1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Vượt dự toán và chậm tiến độ có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau đối với nhiều loại hình
dự án khác nhau. Điều này dẫn đến nhiều tranh luận về việc làm thế nào để giảm thiểu tình trạng chậm tiến
độ và vượt dự toán. Ðã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng
chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công (Mansfield và cộng sự, 1994; Kaming và cộng sự, 1996;
Koushki và Kartam, 2004). Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư
có thể kể đến từ việc quản lý dự án yếu kém cho đến các yếu tố khách quan bên ngoài. Hàng loạt các nghiên
cứu thực nghiệm trên thế giới tập trung khám phá các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán tại các nước
khác nhau. Điều này cho thấy tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán thật sự là vấn đề phổ biến.
Tại Việt Nam, tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán của các dự án đầu tư công được các nhà hoạch
định chính sách, quản lý dự án xem như là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu tư công.
Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công tại Việt Nam”
được triển khai nghiên cứu gắn với bối cảnh thực tế của các dự án đầu tư công ở Việt Nam. Kết quả nghiên
cứu được mong đợi sẽ góp phần vào lý thuyết về nguyên nhân và hiệu ứng vượt dự toán và chậm tiến độ các
dự án đầu tư công.
2.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản của luận án là khám phá các yếu tố dẫn đến tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán
của dự án đầu tư công ở Việt Nam. Đầu tư công ở Việt Nam có khá nhiều đặc thù vốn có của một nền kinh tế
đang chuyển đổi với thể chế và chính sách đầu tư đang trong quá trình hoàn thiện. Thực hiện nghiên cứu này
sẽ góp phần bổ sung lý thuyết quản trị tài chính công ở các nền kinh tế chuyển đổi. Nét đặc trưng cơ bản của
luận án là nghiên cứu cả hai vấn đề chậm tiến độ và vượt dự toán nghiên cứu trong một hệ thống đo lường
các nhân tố, qua đó giúp nhận dạng một cách tổng quát hơn các yếu tố gây yếu kém hiệu quả đầu tư đầu
công xét trên góc độ thời gian và chi phí đầu tư cũng như những hậu quả tiêu cực của nó gây ra cho xã hội.
Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công
tại Việt Nam, luận án sử dụng dữ liệu sơ cấp từ việc khảo sát 240 chuyên gia đang trực tiếp quản lý, thực
hiện dự án đầu tư công công tác tại Bộ Tài chính, các tỉnh và Tp. Hồ Chí Minh. Thời gian tổ chức khảo sát:
2013-2014.
4.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu:
- Nghiên cứu dùng phương pháp chuyên gia, thông qua việc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với
các chuyên gia, với những người đang trực tiếp quản lý và thực hiện dự án đầu tư công nhằm điều chỉnh một
số khái niệm, thang đo cho phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu định tính làm cơ sở
cho việc khảo sát, thu thập số liệu để phân tích định lượng với mô hình phân tích yếu tố khám phá (EFA) và
hồi quy (RA)..
- Để nghiên cứu việc chậm tiến độ ảnh hưởng đến chi phí thực hiện và vượt dự toán tác động làm
chậm tiến độ đối với các dự án đầu tư công, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bội, áp dụng
cho nhiều mô hình, có sử dụng biến giả để nhận diện và phân tích.
- Để kiểm định và nhận diện các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công tại
Việt Nam, luận án sử dụng phương pháp định lượng thực hiện qua các giai đoạn như sau:
Thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng bảng câu hỏi khảo sát các chuyên gia quản lý dự án đầu tư công
trên địa bàn nghiên cứu. Kích thước mẫu là 240 được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện.
Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, sau đó phân tích
yếu tố khám phá (EFA) thông qua phần mềm xử lý SPSS 22.0, qua đó loại bỏ các biến quan sát không giải
thích cho khái niệm nghiên cứu (không đạt độ tin cậy); đồng thời tái cấu trúc các biến quan sát còn lại vào
các yếu tố (thành phần đo lường) phù hợp làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả
thuyết nghiên cứu, các nội dung phân tích và kiểm định tiếp theo.
Sau đó, nghiên cứu dùng phương pháp phân tích hồi quy bội (RA) với các quan hệ tuyến tính để
kiểm định các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công tại Việt Nam, từ đó tính được
mức độ quan trọng của từng yếu tố.
5.
- Luận án đã làm rõ thực trạng việc quản lý dự án đầu tư công tại Việt Nam hiện nay, chỉ ra được hai
nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công tại Việt Nam thuộc
về năng lực quản lý của chủ đầu tư, năng lực thực hiện dự án của tư vấn hoặc nhà thầu.
- Luận án cũng đã phân tích những bất cập của cơ chế quản lý tài chính công hiện hành tại Việt Nam dẫn
đến chậm tiến độ và vượt dự toán. Từ đó, khuyến nghị các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý
tài chính công tại Việt Nam, khắc phục triệt để tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán.
- Nội dung luận án là cơ sở để xây dựng chương trình khung đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản lý dự án
cho các nhà lãnh đạo quản lý, bổ sung chương trình giảng dạy của sinh viên khối ngành kiến trúc kỹ thuật với
mục tiêu những người được đào tạo có đầy đủ kiến thức, kỹ năng để quản lý và thực hiện thành công dự án
đầu tư công tại Việt Nam.
6.
Kết cấu luận án
Luận án có khối lượng 139 trang, 37 bảng, 12 hình, 3 phụ lục. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án
được bố cục theo 05 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan lý thuyết;
- Chương 2: Phương pháp và mô hình nghiên cứu;
- Chương 3: Phân tích thực nghiệm thời gian thực hiện và chi phí đầu tư các dự án đầu tư công:
nghiên cứu trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh;
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công
tại Việt Nam;
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1.
Chu trình quản lý dự án
Bùi Ngọc Toàn (2008) định nghĩa: “Chu trình quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời
gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời
hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản
phẩm, dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”.
1.3.
Các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa thời gian và chi phí thực hiện dự án
Dự đoán được thời gian và chi phí thực hiện dự án luôn được các nhà nghiên cứu và quản lý dự án
quan tâm, bởi đó là vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong việc quản lý thực hiện dự án theo hiệu quả thời gian.
Bromilow (1969) đã tiên phong thiết lập một mô hình thể hiện mối quan hệ giữa thời gian và chi phí dựa trên
việc khảo sát của 329 dự án xây dựng tại các thành phố lớn của Úc (bao gồm Canberra, Melbourne và
5
Sydney), từ đó phát triển thành mô hình dự báo thời gian xây dựng dựa trên chi phí của dự án như sau: T =
K.CB, trong đó:
- T = Thời gian xây dựng tính bằng ngày làm việc kể từ ngày nhận bàn giao mặt bằng đến ngày hoàn
thành thực tế.
- C = Chi phí cuối cùng của dự án tính bằng triệu đô la
- K = Hằng số mô tả hiệu quả chung của thời gian cho dự án trị giá 1 triệu đô la.
- B = Hằng số mô tả sự nhạy cảm của hiệu quả của thời gian gian bị ảnh hưởng bởi quy mô dự án
được đo bằng chi phí.
1.4.
Vấn đề chậm tiến độ của các dự án đầu tư
Các nghiên cứu về yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư
1.6.1. Các nghiên cứu về yếu tố gây chậm tiến độ
Có rất nhiều nghiên cứu đi tìm nguyên nhân của việc chậm tiến độ các dự án, trải dài trong khoảng thời
gian từ những năm 1990 đến năm 2010. Các nghiên cứu này có thể phân thành 02 loại chính: nghiên cứu tìm
những nguyên nhân cụ thể hoặc nghiên cứu tìm những nhóm nguyên nhân của việc chậm tiến độ các dự án.
1.6.2. Các nghiên cứu về yếu tố gây vượt dự toán
6
Các nghiên cứu khác nhau về vấn đề vượt dự toán các dự án đầu tư đều chỉ ra rằng có 02 nhóm nguyên
nhân dẫn đến vượt dự toán thông thường là: (i) Nhóm nguyên nhân bên trong là năng lực dự toán của các bên
tham gia dự án; (ii) Nhóm nguyên nhân bên ngoài đến từ lạm phát, sự khan hiếm nguyên vật liệu và nhân
công hoặc từ chính sách của Chính phủ.
1.6.3. Các nghiên cứu về yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán
Bên cạnh những nghiên cứu riêng về chậm tiến độ hoặc nghiên cứu riêng về vượt dự toán các dự án
đầu tư, trên thế giới cũng có những nghiên cứu kết hợp cả chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư bởi
vì chúng có mối quan hệ mật thiết và gắn bó. Tổng kết lại, cũng giống như các nghiên cứu riêng lẻ về chậm
tiến độ hoặc vượt dự toán các dự án đầu tư, các nghiên cứu về chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư
đều xoay quanh các nhóm yếu tố chính như sau: nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư; nhóm yếu tố liên
quan đến nhà thầu; nhóm yếu tố liên quan đến tư vấn; nhóm yếu tố liên quan đến tài chính (của chủ đầu tư,
nhà thầu hoặc tư vấn) và các yếu tố ngoại vi.
1.6.4. Các nghiên cứu về yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công
Tổng quan nghiên cứu về dự án đầu tư công của các tác giả ngoài nước cho thấy, các nguyên nhân làm
chậm tiến độ và vượt dự toán dự án đầu tư công cũng tương tự như các nguyên nhân của các dự án khác.
Khác biệt lớn nhất chính là ảnh hưởng của các chính trị gia quyết định dự án đầu tư công với mục tiêu mang
lại lợi ích cho cử tri nơi họ ứng cử hơn là xem xét hiệu quả kinh tế của dự án. Việc thực hiện dự án công hay
tư tại các nước chỉ khác biệt về nguồn vốn thực hiện dự án, còn lại khuôn khổ pháp lý và kỹ thuật quản trị dự
án là tương tự. Do đó, các yếu tố dẫn đến chậm tiến độ và vượt dự toán dự án công và dự án tư tại các nước
2.2.
Mô hình nghiên cứu về tác động của chậm tiến độ và vượt dự toán đến thời gian hoàn thành và
giá trị quyết toán dự án đầu tư công
Để đánh giá tác động của chậm tiến độ và vượt dự toán đến tổng thể thời gian và chi phí của dự án
(bao gồm thời gian thực hiện thực tế và chi phí quyết toán thực tế), Usman, Gambo và Ibrahim (2014) đã đề
xuất mô hình thực nghiệm sau:
ATt = 1 + 2COt + 3TOt + t
(1)
ACt = 1 + 2COt + 3TOt + t
(2)
Với giả thuyết có sự khác nhau về thời gian và chi phí thực hiện dự án giữa nhóm dự án do cấp thành
phố quản lý với nhóm dự án do quận huyện quản lý, tác giả đề xuất bổ sung biến DECEN thể hiện cho cấp
quản lý dự án (cấp thành phố hoặc sở ngành và cấp quận huyện) ở mô hình sau:
ATt = 1 + 2COt + 3TOt + DECENt + t
(3)
ACt = 1 + 2COt + 3TOt + DECENt + t
(4)
DECEN: biến giả nhận giá trị 1 khi cấp quản lý dự án là cấp Quận huyện và 0 nếu cấp quản lý dự án là
cấp thành phố.
Tượng tự, để xem xét sự khác nhau (nếu có) của thời gian và chi phí thực hiện giữa các dự án thuộc
các nghiên cứu trước đó để xây dựng bảng khảo sát ban đầu
Trên cơ cở kết quả các nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên, sau khi thảo luận với các chuyên gia
trong lĩnh vực đầu tư công nhằm xác định sơ bộ các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến chậm tiến độ và vượt
dự toán dự án đầu tư công tại Việt Nam, tác giả bước đầu chọn ra 37 yếu tố, phân thành 05 nhóm chính sau:
- Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư
- Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu
- Nhóm yếu tố liên quan đến tư vấn
- Nhóm yếu tố ngoại vi
- Nhóm yếu tố pháp lý thiếu ổn định
Mô hình nghiên cứu sơ bộ
Dự án đầu tư công tại Việt Nam
Nhóm yếu tố liên quan
đến chủ đầu tư
Nhóm yếu tố liên quan
đến nhà thầu
Nhóm yếu tố liên quan
đến tư vấn
Nhóm yếu tố ngoại vi
Yếu tố pháp lý thiếu ổn
định
TÌNH
TRẠNG
VƯỢT
DỰ
TOÁN
VÀ
bỏ các biến có thông số nhỏ bằng cách kiểm tra các hệ số tải yếu tố (Factor loading) và các phương sai trích
được. Cuối cùng, đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên cứu thông qua hệ số KMO và chạy mô hình hồi
quy để kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng chỉ tiêu R2 hiệu chỉnh, phân phối chuẩn của phần dư, đa cộng
tuyến và tự tương quan.
10
CHƯƠNG 3
VẤN ĐỀ THỜI GIAN THỰC HIỆN VÀ CHI PHÍ ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG: NGHIÊN
CỨU TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1.
Giới thiệu chung
3.1.1. Cơ chế, chính sách và phân cấp quản lý dự án đầu tư công tại Việt Nam
Cơ chế, chính sách và phân cấp quản lý dự án đầu tư công tại Việt Nam khá phức tạp, bao gồm hệ
thống các Luật, Nghị định hướng dẫn Luật của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của các Bộ chuyên
ngành. Luật Đầu tư công quy định về quản lý sử dụng vốn đầu tư công. Luật Xây dựng quy định những nội
dung liên quan đến quá trình chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, quản lý hợp đồng và quản lý chất lượng công
trình của chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và nhà thầu. Luật Đấu thầu quy định về các hình thức đấu thầu, trình tự
thủ tục tổ chức đấu thầu các dự án đầu tư công. Luật Thuế giá trị gia tăng xác định nghĩa vụ nộp thuế của các
bên có liên quan.
3.1.2. Vấn đề lựa chọn chủ đầu tư của dự án công
Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay việc lựa chọn chủ đầu tư các dự án đầu tư công được phân nhóm
như sau:
- Nhóm chủ đầu tư chuyên nghiệp là các Ban Quản lý dự án chuyên nghiệp được giao làm chủ đầu tư
các dự án công, nhóm này phân cấp theo hai cấp: cấp thành phố và cấp quận huyện.
- Nhóm chủ đầu tư kiêm nhiệm: các đơn vị sự nghiệp công lập như đơn vị thuộc ngành y tế, giáo dục
được giao làm chủ đầu tư các dự án do đơn vị trực tiếp quản lý tài sản hình thành sau đầu tư. Đối với Ban
quản lý dự án kiêm nhiệm, trưởng ban thường là Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập
3.2.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
3.2.2.1. Kiểm định tương quan giữa các biến trong mô hình
Các biến
AC
CO
TO
DECEN
EDU_HEAL
AC
1,0000
CO
0,5951
1,0000
TO
0,4579
0,5143
-0,1226
-0,1602
-0,5154
TRANS
1,0000
3.2.2.2. Kết quả hồi quy
Biến
CO
Mô hình (1)
Mô hình (2)
Mô hình (3)
Mô hình (4)
Mô hình (5)
Mô hình (6)
(AT)a
(AC)b
1,1766***
1.959,085**
DECEN
-
-
5,092***
1.879,846
-
-
EDU_HEAL
-
-
-
3,44976**
-1.505,962
*
2
41,12%
46,75
46,25
46,93
45,4
46,82
2
R hiệu chỉnh
40,60
46,27
45,53
46,21
44,49
-
0,4292
-
0,0906
-
0,5302
0,4440
0,4733
0,4438
0,7439
0,6145
1,02
1,00
1,03
1,03
các chủ đầu tư chuyên nghiệp quản lý thường thời gian thực hiện trung bình ngắn hơn so với dự án của nhóm
khác. Kết quả này chứng minh tính đúng đắn của phân tích SWOT về chủ đầu tư chuyên nghiệp và chủ đầu
tư kiêm nhiệm.Từ đó, gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo là nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng
chậm tiến độ và vượt dự toán; tìm giải pháp khắc phục nhằm giảm đến mức thấp nhất tình trạng chậm tiến độ
và vượt dự toán, nâng cao hiệu quả đầu tư công.
13
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ GÂY CHẬM TIẾN ĐỘ VÀ VƯỢT DỰ TOÁN CÁC
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG TẠI VIỆT NAM
4.1.
Kết quả nghiên cứu định tính
Kết quả nghiên cứu định tính đã chỉ ra các nhóm yếu tố riêng có ảnh hưởng đến chậm tiến độ và vượt
dự toán dự án đầu tư công tại Việt Nam mà các chuyên gia đề nghị đưa vào thang đo trong nghiên cứu định
lượng là:
+ Các yếu tố liên quan đến chủ đầu tư.
+ Các yếu tố liên quan đến tư vấn.
+ Các yếu tố liên quan đến nhà thầu.
+ Các yếu tố liên quan trình tự thủ tục pháp lý phức tạp.
4.2.
Mô hình nghiên cứu chính thức
Tác động kỳ vọng của các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư
công được trình bày như bảng dưới đây:
STT
5
Nhóm yếu tố pháp lý thiếu ổn định
+
Xây dựng thang đo
Thang đo các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công sau khi đã điều chỉnh và
bổ sung dựa vào nghiên cứu định tính cho phù hợp với điều kiện tại Việt Nam.
Các nhóm yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công trong nghiên cứu này được
phân thành 05 nhóm: (i) Nhóm các yếu tố liên quan đến chủ đầu tư (CDT); (ii) Nhóm các yếu tố liên quan
đến nhà thầu (NT); (iii) Nhóm yếu tố liên quan đến tư vấn (TV); (iv) Nhóm yếu tố tác động ngoại vi (NV);
(v) Nhóm yếu tố pháp lý thiếu ổn định (PL). Các nhóm yếu tố này được đo lường bằng các yếu tố sau:
+ Nhóm các yếu tố liên quan đến chủ đầu tư (CDT) được đo lường bằng 10 biến quan sát, từ biến
quan sát có mã số CDT1 đến CDT10;
+ Nhóm các yếu tố liên quan đến nhà thầu (NT) được đo lường bằng 10 biến quan sát, từ biến quan
sát có mã số NT1 đến NT10;
+ Nhóm yếu tố liên quan đến tư vấn (TV) được đo lường bằng 08 biến quan sát, từ biến quan sát có
mã số TV1 đến TV8;
+ Nhóm yếu tố tác động ngoại vi (NV) được đo lường bằng 4 biến quan sát, từ biến quan sát có mã
số NV1 đến NV4;
+ Nhóm yếu tố pháp lý thiếu ổn định (PL) được đo lường bằng 5 biến quan sát, từ biến quan sát có
mã số PL1 đến PL5.
Thang đo các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công trong nghiên cứu này bao
gồm 05 thành phần và 37 biến quan sát. Thang đo được phát triển dưới hình thức thang đo đơn hướng Likert
năm bậc từ 1 đến 5. Các giá trị số được đánh giá bởi người trả lời bao gồm: “1 = Không ảnh hưởng; 2 = Hiếm
F2 (Yếu tố năng lực yếu kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư) đại diện cho các biến quan sát:
chủ đầu tư thay đổi ý kiến trong quá trình đầu tư; chủ đầu tư áp đặt thời gian thực hiện hợp đồng phi thực tế;
chủ đầu tư không có thưởng khuyến khích hoàn thành hợp đồng trước thời hạn; chủ đầu tư đặt giá mời thầu
theo hướng thấp; chủ đầu tư ký quá nhiều hợp đồng và hợp đồng phụ; chủ đầu tư kéo dài thời gian phê duyệt
dự toán hoặc dự toán phát sinh; năng lực của bộ phận được giao quản lý dự án; bộ máy tổ chức quản lý dự án
quan liêu.
F3 (Yếu tố ngoại vi tác động tiêu cực) đại diện cho các biến quan sát: giá cả vật liệu tăng ngoài tầm
kiểm soát; lạm phát; điều kiện địa chất, thủy văn không lường trước.
F4 (Yếu tố pháp lý thiếu ổn định) đại diện cho các biến quan sát: quy định pháp luật hay thay đổi;
cơ quan quản lý chậm ra quyết định; thủ tục pháp lý phức tạp.
F5 (Yếu tố khó khăn về tài chính) đại diện cho các biến quan sát: chủ đầu tư gặp khó khăn về
nguồn vốn đầu tư cho dự án; nhà thầu gặp khó khăn về tài chính, phụ thuộc chủ đầu tư.
Riêng các yếu tố TV1_Thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực được giao, PL2_Sai lầm và khác biệt trong
hợp đồng, NT7_Giá chào thầu theo xu hướng thấp: hệ số component thấp hơn hệ số chuẩn là 0,55 và tương
tự nhau ở các nhóm yếu tố khác nhau, do đó tác giả loại các biến này khi tiến hành nhóm biến ở phân tích
EFA và hồi quy.
4.7.
Kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính
4.7.1. Phân tích hồi quy
Mô hình hồi quy có dạng như sau:
Y = 1,123 + 0,316 F1 + 0,344 F2 + 0,093 F3 – 0,024 F4* + 0,214 F5 + Ԑ
15
Nhóm biến F1 đại diện cho yếu tố năng lực yếu kém trong thực hiện dự án của nhà thầu hoặc tư
vấn có hệ số hồi quy 1 là 0,316, đạt mức ý nghĩa thống kê 1%.
Nhóm biến F2 đại diện cho yếu tố năng lực yếu kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư có hệ số
độ công trình.
4.8.2. Năng lực yếu kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư
Các tác nhân cụ thể thuộc về chủ đầu tư làm chậm tiến độ và vượt dự toán được các chuyên gia chỉ ra
là: không am hiểu các quy định rất phức tạp của Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và các
Nghị định của Chính phủ; tổ chức bộ máy quan liêu, năng lực bộ phận quản lý dự án không tương xứng; có
xu hướng thích ký nhiều hợp đồng; đặt giá hợp đồng theo hướng thấp, áp đặt thời gian thực hiện hợp đồng
phi thực tế.
4.8.3. Yếu tố khó khăn về tài chính
Yếu tố khó khăn về tài chính qua nghiên cứu cho thấy được hình thành từ nguyên nhân thiếu ổn định
về tài chính và cung cách quản lý tài chính không ổn định của nhà thầu. Trong khi đó, chủ đầu tư cũng không
chủ động trong nguồn vốn thanh toán cho nhà thầu nên xảy ra hiện tượng chậm tiến độ. Việc thanh toán
không đúng hạn cũng dẫn đến vượt dự toán do yếu tố trượt giá hoặc phải thanh toán bổ sung cho nhà thầu
16
4.8.4. Yếu tố ngoại vi
Nhóm yếu tố ngoại vi làm chậm tiến độ và vượt dự toán gồm: lạm phát trong thời gian vừa vừa qua
nên Chính phủ liên tục điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu; giá cả nguyên liệu tăng cao ngoài tầm kiểm soát
của chủ đầu tư và nhà thầu.
4.8.5. So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trước đây
Khác với các nghiên cứu trước đây của thế giới và Việt Nam cho rằng “Quản lý dự án yếu kém và
thiếu giám sát” hoặc “Năng lực tài chính của nhà thầu” hoặc “Lập kế hoạch sai lầm” là nguyên nhân hàng
đầu gây chậm tiến độ và vượt dự toán. Nghiên cứu này chỉ ra rằng hai nguyên nhân lớn nhất thuộc về “Năng
lực yếu kém trong thực hiện dự án của nhà thầu hoặc tư vấn” và “Năng lực yếu kém trong quản lý dự án của
chủ đầu tư”. Đây là 02 nguyên nhân quan trọng gây chậm tiến độ và vượt dự toán, phát hiện này chính là cơ
sở để đề xuất giải pháp khắc phục.
Yếu tố ngoại vi như: giá cả vật liệu tăng ngoài tầm kiểm soát; lạm phát; điều kiện địa chất, thủy văn
không lường trước là một phát hiện mới của nghiên cứu. Mặc dù các yếu tố này đã được một số nghiên cứu
trên thế giới đề cập (Hong Kong (Lo, 2006), Ghana (Frimpong, 2003)) nhưng trong các nghiên cứu về chậm
tiến độ hoặc vượt dự toán của dự án đầu tư tại Việt Nam thì chưa được đề cập một cách hoàn chỉnh. Từ đó
17
Sai lầm của chủ đầu tư dẫn đến tăng dự toán: chủ đầu tư thay đổi thiết kế làm tăng dự toán (bổ sung
hạng mục xây dựng vỉa hè hai bên đường và hệ thống cống thoát nước.
Nhóm yếu tố ngoại vi:
Giá cả nguyên vật liệu tăng ngoài tầm kiểm soát của chủ đầu tư: Dự toán ban đầu duyệt giá vật liệu
vào tháng 10/2007. Do biến động giá nên trước khi đấu thầu phải điều chỉnh tăng theo giá nguyên vật liệu tại
thời điểm tháng 5/2009.
Lạm phát: Chính phủ đã có Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 nâng mức lương
tối thiểu của người lao động từ 800.000 đồng lên 980.000 đồng/tháng, áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm
2010. Hệ số chi phí nhân công, chi phí máy xây dựng trong dự toán cũng phải được điều chỉnh tăng tương
ứng.
Tóm lại, dự án Sửa chữa nâng cấp Đường Nguyễn Văn Bứa Hóc Môn là một điển hình dự án đầu tư
công bị chậm tiến độ và vượt dự toán.
4.9.2. Dự án 2- Dự án điển hình về vượt tiến độ và vượt dự toán
4.9.2.1. Mô tả dự án
Tên dự án: Dự án Cầu Rạch Chiếc (Giai đoạn 2)
Quy mô xây dựng: xây dựng nhánh cầu giữa rộng gồm 06 làn xe cơ giới.
Ngày 10 tháng 7 năm 2012, công trình hoàn thành giai đoạn 2, vượt tiến độ 05 tháng so với kế hoạch.
Giá trị quyết toán của công trình giai đoạn 2 là 475,198 tỷ đồng, vượt 84,099 tỷ đồng so với giá trúng thầu.
4.9.2.2. Phân tích nguyên nhân thành công hoàn thành vượt tiến độ
Khảo sát thực tế cho thấy dự án vượt tiến độ đề ra hoàn toàn do năng lực của chủ đầu tư; đồng thời
không có sai lầm thiếu sót lớn trong quá trình thực hiện dự án của nhà thầu hoặc tư vấn.
4.9.2.3. Phân tích nguyên nhân dẫn đến việc vượt dự toán của dự án
Qua khảo sát cho thấy việc vượt dự toán hoàn toàn bị tác động bởi nhóm yếu tố ngoại vi:
Chính phủ đã có Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 nâng mức lương tối thiểu
của người lao động từ 800.000 đồng lên 980.000 đồng/tháng áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Hệ số
chi phí nhân công, chi phí máy xây dựng trong dự toán cũng phải được điều chỉnh tăng tương ứng. Kết quả
dự toán của các dự án đầu tư công cũng phải được điều chỉnh. Dự án Cầu Rạch Chiếc cũng điều chỉnh dự
nghị cần có những quy định mang tính bắt buộc hoặc những giải pháp mang tính hỗ trợ giúp cho các chủ đầu
tư kiêm nhiệm có đủ kiến thức, kỹ năng quản lý tốt dự án đầu tư công.
Phần nghiên cứu định tính đã làm rõ được sự khác biệt giữa dự án đầu tư công tại Việt Nam và dự án
đầu tư công tại các nước trên thế giới. Thông qua việc phân tích hiện trạng quản lý và thực hiện dự án trong
bối cảnh pháp lý đặc thù tại Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố tương đồng và những yếu tố riêng
có tại Việt Nam dẫn đến chậm tiến độ và vượt dự toán. Những yếu tố chung tương tự như các nghiên cứu
trên thế giới là năng lực yếu kém của tư vấn và nhà thầu: thiếu kinh nghiệm trong lãnh vực được giao; sai
lầm trong thực thi nhiệm vụ; năng lực yếu kém của đội ngũ kỹ thuật và công nhân, thiếu sự phối hợp giữa
các bên trong quá trình thực hiện dự án… Những nhân tố riêng tại Việt Nam mà luận án đã chỉ ra là: chủ đầu
tư dự án đầu tư công được cấp thẩm quyền chỉ định cho từng dự án mà không xem xét đến kinh nghiệm năng
lực quản lý dự án; chủ đầu tư không được giao toàn quyền quyết định trong quá trình thực hiện dự án mà có
rất nhiều nội dung phải trình xin ý kiến các cấp có thẩm quyền; chủ đầu tư không được chủ động trong việc
bố trí nguồn vốn theo tiến độ thực hiện dự án mà phải phụ thuộc vào kế hoạch đầu tư hàng năm của ngân
sách; thiếu các biện pháp chế tài cho trường hợp để xảy ra chậm tiến độ và vượt dự toán. Một trong những
nguyên nhân làm chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án công - nhất là dự án ODA là do trình tự thủ tục
pháp lý về đầu tư xây dựng của Chính phủ Việt Nam khá phức tạp và khác biệt so với quy định chung của
các tổ chức tài trợ.
19
Chương 4 tiếp tục nghiên cứu về các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công
tại Việt Nam. Kết quả cho thấy các yếu tố có tác động theo thứ tự từ mạnh đến yếu là: Yếu tố năng lực yếu
kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư; yếu tố năng lực yếu kém trong thực hiện dự án của nhà thầu hoặc tư
vấn; yếu tố khó khăn tài chính của các bên; yếu tố ngoại vi tác động tiêu cực. Sau đó, tác giả đã thực hiện
kiểm định thực tiễn thông qua hai dự án tại thành phố Hồ Chí Minh. Kiểm định thực tiễn cho thấy các yếu tố
ảnh hưởng đến vượt dự toán và chậm tiến độ dự án đầu tư công tại Việt Nam là phù hợp với thực tiễn các dự
án đầu tư công tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, tác giả đã nhận diện và đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tình trạng chậm
tiến độ và vượt dự toán của các dự án đầu tư công tại Việt Nam. Hai yếu tố chính tác động mạnh đến tình
trạng chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công tại Việt Nam xuất phát từ chính năng lực quản lý
20
- Đối với các dự án mà chủ đầu tư thuê tư vấn chủ nhiệm điều hành dự án là đơn vị tư vấn chuyên
nghiệp, khi có sai phạm để phát sinh tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán đề nghị phạt bằng tiền trên cơ
sở lượng hóa giá trị thiệt hại, mức phạt không khống chế 12% giá trị hợp đồng như hiện nay.
5.2.2. Giải pháp đối với năng lực của tư vấn
Để bảo đảm chất lượng công tác tư vấn, giải pháp là chủ đầu tư phải tổ chức lựa chọn được tư vấn thật
sự có năng lực, kinh nghiệm phù hợp với từng loại dự án theo đúng quy định của Luật Đấu thầu. Để việc
đánh giá chính xác, minh bạch, đề xuất bổ sung quy định khi công trình hoàn thành, chủ đầu tư phải có văn
bản xác nhận về chất lượng của công tác tư vấn đối với đơn vị tư vấn và các cá nhân tham gia tư vấn cho dự
án. Các đơn vị tư vấn, cá nhân sẽ dùng các văn bản xác nhận này nộp vào hồ sơ dự thầu và được dùng làm cơ
sở chấm thầu.
Qua khảo sát và so sánh thấy rằng chi phí tư vấn theo quy định của Bộ Xây dựng thấp hơn so với mức
giá của các đơn vị tư vấn nước ngoài. Tuy nhiên, khi có sự cố xảy ra làm chậm tiến độ hoặc vượt dự toán thì
đơn vị tư vấn rất ít khi bị chủ đầu tư phạt. Nếu có mức phạt cũng không quá 12% giá trị hợp đồng. Mức phạt
này quá thấp, không đủ để ngăn ngừa và khắc phục sai sót của đơn vị tư vấn. Do đó, đề nghị Bộ Xây dựng
sửa đổi quy định theo hướng nâng cao mức phí cho công tác tư vấn (nhất là chi phí thiết kế, chi phí giám sát,
chi phí quản lý dự án); đồng thời có biện pháp chế tài nghiêm khắc các sai sót như phạt tiền hoặc thậm chí rút
chứng chỉ hành nghề tư vấn.
5.2.3. Giải pháp đối với năng lực của nhà thầu
Tương tự như giải pháp đối với đơn vị tư vấn, đề xuất Chính phủ ban hành những quy định chặt chẽ
nhằm kiểm tra năng lực kinh nghiệm của các nhà thầu. Để kiểm tra kinh nghiệm của nhà thầu, bên mời thầu
phải căn cứ vào xác nhận của chủ đầu tư các dự án trước đó mà nhà thầu tham gia. Văn bản xác nhận phải ghi
rõ về chất lượng, về tiến độ hoàn thành của các dự án nhà thầu đã thực hiện trước đó. Văn bản này làm cơ sở
để bên mở thầu chấm thầu và tổ chức xác minh tính đúng đắn, trung thực trước khi ký hợp đồng đối với nhà
thầu trúng thầu. Năng lực thực hiện dự án phải được thể hiện trên cơ sở các cam kết của nhà thầu về huy
động nhân công, xe máy tại hiện trường dự án.
Về chế tài, hợp đồng thi công cần có những chế tài việc vi phạm về tiến độ công trình. Theo đó, cần
phải quy định rõ về mức phạt khi hoàn thành chậm tiến độ do lỗi chủ quan của nhà thầu.
chủ đầu tư, tư vấn và nhà thầu. Vấn đề là các chủ đầu tư phải có đủ kỹ năng quản lý dự án để duyệt các phát
sinh do các yếu tố ngoại vi gây ra và qua đó khắc phục được tình trạng chậm tiến độ (nếu có).
Điểm đặc thù tại Việt Nam là các cơ quan quản lý nhà nước can thiệp sâu vào quá trình thực hiện dự
án. Còn rất nhiều nội dung mà chủ đầu tư phải xin ý kiến, phải trình các cơ quan quản lý nhà nước thẩm định
trước khi tự mình phê duyệt hay trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Sự phối hợp giải quyết nhanh của các cơ
quan quản lý nhà nước trong quá trình quản lý giám sát dự án đầu tư công sẽ là yếu tố quan trọng góp phần
thúc đẩy dự án hoàn thành đúng tiến độ và không vượt dự toán. Vì vậy, cần xây dựng bộ quy tắc ứng xử đạo
đức chung cho chủ đầu tư và các bên liên quan trong quản lý dự án. Bộ quy tắc này phải được xây dựng với
những quy định cụ thể rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, dễ kiểm soát, phân định rõ trách nhiệm, thời gian
giải quyết của từng cơ quan, đơn vị trong quản lý dự án đầu tư công.
Cần xây dựng bộ quy tắc ứng xử trong quản lý và thực hiện dự án công tại Việt Nam. Nội dung cơ bản
mà bộ quy tắc đạo đức đề ra cho từng cá nhân tham gia quản lý và thực hiện dự án đầu tư công là tính chuyên
nghiệp, tính trách nhiệm, tính tuân thủ và tính liêm khiết. Cụ thể:
+ Tính chuyên nghiệp đòi hỏi tất cả những người tham gia quản lý hay thực hiện dự án công phải thật
sự hiểu rõ công việc mình được giao, có đủ kiến thức chuyên môn để triển khai công việc một cách hiệu quả
và hoàn thành với thời gian ngắn nhất. Có tinh thần đồng đội phối hợp tốt với các cộng sự để hoàn thành
công việc.
+ Tính trách nhiệm đòi hỏi từng cá nhân phải tự nguyện thực hiện các nhiệm vụ và chịu trách nhiệm
về sự thành công hoặc thất bại về kết quả công việc của bản thân và những người thuộc quyền quản lý của
mình.
+ Tính tuân thủ là chuẩn mực yêu cầu tất cả những người tham gia quản lý thực hiện dự án đầu tư
công phải tuân thủ tất cả các quy định của pháp luật Việt Nam và Hiệp định tài trợ vốn ODA (nếu có).
+ Cuối cùng là tính liêm khiết với yêu cầu từng cá nhân không được lợi dụng vị trí, quyền hạn trong
quản lý hay thực hiện dự án để mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân.
5.2.6. Gợi ý về quản lý tiến độ, kiểm soát rủi ro:
Chủ đầu tư phải lập kế hoạch tiến độ cho từng dự án, từng cá nhân tham gia quản lý dự án phải lập tiến
độ công việc cho từng phần việc được giao. Mỗi công việc phải được lường ước các rủi ro phát sinh và dự
phòng hướng xử lý. Đề xuất chọn phương pháp sơ đồ CPM (Critical Path Method) cho những dự án đơn
giản, ngắn hạn và chọn phương pháp lập kế hoạch theo biểu đồ chu kỳ LSM (Linear Scheduling Method) cho
in Ho Chi Minh City. Economic Development Review, ISSN1859-1116, No 178, p.16 – 20.
2.Vũ Quang Lãm, 2015. Các yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán các dự án đầu tư công tại Việt
Nam. Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 23 (33), trang 24 – 31.
3.Vũ Quang Lãm, 2015. Phân tích thời gian và chi phí của các dự án đầu tư công trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, số 113 (Tháng 8/2015), trang 27 – 34.
4.Sử Đình Thành (CB), Bùi Thị Mai Hoài, Diệp Gia Luật, Bùi Thành Trung, Bùi Duy Tùng, Vũ Quang
Lãm, Võ Quốc Trường, Hoàng Trần Trâm Anh, 2015. Xây dựng cơ chế hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế.
Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế TP.HCM.