Các yếu tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ thi công các dự án nhà ở dân dụng tại TPHCM - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TRẦN QUỐC VIỆT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẬM TIẾN
ĐỘ THI CÔNG CÁC DỰ ÁN NHÀ Ở DÂN
DỤNG TẠI TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
Tác giả luận văn Trần Quốc ViệtMỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ-ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Nguồn dữ liệu 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 3
6 Kết cấu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các khái niệm 5
1.1.1 Dự án 5
1.1.2 Dự án xây dựng nhà ở dân dụng 5
1.1.3 Chậm tiến độ trong dự án xây dựng 6
1.2 Các nghiên cứu trước đây về các yếu tố gây ra chậm tiến độ 9

3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 47
3.5.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 49
3.6 Kiểm định mô hình – xây dựng hàm hồi qui 53
3.6.1 Xây dựng hàm hồi qui 53
3.6.2 Đánh giá độ phù hợp của mô hình & kiểm định các giả thuyết 55
3.6.3 Đánh giá mức độ quan trọng của các biến trong mô hình. 58
3.7 Thực trạng và kết quả phân tích các yếu tố gây chậm tiến độ đối với các
nhóm đối tượng khảo sát 58
3.7.1 Thực trạng và kết quả phân tích các yếu tố xuất phát từ nhà thầu 58
3.7.2 Thực trạng và kết quả phân tích các yếu tố xuất phát từ chủ đầu tư 60
3.7.3 Thực trạng và kết quả phân tích các yếu tố xuất phát từ tư vấn giám sát,
thiết kế 61
Tóm tắt chương 3 63
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Khuyến nghị 66
2.1 Giải pháp hạn chế các yếu tố từ nhà thầu gây chậm tiến độ 66
2.2 Giải pháp hạn chế các yếu tố từ chủ đầu tư gây ra chậm tiến độ 69
2.3 Giải pháp hạn chế các yếu tố từ tư vấn giám sát, thiết kế gây chậm tiến độ
70
3 Các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Từ được viết tắt Diễn giải tiếng Việt
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh
RII Relative importance index Chỉ số quan trọng tương đối

Bảng 3.21 Hệ số cronbach alpha nhân tố 5 52
Bảng 3.22 Thống kê hệ số tương quan biến-tổng nhân tố 5 53
Bảng 3.23 Các thông số thống kê các biến trong mô hình 54
Bảng 3.24 Bảng tổng kết mô hình 55
Bảng 3.25 Bảng kết quả kiểm định F 55
Bảng 3.26 Kết quả hệ số phóng đại phương sai VIF 56

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ-ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu 18
Hình 2.1 Lưu đồ thiết kế nghiên cứu 21
Hình 3.1 Phân bổ đối tượng khảo sát 33
Hình 3.2 Kinh nghiệm nhân viên nhà thầu 34
Hình 3.3 Mô hình được điều chỉnh 53
Hình 3.4 Quan hệ giữa ŷ và phần dư 57
Hình 3.5 Biểu đồ phân phối phần dư chuẩn hóa 57
1
PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài
Trong ngành xây dựng, chậm tiến độ dự án là một vấn đề mang tính toàn cầu,
chậm tiến độ đề cập đến việc quá thời hạn trong việc phân phối dự án xây dựng mà
các bên liên quan đã cam kết (Assaf và Al Hejji, 2005).
Tại Việt Nam, chậm tiến độ trong các dự án xây dựng nói chung, các dự án
xây dựng nhà ở dân dụng nói riêng là một vấn đề mà gần đây các phương tiện thông
tin đại chúng thường hay đề cập. Loại hình dự án xây dựng bị chậm tiến độ rất đa
dạng, có thể là những dự án trọng điểm quốc gia như cầu, đường, nhà máy điện và
các công trình trọng điểm khác đến những dự án dân dụng như các dự án nhà ở dân
dụng và các loại dự án xây dựng khác.
Chậm tiến độ trong dự án xây dựng nhà ở dân dụng mang lại rất nhiều hậu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố gây chậm tiến độ thi công trong
các dự án xây dựng nhà ở dân dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các dự án xây dựng nhà ở dân
dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến nay.
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm 2 nguồn chính:
Dữ liệu thứ cấp: các nghiên cứu về lĩnh vực quản lý tiến độ thi công các dự
án xây dựng nhà ở, các nghiên cứu về chậm tiến độ, các yếu tố gây ra chậm tiến độ
dự án và các hậu quả do chậm tiến độ gây ra.
Dữ liệu sơ cấp: thực hiện thu thập dữ liệu bằng cách khảo sát các các đối
3
tượng liên quan đến các dự án xây dựng nhà ở dân dụng riêng lẻ trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát là các khách hàng của các công ty (chủ đầu
tư) & nhân viên, nhà quản lý của công ty xây dựng nhà ở dân dụng trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh (nhà thầu) và các nhân viên của đơn vị tư vấn, giám sát các
công trình xây dựng nhà ở dân dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm
phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên
cứu chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 là nghiên cứu định tính nhằm khẳng định & bổ sung những yếu tố
ảnh hưởng đến chậm tiến độ thi công các dự án nhà ở dân dụng trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến nay. Mục đích chính của giai đoạn nghiên cứu
định tính là để thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn cho nghiên cứu định lượng.
Giai đoạn 2 là nghiên cứu định lượng với việc xếp hạng các yếu tố ảnh hưởng
đến chậm tiến độ, phân tích nhân tố khám phá & xây dựng mô hình hồi qui nhằm
đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án xây dựng nhà ở
dân dụng tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến nay. Sau đó đề xuất các giải
pháp hạn chế ảnh hưởng các yếu tố gây ra chậm tiến độ công trình xây dựng nhà ở

còn được định nghĩa là một nỗ lực tạm thời nhằm tạo nên một sản phẩm, dịch vụ
hay kết quả (PMI, 2008). Bản chất tạm thời của dự án được xác định bởi điểm khởi
đầu và kết thúc xác định của nó.
Trong nghiên cứu này, dự án được xác định là nhóm các công việc nhằm tạo
nên những công trình xây dựng nhà ở dân dụng riêng lẻ với thời gian bắt đầu và kết
thúc được ấn định bởi hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu.
1.1.2 Dự án xây dựng nhà ở dân dụng
Theo Đỗ Thị Xuân Lan (2012), dự án xây dựng là tập hợp những đề xuất hay
công việc có liên quan đến bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những công trình
xây dựng.
Theo định nghĩa của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nguyên tắc phân loại,
phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật đô thị thì công trình
xây dựng dân dụng bao gồm các loại nhà ở, nhà và công trình công cộng (Bộ xây
dựng, 2012). Trong đó, nhà ở được phân thành hai loại là nhà chung cư và nhà riêng
lẻ.
Trong nghiên cứu này, các dự án xây dựng nhà ở dân dụng được đề cập là
các công trình xây dựng nhà ở cá nhân riêng lẻ (thông thường là các công trình xây
dựng nhà ở từ 2 đến 5 tầng), có thời điểm bắt đầu và kết thúc được xác định dựa vào
6
kế hoạch thi công của các công ty xây dựng và nằm trong giới hạn được xác định
bởi hợp đồng được ký kết giữa các công ty và khách hàng.
1.1.3 Chậm tiến độ trong dự án xây dựng
Một đặc tính chung của các dự án xây dựng là chúng thường biến động và
thường phức tạp và đa dạng. Điều này dẫn đến một tranh cãi không có hồi kết, trong
đó rất nhiều nhà nghiên cứu xem chậm tiến độ như là một điều hiển nhiên và một số
cho rằng đó là hiện tượng toàn cầu ảnh hưởng đến tất cả các dạng dự án xây dựng
(Sambasivan & Soon, 2007).
Xét ở một mức độ nhất định, mỗi dự án xây dựng là một công trình duy nhất –
không có hai dự án nào hoàn toàn giống hệt nhau. Tiến trình xây dựng bị ảnh hưởng
bởi nhiều yếu tố có sức biến đổi lớn và đôi khi không thể dự đoán được. Tất cả các

(Critical & Non-Critical delay): Độ nghiêm trọng của chậm tiến độ được
xét dựa trên chậm tiến độ có hay không ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ của
dự án. Thực tế, có nhiều chậm tiến độ không ảnh hưởng đến đến sự hoàn
thành của toàn bộ dự án hay các mốc quan trọng, các chậm tiến độ này
được xem là chậm tiến độ không quan trọng. Chậm tiến độ có thể gây ảnh
hưởng đến tiến độ của toàn dự án được xem là chậm tiến độ nghiêm trọng.
- Chậm tiến độ có thể tha thứ được và chậm tiến độ không thể tha thứ
được (Excusable & Non-execusable delay): chậm tiến độ có thể tha thứ
được là chậm tiến độ do các nguyên nhân không thể dự đoán được gây ra.
Thông thường, những dạng chậm tiến độ do các nguyên nhân như hỏa
hoạn, động đất, thời tiết, chủ đầu tư bị thay đổi, và các nguyên nhân tương
tự (không thể đoán trước và ngoài tầm kiểm soát của nhà thầu) được xem
như chậm tiến độ có thể tha thứ được. Những chậm tiến độ trong tầm kiểm
soát của nhà thầu và có thể dự đoán được thường được xem là chậm tiến độ
không thể tha thứ.
- Chậm tiến độ phải đền bù và chậm tiến độ không cần đền bù
(Compensable & Non-compensable delay): chậm tiến độ phải đền bù là
8
các chậm tiến độ mà nhà thầu bắt buộc phải đền bù, các chậm tiến độ này
có thể là chậm tiến độ không thể tha thứ được.
- Chậm tiến độ đồng thời và chậm tiến độ không đồng thời (Concurrent &
Non-concurent delay): chậm tiến độ đồng thời là các chậm tiến độ khác
nhau xảy ra cùng một thời gian làm ảnh hưởng đến đường găng của dự án
mà hậu quả là làm chậm tiến độ toàn dự án. Thông thường, khi chậm tiến
độ đồng thời xảy ra, cả chủ đầu tư và nhà thầu đều phải chịu trách nhiệm
cho chậm tiến độ này.
Ngoài ra, theo Tumi và cộng sự (2009), có thể phân chia thành 2 dạng chậm
tiến độ cơ bản là chậm tiến độ có thể tha thứ được và chậm tiến độ không thể tha
thứ được.
- Chậm tiến độ không thể tha thứ được: là dạng chậm tiến độ gây ra do nhà

Kumaraswany và Chan (1998) trích dẫn trong Long (2008) đã tiến hành
nghiên cứu các nhân tố có khả năng gây chậm tiến độ đối với dự án xây dựng ở
HongKong dưới góc nhìn của khách hàng, nhà thầu & chủ đầu tư. Các tác giả đã
xác định được 5 nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chậm tiến độ của dự án theo thứ
tự giảm dần về độ quan trọng: Quản lý & giám sát rủi ro kém, không dự đoán được
tình trạng mặt bằng chính xác, chủ đầu tư ra quyết định chậm, chủ đầu tư yêu cầu
thay đổi và sự thay đổi công việc.
Kaming và các cộng sự (1997) trích trong Long (2008) đã sử dụng khảo sát
bằng bảng câu hỏi để xác định 11 nhân tố dẫn đến sự chậm tiến độ trong các dự án
xây dựng ở Indonesia, trong đó, 5 nguyên nhân hàng đầu gây ra sự châm tiến độ là
thay đổi thiết kế, chất lượng lao động kém, kế hoạch không hợp lý, thiếu vật tư và
dự đoán vật tư không chính xác.
Al Moumani (2000) đã thực hiện nghiên cứu về nguyên nhân gây chậm tiến độ
dự án trong 130 dự án xây dựng trên các vùng khác nhau của Jordan trong khoảng
thời gian từ 1990-1997 bằng cách sử dụng các dữ liệu định lượng. Các dự án xây
dựng trong nghiên cứu này bao gồm các 14 dự án dân cư, 34 văn phòng, 52 trường
10
học, 20 trung tâm y tế và 12 dự án tiện ích cộng đồng. Tất cả các công việc mà có
thời hạn hoàn thành trễ so với ngày hoàn thành trên kế hoạch được xem là chậm
tiến độ. Tác giả đã lập một bảng các yếu tố có thể gây chậm tiến độ và xác định tần
số xuất hiện của các yếu tố này. Nghiên cứu đã xác định được các nguyên nhân gây
chậm tiến độ hàng đầu trong trường hợp nghiên cứu bao gồm các vấn đề liên quan
đến thiết kế, các thay đổi của chủ đầu tư, thời tiết, điều kiện mặt bằng và vật tư phân
phối trễ.
Admed và các cộng sự (2002) đã nghiên cứu về các yếu tố gây chậm tiến độ
tại Florida, USA. Tác giả đã khảo sát thông qua bảng phỏng vấn các công ty xây
dựng ở Florida bằng cách gửi qua thư thông thường và thông qua Internet. Kết quả
nghiên cứu rút ra 10 yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến tiến độ dự án, trong đó 3 yếu tố
quan trọng bao gồm: giấy phép xây dựng từ chính quyền, sự thay đổi yêu cầu thi
công, sự thay đổi thiết kế. Từ kết quả phân tích, nghiên cứu cũng xếp hạng mức độ

thầu lên kế hoạch thi công không tốt, (2) nhà thầu quản lý công trình kém, (3) nhà
thầu không có kinh nghiệm tương xứng, (4) chủ đầu tư có điều kiện tài chính tốt &
không thanh toán cho các công việc đã hoàn thành, (5) có các vấn đề với nhà thầu
phụ.
Long và cộng sự (2008) sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn đến 87 chuyên gia
trong lĩnh vực xây dựng để tìm hiểu về các yếu tố gây chậm tiến độ trong các dự án
xây dựng lớn tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố gây ra chậm tiến độ
hàng đầu trong các công trình xây dựng lớn ở Việt Nam như: giám sát & quản lý
công trình kém, các vấn đề về tài chính của cả nhà thầu lẫn chủ đầu tư, thay đổi
thiết kế và không dự đoán chính xác tình trạng mặt bằng thi công.
M.Haseeb và cộng sự (2011) đã thiết lập 150 bảng câu hỏi và khảo sát ngẫu
nhiên đối với các thành phần có liên quan đến các dự án xây dựng tại Pakistan.
Trong đó, 30 bảng được gửi đến nhân viên chính phủ có liên quan đến các dự án
xây dựng, 40 bảng khảo sát các nhà thầu, 30 bảng khảo sát các nhà tư vấn và các kỹ
sư làm trên dự án xây dựng, 30 bảng khảo sát các chủ đầu tư tư nhân & 20 bảng
khảo sát các lao động đang làm trên các dự án xây dựng. Bảng khảo sát tập trung
12
vào các yếu tố gây chậm tiến độ quan trọng và tần số xuất hiện của các yếu tố này
trong các dự án xây dựng. Nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố gây chậm tiến độ
quan trọng như các vấn đề liên quan đến tài chính và chi trả, dự đoán thời gian xây
dựng không chính xác, chất lượng của nguyên vật liệu, trả tiền chậm cho nhà cung
cấp và các nhà thầu phụ, quản lý công trình kém.
Townhid và Admiruddin (2011) đã thực hiện nghiên cứu về các yếu tố gây
chậm tiến độ và các hậu quả quan trọng nhất của chậm tiến độ dự án tại các dự án
xây dựng ở Irania. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được 10 yếu tố quan trọng
nhất ảnh hưởng đến chậm tiến độ dự án ở Irania trong tổng số 27 yếu tố được tổng
hợp từ các nghiên cứu về các yếu tố chậm tiến độ từ năm 2000 đến thời điểm
nghiên cứu (phụ lục A). Nghiên cứu đã chỉ ra 10 yếu tố quan trọng, trong đó có thể
kể 5 yếu tố quan trọng nhất như: quản lý và giám sát công trình kém, chủ đầu tư trả
tiền chậm, chủ đầu tư thay đổi yêu cầu trong quá trình thi công, nhà thầu lên kế

1.3.2.1 Các yếu tố xuất phát từ chủ đầu tư gây ra ảnh hưởng chậm tiến độ
Các yếu tố tác động đến chậm tiến độ có nguyên nhân từ chủ đầu tư đã được
xác nhận thông qua rất nhiều nghiên cứu. Long và cộng sự (2008) đã thực hiện
nghiên cứu và chỉ ra rằng có 3 yếu tố trong số 10 yếu tố quan trọng nhất có thể gây
ra chậm tiến độ trong các dự án xây dựng lớn ở Việt Nam là đến từ chủ đầu tư, bao
gồm: chủ đầu tư gặp các vấn đề về tài chính (xếp thứ 3/10), chủ đầu tư yêu cầu thay
đổi thiết kế (xếp thứ 5/10) và chủ đầu tư chi trả chậm trễ cho các công việc đã hoàn
thành (xếp thứ 7/10).
Koushki và cộng sự (2005) khi tiến hành nghiên cứu trên các chủ đầu tư các
công trình nhà ở dân dụng cũng xác nhận có các yếu tố xuất phát từ chủ đầu tư đóng
góp rất lớn vào sự chậm tiến độ của các dự án xây dựng. Theo đó, các nguyên nhân
được đề cập là chủ đầu tư thay đổi yêu cầu thi công, chủ đầu tư có các vấn đề về tài
chính, chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm là 3 yếu tố quan trọng hàng đầu trong các yếu
tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ.
M.Haseeb và cộng sự (2011) trong nghiên cứu các dự án xây dựng tại Pakistan
14
đã xếp hạng các yếu tố gây chậm tiến độ xuất phát từ chủ đầu tư trong 16 yếu tố cần
xem xét của nghiên cứu bao gồm: chủ đầu tư trả tiền chậm, chủ đầu tư yêu cầu thay
đổi bản thiết kế và thay đổi yêu cầu thi công.
Qua đó có thể thấy, các yếu tố xuất phát từ chủ đầu tư gây ra ảnh hưởng đến
chậm tiến độ được xem như nhóm yếu tố có ảnh hưởng khá lớn.
Dựa vào các yếu tố có liên quan đến chủ đầu tư như các vấn đề về tài chính
như chi trả chậm trễ cho các công việc đã hoàn thành, sự chậm trễ trong việc đưa ra
quyết định, sự thay đổi trong thiết kế và thi công, mô hình nghiên cứu phát biểu giả
thuyết như sau:
H1: Các yếu tố xuất phát từ chủ đầu tư có ảnh hưởng đến chậm tiến độ dự án.
1.3.2.2 Các yếu tố xuất phát từ nhà thầu gây ra ảnh hưởng chậm tiến độ
Các nhà thầu thường được xem như là nhân tố chính trong việc xem xét
chậm tiến độ trong các dự án xây dựng. Trong hầu hết các nghiên cứu đã thực hiện
nhằm tìm hiểu về các yếu tố gây nên chậm tiến độ trong dự án xây dựng, các yếu tố

Ngoài ra, nhà tư vấn giám sát còn có thể từ chối nghiệm thu khi công trình không
đạt yêu cầu, đề xuất với chủ đầu tư những bất hợp lý về thiết kế để kịp thời sửa đổi.
Với vai trò quan trọng của tư vấn, giám sát trong các dự án xây dựng, nên
những nghiên cứu về chậm tiến độ đều có các yếu tố phát sinh từ tư vấn, giám sát.
Bên cạnh đó, các vấn đề liên quan đến công tác thiết kế cũng góp phần rất
quan trọng vào chậm tiến độ dự án, điều này đã thể hiện qua một số nghiên cứu như
Long và cộng sự (2008), Acharya và cộng sự (2006, trích từ Ramanathan và cộng
sự ,2012). Thông thường, các vấn đề liên quan đến thiết kế có thể xảy ra khi thời
gian dành cho công việc thiết kế quá ngắn, do các yêu cầu thay đổi từ chủ đầu tư
phải thiết kế lại hoặc do kỹ năng của kiến trúc sư kém.
Assaf và Al Hejii (2005) cũng đã xác định nhà tư vấn có góp phần vào sự
chậm tiến độ dự án, trong đó yếu tố gây chậm tiến độ phát sinh từ nhà tư vấn là nhà
tư vấn quản lý hợp đồng kém.
Ngoài ra, Long và cộng sự (2008) cũng thừa nhận việc công tác quản lý hợp
đồng kém cũng là yếu tố góp phần gây ra chậm tiến độ trong các dự án xây dựng
16
lớn ở Việt Nam bên cạnh việc hỗ trợ quản lý dự án kém đến từ nhà tư vấn và việc
dự đoán không chính xác của nhà tư vấn giám sát.
Thực tế khi tham khảo một số nhà thầu ở TP.HCM cũng cho thấy việc tư vấn
giám sát thiếu kinh nghiệm, chậm trễ trong việc chấp nhận các khối lượng công việc
đã thực hiện cũng như chậm trễ trong việc chấp nhận những thay đổi có khả năng
xảy ra trong thiết kế cũng góp phần gây chậm tiến độ dự án. Qua đó, mô hình
nghiên cứu đề xuất giả thuyết.
H3: Các yếu tố xuất phát từ tư vấn, giám sát, thiết kế có ảnh hưởng đến chậm
tiến độ dự án.
1.3.2.4 Các yếu tố nguyên vật liệu, trang thiết bị gây ra ảnh hưởng chậm
tiến độ
Các yếu tố nguyên vật liệu, trang thiết bị luôn là một thành phần không thể
thiếu trong bất kỳ dự án xây dựng nào. Vì vậy, các vấn đề xảy ra với nguyên vật
liệu và trang thiết bị nếu không được giải quyết trong thời gian hợp lý chắc chắn sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status