TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN THỊ HUỲNH NGA
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LƢỢNG
TIỀN TIẾT KIỆM CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN
TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Quản trị kinh doanh Thƣơng mại
Mã số ngành: 52340121 Tháng 11 – 2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Tháng 11 - 2013
i
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến cha mẹ với những vất vả
và hy sinh để tôi đƣợc học tập và có đƣợc những điều tốt đẹp nhƣ ngày hôm
nay. Kế đến, xin đƣợc gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong khoa Kinh
tế và Quản trị kinh doanh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức
hữu ích cho tôi trong suốt bốn năm học qua. Lời cảm ơn chân thành nhất tôi
xin đƣợc gửi đến thầy Lê Khƣơng Ninh ngƣời đã tạo cơ hội và trực tiếp hƣớng
dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú cán bộ tại địa phƣơng và phòng thống
kê huyện Tam Bình đã hỗ trợ tôi trong việc tìm kiếm tài liệu. Cuối cùng, tôi
xin gửi lời cảm ơn thân thƣơng đến anh, chị và tất cả bạn bè đã giúp đỡ và
động viên tinh thần tôi vƣợt qua những lúc khó khăn nhất.
Xin chúc tất cả mọi ngƣời sức khỏe, luôn có nhiều niềm vui trong cuộc
sống và nhiều thành tích tốt trong công việc!
Cần thơ, ngày…tháng…năm 2013
Sinh viên thực hiện
iii
MỤC LỤC
Trang
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3.1.2.2 Văn hóa xã hội 17
3.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG 17
3.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 17
3.2.1.1 Vị trí địa lý 17
3.2.1.2 Điều kiện tự nhiên 17
3.2.2 Kinh tế xã hội 18
3.2.2.1 Dân số và lao động 18
3.2.2.2 Văn hóa xã hội 19
3.2.2.3 Tình hình kinh tế 20
CHƢƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LƢỢNG
TIỀN TIẾT KIỆM CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH
LONG 24
4.1 MÔ TẢ KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA NÔNG HỘ HUYỆN TAM
BÌNH TỈNH VĨNH LONG 24
4.1.1 Các đặc điểm về nhân khẩu học của nông hộ 24
4.1.2 Tình hình thu nhập và tiết kiệm của nông hộ 27
4.1.2.1 Số hoạt động tạo thu nhập của nông hộ 27
4.1.2.2 Cơ cấu thu nhập của nông hộ 28
4.1.2.3 Các yếu tố tài chính và diện tích đất của nông hộ 29
4.1.2.4 Chi phí sản xuất của nông hộ 30
4.1.2.5 Những thông tin hỗ trợ sản xuất 31
4.1.2.6 Tình hình tiết kiệm của nông hộ 32
4.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LƢỢNG TIỀN TIẾT
KIỆM CỦA NÔNG HỘ 35
4.3 GIẢI PHÁP 38
4.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 38 v
vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Diễn giải các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu 11
Bảng 3.1 Cơ cấu dân số theo từng tiêu chí năm 2012 18
Bảng 3.2 Dân số và lao động huyện Tam Bình năm 2010-2012 19
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu đạt đƣợc trong sản xuất nông nghiệp
huyện Tam Bình năm 2010-2012 21
Bảng 3.4 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
năm 2010-2012 23
Bảng 4.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của nông hộ 24
Bảng 4.2 Một số đặc điểm nhân khẩu học khác của nông hộ 25
Bảng 4.3 Các yếu tố tiện nghi của nông hộ 27
Bảng 4.4 Số hoạt động tạo thu nhập của nông hộ năm 2012 28
Bảng 4.5 Các yếu tố tài chính và diện tích đất của nông hộ năm 2012 30
Bảng 4.6 Những thông tin nông hộ đƣợc hỗ trợ trong sản xuất 32
Bảng 4.7 Lƣợng tiền tiết kiệm của nông hộ năm 2011-2012 33
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy 35
viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
KH&CN : Khoa học và công nghệ
thế, “tiết kiệm (cùng với tích lũy các tài sản khác) đóng vai trò nhƣ một tấm
đệm quan trọng chống lại các cú sốc về thu nhập, đặc biệt đối với những nơi
mà việc tiếp cận tín dụng là rất khó khăn (Deaton, 1991; 1992)” (Newman,
Tarp and Luu Duc Khai, 2012).
Theo báo cáo nghiên cứu “Bức tranh nông thôn, nông dân Việt Nam nhìn
từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình” do Viện Chính sách và Chiến
lƣợc phát triển nông thôn Việt Nam (Ipsard) thực hiện hai năm một lần từ
2006 đến nay trên 12 tỉnh của cả 3 miền về đời sống của 3.000 hộ nông dân
công bố thì có đến 42% nông dân cho rằng họ không hài lòng với cuộc sống
hiện tại của mình. Số tiền tích lũy đƣợc hàng năm của hộ gia đình nông thôn
chỉ khoảng 5-8 triệu đồng/hộ/năm, chiếm từ 10-15% thu nhập của hộ, phòng
khi có rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tuổi già. Rất ít tiết kiệm đƣợc giữ
cho mục đích đầu tƣ. Kết quả trên đã phần nào nói lên đời sống khó khăn, một
mức tỷ lệ tiết kiệm vẫn còn rất thấp, cũng nhƣ sự hạn chế trong việc đóng góp
vào nền kinh tế địa phƣơng và cả nƣớc nói chung của các hộ gia đình nông
thôn Việt Nam hiện nay.
Từ thực tế đó, đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng tiền tiết kiệm
của nông hộ ở huyện Tam Bình tỉnh Vĩnh Long” là thiết thực, nhằm tìm ra
các yếu tố ảnh hƣởng đến lƣợng tiền tiết kiệm và giải pháp để nâng cao mức
2
tiết kiệm của nông hộ cũng nhƣ mức đóng góp vào sự tăng trƣởng của kinh tế
địa phƣơng và cả nƣớc.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến lƣợng
tiền tiết kiệm của nông hộ ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu chung, đề tài có các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
3
CHƢƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm tiết kiệm
Phân tích kinh tế, đối với các nhà cổ điển và Marx, tiết kiệm chủ yếu là
hành động của những ngƣời có của (trƣớc hết là những nhà tƣ bản), nó gần
nhƣ đồng nhất với thặng dƣ mà xã hội tạo ra, đƣợc tích lũy trong một viễn
cảnh tái sản xuất mở rộng.
Đối với các nhà tân cổ điển, tiết kiệm trƣớc hết là kết quả của một quyết
định cá thể, hệ quả của việc lực chọn giữa tiêu dùng hôm nay và tiêu dùng
ngày mai, một lựa chọn tùy thuộc vào sở thích của ngƣời lấy quyết định này
nhƣng cũng còn phụ thuộc vào lãi suất, đƣợc quan niệm nhƣ một “tiền thƣởng
cho sự kiên nhịn”. Đối với Keynes, tiết kiệm chủ yếu là một số dƣ, cái còn lại
sau tiêu dùng của mỗi thời kì (Từ điển phân tích kinh tế (Guerrien, 2002),
Nguyễn Đôn Phƣớc (dịch), 2007).
Tiết kiệm của hộ nông dân đƣợc hiểu là phần thu nhập còn lại sau khi đã
trừ chi phí sản xuất, nộp thuế cho chính phủ, chi tiêu dùng, đầu tƣ mở rộng sản
xuất, tiền thuê đất,… Tiết kiệm thƣờng tích lũy dƣới nhiều hình thức: tiền mặt,
vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ. Trong những điều kiện nhất định tiết kiệm còn có
thể xem nhƣ là khoảng dự phòng khi có chuyện cần thiết lấy ra sử dụng: ốm
đau, cƣới xin.
Tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi của hộ nông dân nếu khoản tiền đó
không đƣợc đem đi đầu tƣ hoặc sử dụng thì nó đƣợc coi nhƣ khoản tài chính
chết, tài chính chết là khoản tài chính không đem lại giá trị gia tăng cho ngƣời
chủ sở hữu nó, nhƣng nếu khoản tài chính đó đƣợc đem đi đầu tƣ, sử dụng một
cách hợp lý thì nó sẽ góp phần gia tăng thu nhập. Do đó, những biến động
Theo Lê Đình Thắng (1993), tại các nƣớc đang phát triển nói chung và
nƣớc ta nói riêng, đặc trƣng bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành viên
trong nông hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản
thân gia đình mình. Tính tự chủ trong kinh tế nông hộ đƣợc thể hiện ở những
đặc điểm sau:
- Hộ gia đình là đơn vị sản xuất cá thể mang nặng tính tự cấp, tự túc, tỷ
trọng hàng hóa sản xuất ra thƣờng không lớn.
- Trình độ sản xuất, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật chƣa cao.
- Sản xuất hộ nông dân thƣờng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, rủi ro
cao, sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất theo thời vụ.
- Hộ sản xuất hầu hết đều là ngƣời nông dân hiền lành, chịu khó làm ăn,
nhìn chung có tín nhiệm trong cộng đồng làng xã, đặc biệt là trong việc thực
hiện nghĩa vụ với nhà nƣớc.
- Về quan hệ tín dụng với ngân hàng, các hộ phần lớn đều có ý thức vay,
trả tƣơng đối sòng phẳng.
- Trong trƣờng hợp gặp thiên tai bất khả kháng, mùa màng thất bát, hộ
sản xuất thƣờng không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, ý thức hoàn trả nợ để
duy trì tín nhiệm trong cộng đồng làng xã thƣờng rất cao. Nếu vụ sản xuất sau
có thu hoạch, họ sẵn sàng hoàn trả nợ cũ cho ngân hàng.
5
2.1.2 Lƣợc khảo tài liệu
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đƣợc thực hiện với nhiều
phƣơng pháp khác nhau nhằm xác định nhân tố ảnh hƣởng đến tiết kiệm. Do
còn nhiều hạn chế trong việc tìm kiếm tài liệu nên tác giả chỉ liệt kê một vài
nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Ghafoor et al. (2010) đã thực hiện nghiên cứu “Factors affecting income
and saving of small farming households in Sargodha district of the Punjab,
Pakistan” để khám phá những tác động của các biến mà trực tiếp hoặc gián
6
ngƣời tham gia phối mẫu (vợ hoặc chồng tích cực tham gia vào các hoạt động
kinh tế), tổng tỷ lệ phụ thuộc, tổng thu nhập của hộ gia đình, quy mô diện tích
đất sở hữu có mối quan hệ trực tiếp đáng kể với tiết kiệm hộ gia đình. Giáo
dục của chủ hộ, chi phí giáo dục cho trẻ em, quy mô gia đình, nợ phải trả, tình
trạng hôn nhân và giá trị của ngôi nhà làm giảm đáng kể mức độ tiết kiệm của
hộ gia đình.
Tác giả Chhoedup (2013) đã thực hiện nghiên cứu “Analyzing Household
Saving determinants in Bhutan” nhằm để kiểm tra các yếu tố quyết định tiết
kiệm trong các hộ gia đình ở Bhutan. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy
theo phƣơng pháp ƣớc lƣợng bình phƣơng bé nhất từ dữ liệu đƣợc thu thập
thông qua một cuộc khảo sát 404 hộ gia đình để phân tích các yếu tố quyết
định tiết kiệm của các hộ gia đình ở Bhutan. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu
nhập hộ gia đình và tuổi của chủ hộ là những yếu tố làm tăng đáng kể tiết
kiệm hộ gia đình, trong khi đó quy mô gia đình, phụ thuộc, nợ phải trả, nơi cƣ
trú là các yếu tố làm giảm tiết kiệm hộ gia đình. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho
thấy tỷ lệ nghỉ hƣơu và giáo dục trẻ em là cao nhất giữa các hộ gia đình cho
thấy động cơ liên quan đến tiết kiệm chu kỳ là mạnh mẽ hơn trong trƣờng hợp
của Bhutan.
Các tác giả Newman, Tarp, Broeck, Chu Tien Quang và Luu Duc Khai
(2006) nghiên cứu“Household Savings in Vietnam: Insights from a 2006
Rural Household Survey” mục đích của bài viết này là nhằm thông tin về tình
hình tiết kiệm của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam và các yếu tố quyết
định tiết kiệm hộ gia đình với sự quan tâm đặc biệt trong các tác động có thể
của hành vi tiết kiệm mạng lƣới trên hành vi tiết kiệm hộ gia đình. Kết quả của
cuộc khảo sát từ 2.324 hộ gia đình đƣợc thực hiện từ tháng 8 và tháng 9 năm
2006 tại 12 tỉnh trong các vùng khác nhau của Việt Nam cho thấy thu nhập là
một yếu tố tích cực quan trọng trong việc xác định mức độ tiết kiệm hộ gia
dùng và đo đó, càng có nhiều phân bổ ngân sách hộ gia đình theo hƣớng tiêu
thụ chi tiêu dẫn đến giảm tiết kiệm.
Nghiên cứu “Franco Modigliani and the Life Cycle Theory of
Consumption” của Deaton (2005) thì xu hƣớng trung bình tiêu thụ cao hơn và
tại cùng một xu hƣớng tiết kiệm thấp trong các hộ gia đình trẻ và già. Ngƣời
trung niên có xu hƣớng có cao hơn thu nhập với khuynh hƣớng thấp hơn để
tiêu thụ và khuynh hƣớng cao hơn để tiết kiệm.
Nguyễn Thị Bảo Châu và Nguyễn Thị Thúy An (2013) nhằm xác định
các nhân tố ảnh hƣởng đến lƣợng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tam Bình. Với số liệu đƣợc
thu thập từ 150 khách hàng bằng phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
và mô hình hồi quy Tobit đƣợc sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hƣởng
đến lƣợng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
lƣợng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng chịu tác động bởi các nhân tố: thu
nhập, chi tiêu, quen nhân viên ngân hàng và số ngƣời tạo thu nhập trong gia
đình.
Nhận xét: Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các yếu
tố ảnh hƣởng đến lƣợng tiền tiết kiệm trên các đối tƣợng khác nhau nhƣ:
ngƣời tiêu dùng, nông dân,… và mỗi nghiên cứu đều có những mục đích, quan
điểm khác nhau. Bằng nhiều phƣơng pháp ƣớc lƣợng và phân tích các nghiên
cứu đã cho thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến lƣợng tiền tiết kiệm nhƣ:
8
thu nhập, chi tiêu, chi phí sản xuất, nợ phải trả, quy mô gia đình, số ngƣời phụ
thuộc, diện tích đất canh tác, tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ,…
2.1.3 Cơ sở lý thuyết và mô hình các yếu tố ảnh hƣởng đến lƣợng
tiền tiết kiệm của nông hộ
2.1.3.1 Cơ sở lý thuyết
Thông qua lƣợc khảo tài liệu cho thấy, vấn đề về các yếu tố ảnh hƣởng
cứu của Chhoedup (2013) cũng chỉ ra rằng quy mô gia đình làm giảm đáng kể
9
đến lƣợng tiền tiết kiệm. Hộ gia đình có thành viên ít có khả năng tiết kiệm
nhiều hơn (Popovici, 2012).
Số ngƣời phụ thuộc: Số ngƣời phụ thuộc là số thành viên không có khả
năng tạo ra thu nhập trong gia đình. Một sự gia tăng trong tỷ lệ phụ thuộc là
ràng buộc để gây ra một sự suy giảm trong tiết kiệm, trong khi một sự suy
giảm trong tỷ lệ phụ thuộc sẽ dẫn đến sự gia tăng tiết kiệm. Một tỷ lệ phụ
thuộc cao hơn có nghĩa là một gánh nặng lớn hơn cho tiêu dùng và đo đó, càng
có nhiều phân bổ ngân sách hộ gia đình theo hƣớng tiêu thụ chi tiêu dẫn đến
giảm tiết kiệm (Kibet et al., 2009).
Diện tích đất: Tổng diện tích đất canh tác mà nông hộ sở hữu. Diện tích
đất canh tác nhiều sẽ giúp nông hộ sản xuất trên quy mô lớn tiết giảm đƣợc chi
phí. Các hộ gia đình có diện tích đất nhiều có thể tiết kiệm đƣợc nhiều hơn so
với các hộ gia đình có diện tích đất ít hơn (Rehman, Faridi và Bashir, 2010).
Tuổi: Tuổi đƣợc coi là một yếu tố quan trọng trong việc hiển thị các tính
năng của nhân cách. Một ngƣời trƣởng thành thì sẽ có sự thông minh trong
việc lập kế hoạch về cuộc sống, làm tăng ý định tiết kiệm của họ nhiều hơn
(Ghafoor et al., 2010). Theo Deaton (2005) thì ngƣời trung niên có xu hƣớng
có cao hơn thu nhập với khuynh hƣớng thấp hơn để tiêu thụ và khuynh hƣớng
cao hơn để tiết kiệm.
Trình độ học vấn: Rehman, Faridi và Bashir (2010) cho rằng chủ hộ gia
đình có học vấn thƣờng tiết kiệm ít hơn, chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục con
em mình và muốn học cao hơn. Bằng cách này, họ chi tiêu nhiều hơn và ít tiết
kiệm hơn. Còn theo Ghafoor et al. (2010) một ngƣời nông dân có trình độ thì
có nhiều khả năng sử dụng các kỹ thuật ngân sách khác nhau do đó tiết kiệm
nhiều hơn.
Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là số tiền mà nông hộ đầu tƣ vào sản
TUOI
+ β
4
SONGUOIPHUTHUOC + β
5
HOCVAN
+ β
6
QUYMOGIADINH + β
7
DIENTICH
+ β
8
NOPHAITRA + β
9
CHIPHISX+ ε
Trong đó: LUONGTIEN là biến phụ thuộc đo lƣờng lƣợng tiền tiết kiệm
của nông hộ (triệu đồng/năm), ε là sai số của mô hình và các biến độc lập
đƣợc diễn giải nhƣ sau:
Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
Biến số Diễn giải Kỳ vọng
THUNHAP
Tổng thu nhập trong năm của hộ
(triệu đồng/năm)
+
CHITIEU
Tổng chi tiêu dùng trong năm của
hộ (triệu đồng/năm)
-
TUOI
11
2.2 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phƣơng pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp đƣợc thu thập từ, Cục thống kê tỉnh Vĩnh Long, Niên
giám Thống kê huyện Tam Bình, trang thông tin điện tử huyện Tam Bình,
thông tin từ các báo, tạp chí và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Số liệu sơ cấp trong đề tài đƣợc thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp
các hộ gia đình có hoạt động sản xuất nông nghiệp ở huyện Tam Bình tỉnh
Vĩnh Long bằng phƣơng pháp ngẫu nhiên phân tầng. Cụ thể, chọn ngẫu nhiên
5 xã trong 17 xã, thị trấn của huyện, trong mỗi xã tiến hành chọn ngẫu nhiên
ra 3 ấp và tiếp theo ở mỗi ấp chọn ngẫu nhiên các hộ với tổng số là 102 nông
hộ để tiến hành phỏng vấn bằng bảng câu hỏi đƣợc soạn sẵn.
2.2.2 Phƣơng pháp phân tích số liệu
Từ số liệu thu thập đƣợc, nghiên cứu xử lý và phân tích các số liệu nhƣ
sau:
- Đối với mục tiêu 1: Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả
để mô tả đặc điểm và tình hình tiết kiệm của các nông hộ trong huyện Tam
Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đối với mục tiêu 2: Nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit để phân tích
các yếu tố ảnh hƣởng đến lƣợng tiền tiết kiệm của nông hộ.
- Đối với mục tiêu 3: Dựa vào kết quả phân tích ở mục tiêu 1 và mục
tiêu 2 để đƣa ra giải pháp cho nghiên cứu.
Phƣơng pháp thống kê mô tả: Thống kê mô tả là tập hợp các
phƣơng pháp đo lƣờng, tóm tắt, trình bày dữ liệu và mô tả các
đặc trƣng của đối tƣợng nghiên cứu dựa trên những dữ liệu thu
thập đƣợc. Dữ liệu thống kê thƣờng đƣợc trình bày dƣới dạng
bảng thống kê và đồ thị.
y
12
CHƢƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH VĨNH LONG
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở khu vực trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự
nhiên 1.479,128 km
2
, Vĩnh Long cách Thành phố Hồ Chí Minh 136 km về
phía Đông Bắc và thành phố Cần Thơ 40 km về phía Nam.
Tỉnh Vĩnh Long có tọa độ địa lý từ 9
o
52' 45" đến 10
o
19' 50" vĩ độ Bắc
và từ 104
o
41' 25" đến 106
o
17' 00" kinh độ Đông, phía Bắc và Đông Bắc giáp
tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, phía Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây
Nam giáp tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ, phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng
Tháp.
Theo thống kê, hiện tỉnh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành
phố, 1 thị xã và 6 huyện. Trong đó có 5 thị trấn, 10 phƣờng và 94 xã.
1.400 - 1.500 mm/năm, trong đó vào mùa khô là 116 - 179 mm/tháng. Mùa
nƣa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9 dƣơng lịch chiếm 90% lƣợng
mƣa của năm, lƣợng mƣa trung bình đạt 1.450 - 1.504 mm/năm, số ngày mƣa
bình quân 100 - 115 ngày/năm.
Thổ nhƣỡng: Tuy có diện tích đất phèn lớn, tầng sinh phèn ở rất sâu, tỉ lệ
phèn ít, song đất có chất lƣợng cao, màu mỡ vào bậc nhất so với các tỉnh trong
vùng. Đặc biệt, tỉnh có hàng vạn ha đất phù sa ngọt ven sông Tiền và sông
Hậu, đất tốt, độ phì nhiêu cao, trồng đƣợc hai vụ lúa trở lên, cho năng suất
cao, sinh khối lớn lại thuận lợi về giao thông kể cả thuỷ và bộ. Hơn nữa, Vĩnh
Long còn có lƣợng cát sông và đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào, cát
dƣới lòng sông với trữ lƣợng khoảng 100 - 150 m
3
, đây đƣợc xem là nguồn
thu có ƣu thế lớn nhất của Vĩnh Long một tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng
sản cả số lƣợng lẫn chất lƣợng so với các tỉnh trong vùng về giao lƣu kinh tế
và phát triển thƣơng mại - du lịch.
3.1.2 Kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình kinh tế
Theo báo cáo năm 2012, tăng trƣởng kinh tế của tỉnh đạt thấp so với mục
tiêu cả năm 3,18 điểm % và thấp hơn tốc độ tăng trƣởng của năm trƣớc 2,20
điểm %, tuy nhiên vẫn duy trì ở mức tăng trƣởng khá. Tổng sản phẩm trên địa
bàn tỉnh ƣớc đạt 9.255 tỷ đồng, tăng 7,82% so năm 2011 và tăng đều trên cả 3
khu vực: Nông - lâm - thủy sản tăng 3,55%, công nghiệp - xây dựng tăng
13,45%, dịch vụ tăng 7,93%, GDP bình quân đầu ngƣời ƣớc đạt 31,82 triệu
đồng.
Về nông nghiệp và thủy sản: Mặc dù bị ảnh hƣởng dịch bệnh, giá tiêu
thụ sản phẩm thấp, nhƣng sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục có sự tăng
trƣởng so với năm trƣớc. Ƣớc giá trị sản xuất toàn ngành nông lâm nghiệp và
thủy sản năm 2012 đạt 6.552 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ, trong đó
nông nghiệp tăng 3,35%, thủy sản tăng 1,48%.
doanh và hỗ trợ thị trƣờng theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của
Chính phủ. Kết quả, lãi suất huy động và cho vay giảm (4 – 6%); dƣ nợ cho
vay lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn chiếm 48,66% tổng dƣ nợ,
tăng so với cùng kỳ năm trƣớc 18,8% và cao hơn tốc độ tăng trƣởng tín dụng
chung toàn địa bàn.
Theo thống kê của tỉnh, kinh tế Vĩnh Long trong 6 tháng đầu năm 2013
tăng trƣởng chậm hơn nhiều năm trƣớc, ƣớc tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh
(GDP) tăng 5,26% so với cùng kỳ năm trƣớc. Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy
sản ƣớc giảm 0,76% so với cùng kỳ, trong đó nông nghiệp giảm 0,55%, thủy sản
giảm 1,92% và đây đƣợc nhận định là kỳ đầu tiên giá trị sản xuất nông nghiệp,
thủy sản giảm. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,36% so cùng kỳ
năm 2012. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ƣớc
14.016 tỷ đồng, tăng 13,35% so cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu ƣớc đạt 139,7
triệu USD, đạt 34,07% kế hoạch và giảm 25,85% so cùng kỳ. 15
3.1.2.2 Xã hội
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Vĩnh Long đạt gần 1028,6 nghìn
ngƣời và mật độ dân số đạt 687 ngƣời/km². Hoạt động khoa học công nghệ
tiếp tục đƣợc quan tâm đầu tƣ, trong năm tỉnh đã ban hành các quyết định
thành lập Ban điều hành Dự án “Nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm,
hàng hóa của doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011-2015; Phê duyệt
danh mục nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đợt 1 năm 2012-2013
cho 12 đề tài. Bên cạnh đó, các hạt động về y tế, giáo dục, văn hóa và thể
thao, cũng luôn đƣợc chú trọng quan tâm và đầu tƣ.
3.2 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG
3.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
3.2.1.1 Vị trí địa lý