuyết và thực nghiệm” –
1998
Tác giả sử dụng dữ liệu dạng bảng của 452 doanh nghiệp của Mỹ trong giai đoạn từ
năm 1975 đến năm 1994 để nghiên cứu các nhân tố quyết định đến thanh khoản của
doanh nghiệp. Tác giả sử dụng biến phụ thuộc là tỷ số tiền chia cho giá trị sổ sách
của tổng tài sản. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy khi tỷ số giá trị thị trường so
với giá trị sổ sách càng cao thì lượng tài sản thanh khoản nắm giữ càng lớn. Khi thu
nhập có sự biến động và tỷ suất sinh lợi trên tài sản thấp thì lượng nắm giữ tài sản
thanh khoản càng lớn. Quy mô doanh nghiệp có tương quan ngược chiều với lượng
tiền nắm giữ. Kết quả của bài nghiên cứu cũng cho thấy lượng tiền nắm giữ có
tương quan cùng chiều với các điều kiện kinh tế trong tương lai.
2.3.2. Tim Opler, Lee Pinkowitz, René Stulz và Rohan Williamson – “Các yếu tố
quyết định và ảnh hưởng của lượng tiền nắm giữ của doanh nghiệp” – 1999
Tác giả sử dụng dữ liệu bảng của các doanh nghiệp niêm yết tại thị trường chứng
khoán Mỹ trong giai đoạn từ năm 1971 đến năm 1994, để nghiên cứu những nhân tố
quyết định và ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền và chứng khoán ngắn hạn của doanh
doanh nghiệp Nhật Bản tương tự như các doanh nghiệp ở Mỹ. Tác giả kết luận rằng
những ngân hàng mạnh ở Nhật Bản đã thuyết phục các doanh nghiệp nắm giữ lượng
18 tiền lớn. Điều này trái với sự tin tưởng rộng rãi về hệ thống quản trị của các doanh
nghiệp Nhật Bản.
2.3.4. Miguel A.Ferreira và Antonio S. Vilela – “Tại sao doanh nghiệp lại giữ
tiền mặt? Bằng chứng thu thập từ các khối kinh tế và đồng tiền chung Châu Âu”
– 2004
Bài nghiên cứu của Ferreira và Vilela liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến
lượng tiền nắm giữ sử dụng số liệu của các doanh nghiệp tại khối đồng tiền chung
Châu Âu (EMU) dưới dạng dữ liệu bảng cho niên độ từ năm 1987 – 2000. Kết quả
nghiên cứu của tác giả chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa lượng tiền nắm giữ với
cơ hội đầu tư, và mối quan hệ ngược chiều với số dư tài sản lưu động và tỷ lệ đòn
bẩy. Các kết quả này nhất quán với quan điểm của lý thuyết đánh đổi và lý thuyết
trật tự phân hạng. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu lại trái ngược với lý thuyết dòng
tiền tự do về quan điểm mối quan hệ ngược chiều giữa lượng tiền nắm giữ và cơ hội
đầu tư.
Tác giả đã cung cấp bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều giữa nợ ngân hàng và
lượng tiền nắm giữ. Điều này phù hợp với quan điểm rằng ngân hàng luôn ở vị trí
tốt hơn trong việc đánh giá mức độ tín nhiệm tín dụng của doanh nghiệp và có thể
tác động đến chính sách tài chính của doanh nghiệp, qua đó loại bỏ ảnh hưởng của
thông tin bất cân xứng và chi phí đại diện. Kết luận này nhất quán với cả ba lý
thuyết (lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết dòng tiền tự do).
2.3.5. Aydin Ozkan và Neslihan Ozkan – “Lượng tiền mặt nắm giữ: Nghiên cứu
thực nghiệm tại các doanh nghiệp thuộc Vương quốc Anh” – 2004
Tác giả dựa trên số liệu của các doanh nghiệp tại Vương quốc Anh trong giai đoạn
từ năm 1984-1999 để nghiên cứu các yếu tố quyết định đến lượng tiền nắm giữ của
doanh nghiệp. Ngoài việc phân tích những yếu tố đặc thù của doanh nghiệp, phân