Các yếu tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công tại Việt Nam - Pdf 34

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua 3 giai
đoạn tái cấu trúc kinh tế: (i) giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới; (ii) giai đoạn sau cuộc
khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á năm 1997 và (iii) giai đoạn sau cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới năm 2008. Trong mỗi giai đoạn phát triển, đầu tư công được
xem như là công cụ quan trọng để Chính phủ thực hiện quá trình tái cấu trúc nền kinh
tế. Theo đó, thể chế và chính sách đầu tư công luôn được Chính phủ điều chỉnh để hỗ
trợ cho quá trình tái cơ cấu kinh tế một cách hiệu quả. Dù là vậy, cho đến nay, đầu tư
công được đánh giá là còn kém hiệu quả xét trên khía cạnh hiệu suất sử dụng đồng
vốn. Hệ số ICOR của đầu tư khu vực Nhà nước giai đoạn 1995 – 2011 là rất cao so với
suất đầu tư chung của xã hội (Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc
gia, 2012). Bảng 0.1 cho thấy hệ số ICOR của đầu tư khu vực nhà nước luôn cao hơn
hệ số ICOR chung toàn xã hội, từ 1,3 – 1,4 lần.
Bảng 0.1: Hệ số ICOR chung và khu vực đầu tư nhà nước qua các giai đoạn
1995 – 2000

2001 – 2005

2005 – 2011

Đầu tư chung

4,25

4,62

6,10


thấy tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán thật sự là vấn đề phổ biến.
Tại Việt Nam, tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán của các dự án đầu tư công
được các nhà hoạch định chính sách, quản lý dự án xem như là một trong những
nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư công. Trong một văn bản trình Thủ tướng về
công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư năm 2014, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu
tư Bùi Quang Vinh thừa nhận nhiều dự án vẫn còn chậm tiến độ, tỷ lệ các dự án điều
chỉnh còn khá cao. Ông Vinh khẳng định việc chậm tiến độ là một trong những
nguyên nhân làm tăng chi phí, giảm hoặc không còn hiệu quả đầu tư, tác động tiêu cực
đến nền kinh tế (Tư Giang, 2015).
Báo cáo tổng hợp công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư qua các năm 2010,
2011, 2012 và 2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với các dự án đầu tư sử dụng 30%
vốn nhà nước trở lên đưa ra số liệu về số dự án chậm tiến độ chiếm khoảng từ 9,59%
đến 11,77% số dự án thực hiện trong năm; số dự án phải điều chỉnh (trong đó có điều
chỉnh tiến độ và điều chỉnh vốn đầu tư) chiếm khoảng từ 11% đến 16,09% số dự án
thực hiện trong kỳ. Số liệu tổng hợp hàng năm cho thấy tình trạng chậm tiến độ và
vượt dự toán là vấn đề cần quan tâm trong quản lý dự án đầu tư công. Báo cáo giám sát
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận đây là nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư
công nhưng chưa đề ra các giải pháp khắc phục tình trạng này. Để giải quyết vấn đề,
cần thiết phải xác định, phân tích về phương diện học thuật các yếu tố ảnh hưởng đến
chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công.


3

Lý thuyết quản lý dự án cũng chỉ ra rằng vấn đề vượt dự toán và chậm tiến độ có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có nhiều công trình thực nghiệm tiến hành nghiên cứu
hai vấn đề này một cách riêng biệt (Azhar và cộng sự, 2008; Han và cộng sự, 2009;
Cantarelli và cộng sự, 2012; Hamazh và cộng sự, 2011…); nhưng cũng có nhiều công
trình nghiên cứu đồng thời cả hai vấn đề này trong cùng một thang đo (Claire Bordat
và cộng sự, 2004; Ramanathan và cộng sự, 2012)… Cho đến nay, chủ đề này ở Việt

quay vòng kịp thời, bị chôn vốn, lãi suất vẫn phải trả, thiếu công trình cho xã hội.
Chính vì lẽ đó, luận án tiến hành nghiên cứu làm rõ tác động của vượt dự toán và chậm
tiến độ đến thời gian hoàn thành và giá trị quyết toán (hay chi phí) dự án đầu tư công
tại Việt Nam.
Từ các mục tiêu trên, các câu hỏi nghiên cứu của luận án là:
- Chậm tiến độ ảnh hưởng như thế nào đến chi phí thực hiện và vượt dự toán có tác
động làm chậm tiến độ thực hiện dự án công ở Việt Nam?
- Những yếu tố nào gây chậm tiến độ và vượt dự toán của dự án đầu tư công tại Việt
Nam?
- Những nhà hoạch định chính sách quản lý dự án công tại Việt Nam cần có những
điều chỉnh gì để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng chậm tiến độ và vượt dự
toán?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đối tượng của luận án tập trung vào việc nghiên
cứu tình hình triển khai và thực hiện các dự án công ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tiến
hành khảo sát và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ, vượt dự toán các dự
án đầu tư công tại Việt Nam. Đồng thời, luận án cũng phân tích mối quan hệ giữa thời
gian và chi phí của các dự án đầu tư công tại Việt Nam. Nền tảng lý thuyết cho nghiên
cứu dựa vào lý thuyết về quản lý dự án.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng để phân tích về tác động của vượt dự toán và chậm tiến độ đến
thời gian hoàn thành và giá trị quyết toán (hay chi phí) dự án đầu tư công là dữ liệu từ
hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành của 227 dự án đầu tư công triển khai tại Thành phố
Hồ Chí Minh, giai đoạn 2008 – 2013 lưu trữ tại Sở Tài chính Tp. Hồ Chí Minh.


5

Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán


Để nghiên cứu việc chậm tiến độ ảnh hưởng đến chi phí thực hiện và vượt dự
toán tác động làm chậm tiến độ đối với các dự án đầu tư công, nghiên cứu sử dụng
phương pháp phân tích hồi quy bội, áp dụng cho nhiều mô hình, có sử dụng biến giả để
nhận diện và phân tích.
Để kiểm định và nhận diện các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án
đầu tư công tại Việt Nam, luận án sử dụng phương pháp định lượng thực hiện qua các
giai đoạn như sau:
 Thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng bảng câu hỏi khảo sát các chuyên gia quản
lý dự án đầu tư công trên địa bàn nghiên cứu. Kích thước mẫu là 240 được chọn theo
phương pháp lấy mẫu thuận tiện.
 Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s
Alpha, sau đó phân tích yếu tố khám phá (EFA) thông qua phần mềm xử lý SPSS 22.0,
qua đó loại bỏ các biến quan sát không giải thích cho khái niệm nghiên cứu (không đạt
độ tin cậy); đồng thời tái cấu trúc các biến quan sát còn lại vào các yếu tố (thành phần
đo lường) phù hợp làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
nghiên cứu, các nội dung phân tích và kiểm định tiếp theo.
 Sau đó, nghiên cứu dùng phương pháp phân tích hồi quy bội (RA) với các
quan hệ tuyến tính để kiểm định các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án
đầu tư công tại Việt Nam, từ đó xác định được mức độ quan trọng của từng yếu tố.
5. Tính mới và những đóng góp của luận án
Tính mới của luận án là đã xác định được những nguyên nhân gây ra chậm tiến
độ và vượt dự toán của các dự án đầu tư công tại Việt Nam. Đề xuất mô hình thực
nghiệm để ước lượng các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công
(không phân biệt quy mô của dự án). Khuyến nghị một số điều chỉnh chính sách quản
lý dự án đầu tư công tại Việt Nam để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng chậm tiến
độ và vượt dự toán. Cụ thể, nghiên cứu có những điểm mới và đóng góp như sau:
5.1. Về phương diện học thuật





8

các dự án đầu tư công tại Việt Nam thuộc về năng lực quản lý của chủ đầu tư, năng
lực thực hiện dự án của tư vấn hoặc nhà thầu.
- Luận án cũng đã phân tích những bất cập của cơ chế quản lý tài chính công hiện
hành tại Việt Nam dẫn đến chậm tiến độ và vượt dự toán. Từ đó, khuyến nghị các
giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công tại Việt Nam, khắc
phục triệt để tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán.
- Nội dung luận án là cơ sở để xây dựng chương trình khung đào tạo bồi dưỡng kiến
thức quản lý dự án cho các nhà lãnh đạo quản lý, bổ sung chương trình giảng dạy
của sinh viên khối ngành kiến trúc kỹ thuật với mục tiêu những người được đào tạo
có đầy đủ kiến thức, kỹ năng để quản lý và thực hiện thành công dự án đầu tư công
tại Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục
các hình và bảng, Phụ lục và Tài liệu tham khảo; luận án được bố cục theo 5 chương
như sau: Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết của nghiên cứu; Phương pháp và mô
hình nghiên cứu được trình bày trong Chương 2; Chương 3 nghiên cứu vấn đề thời
gian thực hiện và chi phí đầu tư các dự án đầu tư công được tiến hành thực nghiêm dựa
trên mẫu thu thập các dự án đầu tư công của Thành phố Hồ Chí Minh; Chương 4 trình
bày kết quả nghiên cứu các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư
công tại Việt Nam; cuối cùng là kết luận và khuyến nghị chính sách trong trình bày
trong Chương 5.


9

Chương 1:


nó hướng đến việc nâng cao phúc lợi công cộng. Như vậy, tính chất công của một dự
án được nhận diện ở mục đích mà nó hướng đến- tạo ra những lợi ích cho cộng đồng.
Tại Việt Nam, căn cứ vào các quy định cụ thể của Luật Ngân sách, Luật Xây
dựng và Luật Đầu tư công thì dự án đầu tư công còn có những khác biệt so với dự án
khu vực tư như sau:
+ Về chủ đầu tư: Luật Đầu tư công của Việt Nam quy định chủ đầu tư là cơ quan,
tổ chức được giao quản lý dự án đầu tư công. Do đó, có rất nhiều chủ thể khác nhau
được giao làm chủ đầu tư dự án đầu tư công. Ngoài các Ban quản lý dự án chuyên
ngành còn có các cơ quan hành chính, cơ quan sự nghiệp tiếp nhận, quản lý tài sản sau
đầu tư được giao làm chủ đầu tư.
+ Về kế hoạch nguồn vốn: chủ đầu tư chỉ được Nhà nước giao vốn theo kế hoạch
hàng năm phụ thuộc vào dự toán ngân sách dành cho đầu tư hàng năm của Chính phủ
hoặc Chính quyền địa phương. Trong khi đó, đối với dự án tư thì nguồn vốn của dự án
được xác định rõ ràng cụ thể ngay từ đầu và thường không bị giới hạn giải ngân theo
năm.
+ Về thẩm quyền của chủ đầu tư: thẩm quyền của chủ đầu tư dự án công bị giới
hạn hơn so với chủ đầu tư dự án tư nhân. Trong quá trình triển khai thực hiện dự án
chủ đầu tư dự án công phải xin ý kiến thẩm định từ các cơ quan chuyên môn của Chính
phủ hoặc Chính quyền địa phương; xin ý kiến của cấp có thẩm quyền quyết định đầu
tư.
+ Về khung pháp lý: chủ đầu tư dự án đầu tư công phải tuân thủ nghiêm ngặt
hàng loạt các quy định của Luật Ngân sách, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công và Luật
Đấu thầu. Trong khi chủ đầu tư khu vực tư chỉ phải tuân thủ một số điều của Luật Xây
dựng liên quan đến quy hoạch, việc sử dụng đất, tiến độ xây dựng và bảo vệ môi
trường.
+ Về chi phí đầu tư: chi phí đầu tư dự án công phải được xác định theo đúng các
quy định do Bộ Xây dựng ban hành. Trong khi chủ đầu tư dự án tư được toàn quyền
xác định chi phí đầu tư phù hợp với thực tế phát sinh và bảo đảm hiệu quả đầu tư của
dự án.

Chất
lượng

MỤC
TIÊU

Chi
phí

Thời
gian

1.3. Các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa thời gian và chi phí thực hiện
dự án
Lý thuyết về quản lý dự án đã được hình thành và phát triển qua nhiều thập kỷ.
Thông qua việc nghiên cứu lịch sử và các di tích còn lại của các công trình tại Trung
Quốc, Hy Lạp, Ai Cập hoặc La Mã cổ đại, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hình thức quản
lý dự án “sơ khai” đã sớm hình thành. Hình thức này được thực hiện bởi các thợ kỹ
thuật có nhiều kỹ năng, am hiểu nhiều lĩnh vực, có thể đảm nhận nhiều vị trí công việc
và được trao đầy đủ quyền để có thể thực hiện các mục tiêu của dự án. Hình thức quản
lý “sơ khai” này được thực hiện cho đến tận thế kỷ 19 (Richardson, 2015).
Sau đó, dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp, quá trình sản xuất đã
chuyển từ nhà của thợ thủ công để đi vào sản xuất ở nhà máy, nơi các sản phẩm có thể
được sản xuất hàng loạt. Việc tổ chức sản xuất đã trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi phải có


13

một quy trình làm việc cụ thể, có thể áp dụng cho hàng ngàn công nhân để sản xuất,
lắp ráp với số lượng lớn. Giai đoạn này đánh dấu điểm khởi đầu cho lý thuyết quản lý

hành chức năng của mình. Điển hình là Frank và Lilian Gilbreth với nguyên tắc đơn
giản hóa công việc, nghĩa là bỏ đi những động tác thừa thãi làm hao tổn sức lực của họ
khiến năng suất bị giảm thiểu. Sau Frank, Lilian, Henry Gantt tiếp tục đóng góp cho lý
thuyết của Taylor bằng Sơ đồ Gantt, theo đó Gantt chia nhỏ các nhiệm vụ của một dự
án và xây dựng sơ đố dưới dạng thanh thời gian. Sơ đồ Gantt cung cấp một cái nhìn
tổng thể của thời gian và công việc cần thiết để hoàn thành dự án. Sơ đồ này được sử
dụng nhiều cho đến tận ngày nay.
Nhìn chung, lý thuyết về quản lý dự án theo trường phái cổ điển giả định rằng các
mục tiêu của dự án có thể được xác định trước khi thực hiện dự án và sẽ không thay


14

đổi. Các mục tiêu này sau đó được phân tách thành các “công việc” chi tiết và được lập
kế hoạch để đảm bảo rằng mỗi “công việc” có thể hoàn thành đúng hạn, đúng với mục
tiêu đề ra. Lý thuyết quản lý theo trường phái này nhìn chung là đã giúp nâng cao năng
suất lao động, xây dựng quan hệ giữa chủ và thợ, là cơ sở để hình thành nên tư tưởng
quản lý “chuyên môn hóa” và “tiêu chuẩn hóa”. Tuy nhiên, phương pháp quản lý dự án
này mặc dù đã được lên kế hoạch và kiểm soát chu đáo nhưng vẫn có thể gặp nhiều rủi
ro, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học công nghệ thay đổi nhanh chóng hoặc xuất hiện
các yếu tố không lường trước có thể đe dọa đến kết quả thực hiện của dự án.
Sau năm 1950, quản lý dự án đã được chính thức công nhận là một ngành khoa
học tách ra từ ngành khoa học quản lý. Sau thời gian này, các mô hình toán học được
sử dụng để lập tiến độ của dự án, có thể kể đến là “Phương pháp Sơ đồ mạng CPM”
(Critical Path Method). CPM sử dụng mạng đồ thị có hướng trong lý thuyết đồ thị để
tổ chức các hoạt động công việc, từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc, qua một
số các công việc và mối quan hệ giữa các công việc này để xác định tổng thời gian
thực hiện cần thiết. Một phương pháp khác là “Kỹ thuật đánh giá và xem xét chương
trình/dự án” (Program Evaluation and Review Technique, PERT) do Hải quân Hoa Kỳ
phát triển sử dụng kết hợp lý thuyết xác suất thống kê với sơ đồ mạng CPM để ước

gồm: quản lý thiết lập dự án, quản lý lập kế hoạch dự án, quản lý thực thi dự án, quản
lý kiểm soát và kết thúc dự án. 5 nhóm chính này bao gồm 10 khía cạnh nhận thức
(KAS) được mô tả ngắn gọn như sau: (PMBOK Guide 2013, Chương 3, trang 61):
(i)

Phạm vi: mô tả giới hạn các công việc cần phải được thực hiện của dự án.

(ii)

Thời gian: xác định thời gian hoàn thành công việc, nhóm công việc tiến
tới hoàn thành dự án.

(iii)

Chi phí: xác định quá trình thực hiện dự toán chi phí cho từng công việc,
dự toán ngân sách và kiểm soát chi phí dự án.

(iv)

Chất lượng: mô tả các quy trình cần thiết để đảm bảo rằng dự án sẽ đáp
ứng các mục tiêu hoạt động mà nó đã được đưa ra trong việc lập kế hoạch,
đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng.

(v)

Nguồn nhân lực: Xác định các yêu cầu về nhân lực của đội ngũ thực hiện
dự án.


16

thành của dự án vẫn thường được coi là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu
quả hoạt động của dự án và hiệu quả hoạt động của các tổ chức thực hiện dự án. Theo
đó, dự án được hoàn thành kịp thời là một trong những mục tiêu không những của
khách hàng/chủ đầu tư mà còn của nhà thầu bởi vì mỗi bên sẽ phải chịu thêm gánh
nặng chi phí và mất đi doanh thu tiềm năng một khi dự án hoàn thành chậm (Thomas
và cộng sự, 1995). Chan và Kumaraswamy (1996) cho rằng một dự án thường được coi
là thành công nếu nó được hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách và mức
độ tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
Dự đoán được thời gian và chi phí thực hiện dự án luôn được các nhà nghiên cứu
và quản lý dự án quan tâm, bởi đó là vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong việc quản lý
thực hiện dự án theo hiệu quả thời gian. Bromilow (1969) đã thiết lập một mô hình thể
hiện mối quan hệ giữa thời gian và chi phí dựa trên việc khảo sát của 329 dự án xây


17

dựng tại các thành phố lớn của Úc (bao gồm Canberra, Melbourne và Sydney), từ đó
phát triển thành mô hình dự báo thời gian xây dựng dựa trên chi phí của dự án như sau:
T = K.CB, trong đó:
T = Thời gian xây dựng tính bằng ngày làm việc kể từ ngày nhận bàn giao mặt
bằng đến ngày hoàn thành thực tế.
C = Chi phí cuối cùng của dự án tính bằng triệu đô la
K = Hằng số mô tả hiệu quả chung của thời gian cho dự án trị giá 1 triệu đô la.
B = Hằng số mô tả sự nhạy cảm của hiệu quả của thời gian bị ảnh hưởng bởi quy
mô dự án được đo bằng chi phí.
Nghiên cứu của Bromilow đã chỉ ra rằng thời gian thực để xây dựng một dự án có
liên quan mật thiết với quy mô dự án được đo bằng chi phí. Thời gian thi công trong
ngày làm việc (T) có thể được biểu diễn như một hàm số của chi phí hợp đồng với đơn
vị tính là triệu đô la (C), dựa trên kết quả hồi quy phù hợp nhất, có nguồn gốc từ các dữ
liệu lịch sử về thời gian thực hiện dự án.

P: Mức độ hoàn thành công việc (kết quả)
T: Yếu tố thời gian
S: Phạm vi dự án

Phương trình trên cho thấy chi phí là một hàm của nhiều yếu tố, trong đó: “Nếu
thời gian thực hiện bị kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng cao sẽ phát sinh
tăng chi phí một số khoản mục nguyên vật liệu. Mặt khác, thời gian kéo dài dẫn đến
tình trạng làm việc kém hiệu quả do công nhân mệt mỏi, do chờ đợi và thời gian máy
chết tăng thêm… làm phát sinh tăng một số khoản mục chi phí. Thời gian thực hiện dự
án kéo dài, chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí gián tiếp cho bộ phận (chi phí hoạt động
của văn phòng dự án) tăng theo thời gian và nhiều trường hợp, phát sinh tăng khoản
tiền phạt do không hoàn thành đúng tiến độ ghi trong hợp đồng” (Từ Quang Phương,
2005, trang 11).
Hậu quả của chậm tiến độ và vượt dự toán là hết sức rõ ràng. Nó gây ra những
ảnh hưởng khác nhau cho các bên tham gia vào dự án. Chủ đầu tư mất nguồn thu có
được từ dự án, người dân phải tiếp tục sử dụng các cơ sở hạ tầng hiện hữu cũ kỹ, nhà
nước bị mất các nguồn thu từ thuế-phí khi chậm đưa vào sử dụng các công trình và cơ
sở hạ tầng mới.
Không chỉ vậy, chậm tiến độ và vượt dự toán còn ngụ ý rằng các chi phí tăng
thêm phải được phân bổ làm tăng chi phí hoặc giá cho thuê, hoặc ảnh hưởng đến chi
tiêu ngân sách của Chính phủ trong tương lai. Do đó, vượt dự toán và chậm tiến độ


19

không chỉ gây ra các thiệt hại về kinh tế mà theo Stiglitz (2000) thị trường cung cấp
hàng hóa gây ra bởi yếu tố ngoại lai sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích xã hội.
Trường hợp dự án bị đình trệ, chi phí đầu tư tăng vọt làm ảnh hưởng đến chi tiêu
ngân sách của Chính phủ trong tương lai. Đối với một nền kinh tế, nguồn lực tài chính
cung ứng để thỏa mãn các nhu cầu là có giới hạn. Nếu để chi tiêu ngân sách gia tăng

thành được thỏa thuận trong hợp đồng và ngày thực tế hoàn thành (Elinwa và Joshua,
2001; dẫn theo Usman, Gambo và Ibrahim, 2014).
Theo Assaf và Hejji (2007), chậm tiến độ chính là sự chậm trễ ảnh hưởng đến
ngày dự án hoàn thành được quy định trong hợp đồng. Theo Menesi (2007), nếu xét
theo tiêu chí trách nhiệm, chậm tiến độ được phân thành hai loại: có thể tha thứ và
không thể tha thứ (Hình 1.4).
Hình 1.3: Phân loại chậm tiến độ theo tiêu thức trách nhiệm

(Nguồn: Menesi, 2007)
Sự chậm trễ ở một số hạng mục mà không ảnh hưởng đến tổng thể dự án được
gọi là sự chậm trễ có thể tha thứ. Điều này được gây ra bởi các yếu tố nằm ngoài sự
kiểm soát của các bên tham gia dự án, tức là chậm trễ do các yếu tố không lường trước
được. Sự chậm trễ không thể tha thứ do các yếu tố nằm trong sự kiểm soát của các bên
tham gia dự án gây ra, thể hiện sự thiếu trách nhiệm và chủ đầu tư/khách hàng có thể
được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Trường hợp sự chậm trễ có thể tha thứ, nhà thầu được quyền xin mở rộng thời
gian thi công và không bồi thường cho chủ đầu tư/khách hàng. Một số trường hợp khác
nhà thầu được miễn bồi thường cho sự chậm trễ nếu điều đó không gây ra thiệt hại cho
chủ đầu tư/khách hàng.


21

Trong nghiên cứu này, khái niệm “chậm tiến độ” được hiểu chính là thời gian
thực hiện dự án vượt quá thời gian thỏa thuận giữa chủ đầu tư và nhà thầu quy định
trong Hợp đồng ban đầu.
1.4.2.

Hậu quả của chậm tiến độ


trình, dự án bị chậm tiến độ sẽ chịu tác động của đủ mọi chi phí và các chi phí này liên
tục tăng, từ giá nhân công, vật liệu, chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng, điều chỉnh
thiết kế kỹ thuật, quy mô dự án… gây tổn thất không nhỏ cho nền kinh tế.
Tóm lại, các hậu quả chính của chậm tiến độ có thể có như sau:
Bảng 1.1: Một số hậu quả của chậm tiến độ
Stt

Hậu quả

Nghiên cứu
Aibinu và Jagboro (2002) nghiên cứu những ảnh hưởng của
chậm tiến độ xây dựng đối với dự án trong ngành công

1

Thời gian thực nghiệp xây dựng Nigeria.
hiện bị vi phạm Sambasivan và Soon (2007) nghiên cứu nguyên nhân và hậu
quả của chậm tiến độ của các công trình xây dựng công
nghiệp ở Malaysia.
Aibinu và Jagboro (2002) nghiên cứu những ảnh hưởng của
chậm tiến độ xây dựng đối với dự án trong ngành công
nghiệp xây dựng Nigeria.
Koushki và cộng sự (2005) nghiên cứu chậm tiến độ và

2

Chi phí thực
hiện gia tăng

vượt dự toán trong xây dựng các dự án nhà ở tư nhân ở

nghiệp ở Malaysia.
Aibinu và Jagboro (2002) nghiên cứu những ảnh hưởng của
chậm tiến độ xây dựng đối với dự án trong ngành công

5

Kiện tụng

nghiệp xây dựng Nigeria.
Sambasivan và Soon (2007) nghiên cứu nguyên nhân và hậu
quả của chậm tiến độ của các công trình xây dựng công
nghiệp ở Malaysia.
Aibinu và Jagboro (2002) nghiên cứu những ảnh hưởng của
chậm tiến độ xây dựng đối với dự án trong ngành công

6

Hủy bỏ

nghiệp xây dựng Nigeria.
Sambasivan và Soon (2007) nghiên cứu nguyên nhân và hậu
quả của chậm tiến độ của các công trình xây dựng công
nghiệp ở Malaysia.
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

1.5. Vấn đề vượt dự toán các dự án đầu tư
1.5.1.

Khái niệm vượt dự toán


về ngân lưu.
Bảng 1.2: Một số tác động của chậm tiến độ đối với các bên tham gia dự án
Tác động
---------------Nghiên cứu

Giảm lợi

Giảm lợi

Sự hài

nhuận

nhuận

Vấn đề về

Kiện

lòng của

Phá

của Chủ

của Nhà

dòng tiền

tụng




25

Arditi và cộng


sự
(1985)
Ahmed và cộng



sự



(2003)
Charoenngam và



cộng sự (2001)
Nega (2008)






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status