D
Văn kiện Chương trình
Banr Ccuối cùng
Thích ứng và Giảm nhẹ Biến đổi Khí hậu
Việt Nam
Tháng 7, 2008
Bộ Tài nguyên và Môi trường, BTNMT
Bộ Công Thương, BCT
Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam
Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre
Bộ Ngoại giao Đan Mạch,
Danida
Thông tin cơ bản
Quốc gia Việt Nam
Tên chương trình Thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Cơ quan quốc gia Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT)
Bộ Công Thương (BCT)
Thời điểm bắt
đầu
1 Tháng 1, 2009
Thời gian thực
hiện
5 năm
(triệu DKK) 2009-2013
Chương trình
Thích ứng với
Giảm nhẹ BĐKH Đóng góp của Danida
CPVN Khác Tổng
Hợp phần /
lĩnh vực
i
Tóm tắt chung
Bối cảnh và chiến lược Chương trình
Sau hơn một thập kỷ phát triển kinh tế ấn tượng, Việt Nam đang đặt ưu tiên ngày
càng cao hơn đến môi trường và phát triển bền vững. Đan Mạch với vị trí là một
trong các quốc gia hàng đầu về công nghệ và bảo vệ môi trường là một trong các đối
tác quốc tế chính của Việt Nam trong lĩnh vực này. Cùng lúc phải đối mặt với những
thách thức môi trường nghiêm trọng, Việt Nam cũng là một trong năm quốc gia được
dự báo là sẽ phải chịu ảnh hưởng lớn nhất từ biến đổi khí hậu và Việt Nam cũng đã
bắt đầu xem xét làm thế nào để thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu một cách
hiệu quả nhất. Từ các ưu tiên đang nảy sinh này, vào giữa năm 2007, Việt Nam và
Đan Mạch đã quyết định tăng cường sự hợp tác đã được thiết lập trong biến đổi khí
hậu. Một đợt công tác để xác định vấn đề đã được tiến hành vào tháng 9 năm 2007
để đưa ra ý tưởng chung cho hợp tác trong các lĩnh vực này. Từ kết quả của đợt công
tác này, một bản thảo ý tưởng đã được viết trong đó đề xuất hỗ trợ cho 3 chương
trình quốc gia hiện có trong thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ biến đổi khí hạu
và kiểm soát ô nhiễm. Với các kết quả này, sau đó đã hình thành kế hoạch hỗ trợ
cho 2 chương trình quốc gia trong lĩnh vực Thích ứng với Biến đổi Khí hậu (CCA) và
Giảm nhẹ Biến đổi Khí hậu (CCM) được trình bày như sau.
Bản tóm tắt ý tưởng này vạch ra một chương trình hợp tác dự kiến kéo dài 5 năm bắt
đầu từ đầu năm 2009 đến năm 2013 với tổng ngân sách 200 triệu DKK. Một nhóm
công tác do Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT) chủ trì gồm thành viên là cán bộ
từ tất cả các cơ quan thi hành và cơ quan chủ trì với sự hỗ trợ của các tư vấn sẽ họp
khoảng 9 lần trong thời gian 6 tháng để xây dựng một chương trình hợp tác linh
hoạt. Khung ngành quốc gia (NSF) đã được đánh giá kỹ càng để chương trình có thể
hài hòa tối đa với hệ thống quốc gia.
Một trong các nhận định chính sau khi có đánh giá NSF cho thấy là khung ngành
quốc gia trong vấn đề biến đổi khí hậu vẫn còn đang trong giai đoạn hình thành: tuy
nhiên những diễn biến gần đây cho thấy NSF đã được cải thiện đáng kể do Chương
trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu đã được xây dựng và cơ sở để
báo cáo và giám sát sẽ tuân thủ các hệ thống quốc gia
4. Sẽ tập trung một cách cân đối giữa thực hiện hỗ trợ vật chất kỹ thuật và tăng
cường năng lực và giữa hỗ trợ các cơ quan trung ương và cơ quan cấp tỉnh
5. Vì vốn khá hạn chế nên sẽ tập trung vào một số ít tỉnh để thực hiện các mô hình
trình diễn.
6. Tài trợ cho việc thực hiện và xây dựng năng lực phần lớn sẽ thực hiện trên cơ sở
đồng tài trợ.
7. Các tỉnh trong chương trình Thích ứng với BĐKH sẽ có tính đại diện cho vùng
đồng bằng sông Cửu Long (Bến Tre) và vùng ven biển miền Trung (Quảng Nam)
và sẽ thực hiện trên cơ sở hợp tác đã có giữa Danida và các tỉnh.
Dựa trên kết quả của các chiến lược và thảo luận với các đối tác quốc gia chủ yếu từ
giai đoạn xác định cho đến giai đoạn hình thành, một chương trình hợp tác đã được
hình thành để hỗ trợ cho 2 chương trình quốc gia trong khuôn khổ 2 hợp phần: i)
thích ứng với biến đổi khí hậu và ii) giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
Mục tiêu và các hợp phần
“Phát triển kinh tế và xã hội và giảm nghèo ở Việt Nam có tính bền vững hơn thông
qua tăng cường năng lực quốc gia được tăng cường để veef thích ứng với biến đổi khí
hậu và tăng cường các nỗ lực giảm nhẹ”
Mục tiêu này có cơ sở (được cải biên) từ Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ Môi trường
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”, “Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng
phó với Biến đổi Khí hậu, 2008” và “Chương trình Sử dụng Năng lượng Tiết kiệm và
Hiệu quả tầm nhìn 2006”.
Hợp phần đầu tiên sẽ hỗ trợ việc thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó
với Biến đổi Khí hậu (CTMTQG-UPVBĐKH) trên phương diện chung và cụ thể tại 2
tỉnh dễ bị tổn thương là Bến Tre và Quảng Nam. Mục tiêu chủa CTMTQG-UPVBĐKH là
thích ứng với biến đổi khí hậu và do đó hợp phần sẽ tập trung vào mục tiêu này. Cơ
quan chủ trì của CTMTQG-UPVBĐKH là Bộ Tài nguyên Môi trường (BTNMT). Hợp phần
có tên là Thích ứng với Biến đổi Khí hậu –Chương trình Mục tiêu Quốc gia (CCA-NTP).
Hợp phần thứ hai sẽ hỗ trợ giảm nhẹ biến đổi khí hậu thông qua Chương trình Sử
dụng Năng lượng Tiết kiệm và Hiệu quả Việt Nam (CCM – VNEEP), cơ quan chủ trì là
Chương trình
Sử dụng
Năng lượng
Tiết kiệm và
Hiệu quả
Việt Nam
• Hoàn tất khung ngành quốc gia về Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả
Năng lượng (EEC)
• Tăng cường nhận thức chung vè EEC
• Lồng ghép EEC vào hệ thống giáo dục quốc gia
• Các mô hình quản lý EEC tại doanh nghiệp được xây dựng
• Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cải thiện, nâng cấp
và tối ưu hóa công nghệ nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả
• Xây dựng các mô hình thử nghiệm và phổ biến các hoạt động quản
lý EEC trong xây dựng (in building operation)
Đóng góp vào giảm nghèo
Các hoạt động (can thiệp) để thích ứng với biến đổi khí hậu được coi là rất có triển
vọng vì có tác động tiềm tàng góp phần giảm nghèo. Nhóm người nghèo và người bị
lề hóa trong dân số là những người dễ bị ảnh hưởng nhất do thiên tai có nguyên
nhân là biến đổi khí hậu gây ra và là nhóm người ít có khả năng phục hồi nhất sau
thiên tai. Người nghèo ở vùng nông thôn phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng trực tiếp
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và do đó sẽ bị tác động nghiêm trọng khi môi
trường xuống cấp, ví dụ như đất canh tác bị nước mặn xâm thực. Với năng lực và
nguồn lực hạn chế để có thể đối phó với các biến động do thời tiết gây ra như hạn
hán và lũ lụt, khả năng thỏa mãn các nhu cầu căn bản của người nghèo và thoát
nghèo ngày càng bị hạn chế. Lần đầu tiên, Tín dụng Chiến lược Giảm nghèo (Poverty
Reduction Strategy Credit -PRSC) đã đưa biến đổi khí hậu vào thành một trong
những điểm khởi động trong chính sách đã định. The Poverty Reduction Strategy
Credit -PRSC) has for the first time incorporated climate change as one of its agreed
CPVN Khác Tổng
Hợp phần /
lĩnh vực
chương trình Đầu tư Định kỳ
TGKTQ
T Tổng
DKK DKK DKK Dkk DKK DKK DKK
1 CCA – NTP 79.2 24.4 26.4 130.0 164.4 363.3 657.5
2 CCM-VNEEP 22.3 30.4 9.3 62.0 54.1 52.0 168.1
3 Chương trinh 0.0 0.0 0.0 8.0 0.0 0.0 8.0
Total 101.5 54.8 35.7 200.0 218.5 415.3 833.6
Ngân sách năm (triệu DKK)) Đóng góp
Chương trình CCA và CCM 2009 2010 2011 2012 2013 Total
Hợp phần / lĩnh vực chương
trình DKK DKK DKK DKK DKK DKK
1 CCA - NTP 8.4 27.7 29.4 34.0 30.5 130.0
2 VNEEP 9.3 14.5 13.8 12.4 12.0 62.0
3 Chương trình 1.1 2.3 1.6 2.0 1.1 8.0
Tổng đóng góp của Danida 18.8 44.5 44.8 48.3 43.6 200.0
1 CCA - NTP 32.9 32.9 32.9 32.9 32.9 164.4
2 VNEEP 9.4 9.3 10.5 11.8 13.1 54.1
Tổng đóng góp của CPVN 42.3 42.2 43.3 44.7 46.0 218.5
1 CCA - NTP 32.9 32.9 32.9 32.9 32.9 164.4
2 VNEEP 0.0 2.2 12.3 15.9 21.6 52.0
Tổng các nguồn khác (Viet) 32.9 35.1 45.2 48.8 54.5 216.3
Nhà tài trợ khác 39.8 39.8 39.8 39.8 39.8 198.8
Tổng tất cả các nguồn 133.7 161.5 173.1 181.5 183.8 833.6
v
hợp với đặc thù của từng chương trình.
Các nguyên tắc đó dẫn đến việc lựa chọn đối tác cho hỗ trợ của Đan Mạch như sau.
Lĩnh vực hợp phần Cơ quan
quốc gia
chủ trì
Chủ dự án
CCA NTP-RCC
(CTMTGQ-
UPVBĐKH)
BTNMT Văn phòng Thường trực sẽ thành lập tại cấp
quốc gia
Ủy ban Nhân dân tỉnh / văn phòng thường
trực sẽ thành lập tại cấp huyện
CCM VNEEP BCT
Văn phòng Tiết kiệm Năng lượng (BCT)
Quỹ Tiết kiệm Năng lượng (ESF)
Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng
Các Trường Đại học
Quản lý tài chính
Các trình tự, quy trình quản lý tài chính sẽ tuân theo hệ thống các cơ quan thực hiện.
Nếu cơ quan thực hiện là cơ quan thuộc quản lý nhà nước thì trình tự tuân theo quy
1
Trong trường hợp do vì lý do không xác định mà điều này không thể thực hiện được thì sẽ cần thu xếp
họp thường niên giữa văn phòng thường trực của hai chương trình quốc gia để thảo luận và nhất trí về kế
hoạch hoạt động năm và ngân sách.
vi
định quản lý nhà nước. Nếu cơ quan thực hiện không thuộc quản lý nhà nước thì quy
trình sẽ tuân theo hệ thống cơ quan đó. Các nguyên tắc chủ đạo cho quản lý tài
chính chương trình và các hợp phần có thể được tóm tắt như sau:
• Quản lý tài chính và chuyển vốn sẽ được gắn kết tối đa với quy trình và hệ
đã được phê duyệt của BTC
Báo cáo, giám sát, rà soát
Phù hợp với nguyên tắc hài hòa hóa theo hệ thống Việt Nam, trách nhiệm báo cáo và
giám sát sẽ là của tổ chức Việt Nam có cơ quan chủ trì được chỉ định (có sứ mệnh)
thực hiện chương trình quốc gia và do đó là các hợp phần riêng. Cả hai chương trình
đều đặt ra mục tiêu và các mục tiêu sẽ được coi là các chỉ số chung cho hỗ trợ của
Đan Mạch. Ngoài ra, sẽ xây dựng các chỉ số cụ thể để giám sát trong các lĩnh vực mà
ở đó hỗ trợ của Đan Mạch có tính chất chuyên ngành và hẹp hơn – ví dụ các hoạt
động can thiệp trong CCA-NTP và đào tạo tập huấn cũng như kiểm toán trong CCM-
VNEEP.
Dự kiến sẽ có một đoàn công tác đi giám sát hàng năm để kiểm tra chi tiết tính hiệu
lực của các giả định, kết quả hoàn thành so với các chỉ số chính và vận hành các cơ
chế phòng ngừa. Mục đích của đoàn giám sát là để kiểm tra chi tiết và xem hệ thống
quốc gia hoạt động như thế nào, và đưa ra các thông tin trung thực về thành công
cũng như thất bại. Thông tin này sẽ được sử dụng cho ủy ban đối thoại chính sách
2
Tham khảo: nghị định 131 điều 4.15, 4.16
vii
nhằm thay đổi phương hướng hỗ trợ nếu cần thiết. Ngoài ra, dự kiến sẽ có 2 đoàn
công tác rà soát có tính kỹ thuật hơn hàng năm trong thời gian hỗ trợ.
Giả định và rủi ro
Các giả định và rủi ro chính trong các lĩnh vực của hợp phần được tóm tắt trong bảng
dưới đây:
Lĩnh vực hợp
phần
Giả định
CCA – NTP
• ‘Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu’ có chất
lượng tốt được phê duyệt và cấp vốn từ năm 2009
• Các bộ ngành có trong Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia-Ứng
Additionality (Cấp vốn bổ sung): Thuật ngữ dùng để mô tả việc hỗ trợ từ bên
ngoài chỉ được chấp thuận khi bên được hỗ trợ cùng tham gia đóng góp thêm vào chi
tiêu cho một lĩnh vực cụ thể của một hoạt động hoặc việc cấp vốn cho một hoạt động
đồng nghĩa sẽ được thực hiện cùng với việc chính phủ sẽ giảm tài trợ trong hỗ trợ
trong lĩnh vực đó (để tránh trùng lặp).
Phương thức viện trợ: Thuật ngữ dùng để mô tả các phương thức mà nhà tài trợ
chọn để cung cấp viện trợ. Có nhiều định nghĩa khác nhau về các dạng của phương
thức nhưng thường bao gồm một loạt các phương thức hỗ trợ ngân sách khác nhau
(có thể là là giảm nợ, hỗ trợ ngân sách chung, các cấp độ và cơ chế khác nhau trong
cấp vốn cho một lĩnh vực) cũng như các loại hình vốn cấp riêng (basket funds), dự
án, và trợ giúp kỹ thuật mà có thể chia thành các thuật ngữ ứng với hệ thống của
chính phủ.
Làm cho phù hợp-Alignment: Việc sắp xếp tổ chức các hoạt động của các đối tác
phát triển và các hệ thống (cho phù hợp) với các ưu tiên và hệ thống của chính phủ
nhận viện trợ. Bao gồm việc tăng cường “khả năng làm chủ” của chính phủ với các
hệ thống và chính sách để việc thực hiện có hiệu quả hơn.
Tài trợ riêng Basket Funding: Dòng viện trợ tài chính từ tài khoản chung của đối
tác phát triển, được tính riêng với các nguồn tài trợ khác cho cùng một ngành hoặc
tiểu ngành. Chuyển vốn không qua hệ thống của chính phủ và về hiệu quả thì tài trợ
riêng là một tập hợp các dự án. Transfers are not made through the government
systems and in effect the basket funding is a collection of projects.
Hỗ trợ Ngân sách cho Chương trình Mục tiêu: Hỗ trợ tài chính được chuyển qua
Ngân sách của Chính phủ Việt Nam, về mặt khái niệm được coi là để cấp cho một
ngành hoặc tiểu ngành cụ thể hoặc một chương trình quốc gia. Chuyển vốn thực hiện
thông qua hệ thống của chính phủ.
Hỗ trợ Ngân sách Chung (GBS): Hỗ trợ tài chính được chuyển trực tiếp vào ngân
sách của chính phủ, không quy định rõ việc cấp vốn nhưng đi kèm với đối thoại với
chính phủ về việc triển khai ma trận PRSP.
Hài hòa hóa: Gắn kết đồng bộ trong các phương pháp tiếp cận, các hệ thống chính
đã được cấp ngân sách thì sẽ duy trì được các nguồn lực cho ngân sách chung có thể
giảm.
Ủy ban Đối thoại Chính sách: Diễn đàn đối thoại cấp cao định kỳ giữa Đan Mạch
và Việt Nam về thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ BĐKH nhằm tăng cường
thảo luận về chính sách và hợp tác trong đó có những thách thức trong việc triển
khai hai chương trình quốc gia và do đó có các hợp phần do Đan Mạch tài trợ. Bộ
trưởng BTNMT, Bộ trưởng BCT và Đại sứ Đan Mạch là các thành viên của Ủy ban Đối
thoại Chính sách. Nhiệm vụ chính của ủy ban là 1) đánh giá tiến triển trong các chỉ
số chung; 2) đánh giá mức tài trợ của Chính phủ Việt Nam so với tài trợ của Đan
Mạch và 3) thảo luận các nhận định là kết quả của các chuyến công tác rà soát,
nghiên cứu và giám sát.
Chủ dự án: Chủ dự án là tổ chức thực hiện ở cấp quốc gia. Trong một bộ của chính
phủ thì thông thường chủ dự án là ở cấp cục/vụ vì đây là cấp đơn vị thấp nhất được
giao giữ (quản lý) ngân sách trong chính phủ. Nếu không thì chủ dự án có thể là một
cơ quan hoặc trung tâm trực thuộc cơ quan chủ trì quốc gia.
Hỗ trợ (từ) dự án: Hỗ trợ từ dự án là viện trợ không rót qua hệ thống chính phủ, có
thể là thuộc ngân sách on-budget (tức là trong hạn mức) hoặc ngoài ngân sách or
off-budget (tức là ngoài hạn mức).
Ban Chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện NTP-RCC (CTMTQG-UPVBĐKH): Ban chỉ đạo
cấp tỉnh chịu trách nhiệm chung đối với việc thực hiện CTMTQ-UPVBĐKH. Dự kiến
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh là Trưởng Ban chỉ đạo.
Quản lý nhà nước: Hệ thống Việt Nam tách bạch rất rõ giữa trách nhiệm nhà nước
thuộc cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm khác. Trách nhiệm quản lý nhà nước
liên quan đến hoạch định chính sách và các chức năn điều chỉnh của chỉnh phủ, bao
gồm giám sát và đảm bảo sự tuân thủ các quy định. Trách nhiệm nhà nước ngoài cơ
quan quản lý nhà nước liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ công, điều hành các
trung tâm thông tin, vv.
Đoàn công tác giám sát: Dự kiến sẽ có một đoàn công tác giám sát hàng năm.
Mục đích của đoàn công tác giám sát là kiểm tra chi tiết xem các hệ thống quốc gia
Decree Nghị Định Nghị định có giá trị pháp lý (văn bản quy phạm pháp luật) thấp
hơn luật và có mục đích chính là hướng dẫn thi hành luật. Nghị
định đưa có hướng dẫn và quy định cụ thể hơn luật. Ở các lĩnh
vực chưa có luật cụ thể thì sẽ cần có nghị định. Nghị định do
Chính phủ ban hành và do Thủ tướng ký và cũng có tính chất
bắt buộc.
Circular Thông tư Thông tư là văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn hoặc quy
định cụ thể hơn những điều có trong nghị định hoặc luật hoặc
quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Thông tư có tính bắt buộc
và do một bộ hoặc liên bộ ban hành.
Decision Quyết định Quyết định do lãnh đạo cấp cao ( ví dụ thủ tướng chính phủ, bộ
trưởng, tổng cục trưởng hoặc chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh ) về
một vấn đề cụ thể. Quyết định thường liên quan đến việc hướng
dẫn (diễn tả) một nghị định hoặc một thông tư. Quyết định có
tính bắt buộc.
Resolution Nghị Quyết Nghị quyết là một quyết định đồng thuận được ban hành sau
cuộc họp do thủ tướng hoặc một bộ trưởng chủ trì. Nghị quyết
thường (nhưng không chỉ) áp dụng cho việc ra tuyên bố về quan
điểm (các vấn đề về đảng?) applicable for party statements.
Cần có nghị quyết khi có các vấn đề quan trọng.
Directive Chỉ thị Chỉ thị do thủ tướng (bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh) ban hành
để chỉ đạo một hoạt động cụ thể cần thiết. Chỉ thị có tính bắt
buộc đối với những người tham gia thực hiện hành động. Nghị
quyết thường được ban hành để chỉ đạo các hoạt động ngắn hạn
và trung hạn.
Internal
regulation
Quy
định/Quy
chế
hiện khác nhau nên nên hỗ trợ cho hai chương trình này được coi là hai hợp phần.
xii
Tên viết tắt
CCA Thích ứng với biến đổi khí hậu
CCM Giảm nhẹ biến đổi khí hậu
CPRGS Chiến lược Tổng thể Tăng trưởng và Giảm nghèo
Danida Bộ Ngoại giao Đan Mạch
DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
DCE Hợp tác Phát triển về Môi trường
DKK Đồng Kroner Đan Mạch
DOC Sở Xây dựng (SXD)
DOH Sở Y tế
DOI Sở Công nghiệp
DONRE Sở Tài nguyên và Môi trường
DWRM Cục Quản lý Tài nguyên Nước
ECC Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng
EEC Sử dụng Năng lượng Tiết kiệm và Hiệu quả
EDK Đại Sứ quán Đan Mạch
EIA Đánh giá Tác động Môi trường
EPU Đại học Điện lực
ESF Quỹ Tiết kiệm Năng lượng
EVN Điện lực Việt Nam
GBS Hỗ trợ Ngân sách Chung
GDP Tổng sản phẩm Quốc nội
GoV Chính phủ Việt Nam
HIV/AIDS Virus HIV / Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải
HRD Phát triển Nguồn Nhân lực
HUT Đại học Bách khoa Hà Nội
IRBM Quản lý Tổng hợp Lưu vực Sông
ICD Vụ Hợp tác Quốc tế
QA Kiểm định Chất lượng
SAV Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
xiii
SEA Đánh giá Môi trường Chiến lược
SEDP Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội
SEMLA Dự án Quản lý Môi trường và Đất đai do Thụy Điển tài trợ
SME Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ
TA Trợ giúp Kỹ thuật
TBPS Hỗ trợ Chương trình Ngân sách Mục tiêu
ToR Bản Tham chiếu Quy định Chức năng Nhiệm vụ
UNDP Chương trinh Phát triển của Liên Hiệp Quốc
UNEP Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc
UNFCCC Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu
UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
USD Đô-la Mỹ
VBD Ngân hàng Phát triển Việt Nam
VEPA Cục Bảo vệ Môi trường Việt Nam
VEPF Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
VFM Giá trị Tiền
VNEEP Chương trình Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng Việt
Nam
VND Đồng Việt Nam
xiv
Bản đồ Việt Nam
xv
Tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Bến Tre
Mục lục
Thông tin cơ bản i
Tóm tắt chung ii
5.3 Vốn chính phủ Việt nam và các nguồn khác 34
5.3.1 Vốn chính phủ 34
5.4 HỖ trợ chuyên môn 35
5.4.1 Các hình thức hỗ trợ chuyên môn (TA) và nguyên tắc sử dụng 35
5.4.2 Các cố vấn dài hạn của Danida 35
5.4.3 TA nước ngoài ngắn hạn 37
5.4.4 TA trong nước ngắn hạn 38
6 Quản lý và tổ chức 38
6.1 nguyên tắc cơ bản 38
6.2 Quản lý ở cấp chương trình Đan mạch 39
6.4 Sửa đổi và điều chỉnh chương trình 40
7. Quản lý tài chính 40
xvi
7.1. Nguyên tắc cơ bản 40
7.2 Quản lý tài chính vốn được chuyển qua MOF tới các tổ chức quản lý nhà nước 45
7.3 Quản lý tài chính vốn được chuyển tới các tổ chức nằm ngoài sự quản lý của nhà
nước 45
7.4 Các biện pháp phòng ngừa 46
8 Giám sát, báo cáo và tổng kết 49
8.1 Theo dõi 50
8.1.1 Các chỉ số 50
8.1.2 Những mốc đánh dấu trong năm đầu tiên 53
8.2 Báo cáo 53
8.3 Tổng kết và đánh giá 53
9 Giả định và rủi ro 54
9.1 Giả định 54
9.1.1 Thích ứng với thay đổi khí hậu – chương trình mục tiêu quốc gia (CCA –
NTP) 54
9.1.2 Giảm thiểu thay đổi khí hậu – Chương trình tiét kiệm năng lượng Việt Nam 54
9.2 Sơ lược những rủi ro 55
nhóm họp 9 lần trong toàn bộ quá trình này. (Danh sách) các thành viên tham gia,
biên bản họp, những người đã gặp và (ghi chép) phản ánh đã được tổng hợp trong
tài liệu báo cáo quá trình (Tháng 3 2008).
Giai đoạn đầu tiên là đánh giá chi tiết khung ngành quốc gia diễn ra vào tháng 11
năm 2007. Kết quả của đánh giá này là một Dự thảo Báo cáo đánh giá khung ngành
quốc gia hoàn thành vào tháng 12 năm 2007, trong đó đề cập các vấn đề chính và
phương hướng chủ trương (lựa chọn) cho chương trình trong tương lai cũng như các
giả định cho chương trình. Các chủ trương và giả định này sẽ cần có ý kiến khẳng
định của cơ quan tổ chức quốc gia.
Giai đoạn hai là giai đoạn xây dựng chương trình chi tiết trong khuôn khổ hai lĩnh vực
hợp phần chính (thích ứng với biến đổi khí hậu; giảm nhẹ biến đổi khí hậu) bao gồm
hỗ trợ cho hai chương trình quốc gia. Thời gian xây dựng này diễn ra vao tháng 1 với
kết quả chính là đã tổ chức hội thảo ngày 21 tháng 1 về giảm nhẹ biến đổi khí hậu
(sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng) và hội thảo ngày 24 tháng 1 về thích
ứng với biến đổi khí hậu. Dự thảo Văn kiện chương trình và mô tả các hợp phần đã
được hoàn thành vào đầu tháng 2.
Trong giai đoạn thứ ba và cuối cùng đã tổ chức một hội thảo quốc gia vào ngày 28
tháng 2 năm 2008 để xin ý kiến cuối cùng từ các cơ quan tỉnh và quốc gia về dự thảo
chương trình và mô tả các hợp phần. Sau hội thảo và với đề xuất sau thảo luận, Bộ
Tài nguyên Môi trường và Đại Sứ quán Đan Mạch đã quyết định đơn giản hóa chương
trình bằng cách chỉ tập trung vào hợp phần Thích ứng với Biến đổi Khí hậu và Giảm
nhẹ Biến đổi Khí hậu và sử dụng vốn ban đầu dự kiến cho hợp phần Quy hoạch Sông
Nhuệ để tăng hỗ trợ cho chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
(NTP-RCC).
Báo cáo toàn bộ quá trình (Tháng 3 năm 2009) báo cáo đánh giá khung ngành quốc
gia (NSF) cuối cùng đưa ra thông tin chi tiết bổ sung cho văn kiện chương trình này.
1
2 KHUNG NGÀNH QUỐC GIA
2.1. CHÍNH SÁCH, CHIẾN LƯỢC VÀ KHUNG PHÁP LÝ
Việt Nam đã ký Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC)
Tuy nhiên, để ứng phó với những thách thức mới mà biến đổi khí hậu đặt ra, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành một nghị quyết (Tháng 12 năm 2007) chỉ định Bộ Tài
nguyên và Môi trường (MONRE) làm cơ quan chủ trì để xây dựng Chương trình Mục
tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu (NTP-RCC). Mục tiêu chung của chương
trình là tăng cường khả năng và hiệu quả ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Các văn kiện, tài liệu chủ yếu khác liên quan đến chính sách trong thích ứng với biến
đổi khí hậu bao gồm ‘Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ Môi trường đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2020’ (phê duyệt năm 2003) và “Chiến lược Quốc gia Phòng
chống, Thích ứng và Giảm nhẹ Thiên tai đến năm 2020” (phê duyệt tháng 11 năm
2007). Kế hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội (SEDP, 2006-2010) và Chương trình Nghị
sự Việt Nam 21 cũng góp phần bối cảnh chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ Môi trường đề cập với đại ý rằng một trong những
mục tiêu cần đạt trước năm 2010 là: ‘Tăng cường khả năng phòng và kiểm soát các
tác động có hại của thiên tai, nhất là thiên tai có nguyên nhân là biến đổi khí hậu;
3
UNDP, Biến đổi khí hậu và phát triển con người ở Việt Nam, 2007
4
Tác động của mực nước biển dâng đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh. Dasgupta et al.
Báo cáo Nghiên cứu Chính sách của Ngân hàng Thế giới, Số 4136, Tháng 2 năm 2007
2
ứng phó và ứng cứu có hiệu quả, khắc phục các sự cố về môi trường do thiên tai gây
ra.’ Chiến lược Quốc gia về Phòng, Ứng phó và Giảm nhẹ Thiên tai là một văn kiện đề
cập nhiều vấn đề có liên quan nhưng không có trọng tâm cụ thể vào thích ứng với
biến đổi khí hậu. Văn kiện đưa ra các nguyên tắc chỉ đạo, mục tiêu cụ thể, đầu ra và
hoạt động cần thực hiện liên quan đến thiên tai, trong đó có thiên tai do biến đổi khí
hậu gây ra hoặc bị biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm.
Luật Bảo vệ Môi trường (năm 2005) đưa ra một khung tổng thể; điều 109 quy định
rằng “Nhà nước chịu trách nhiệm xây dựng năng lực và cung cấp máy móc, trang
thiết bị dự báo thời tiết và cảnh báo thiên tai; khuyến khích các tổ chức và cá nhân
tham gia dự báo dự báo và cảnh báo thảm họa môi trường để phòng ngừa và giảm
quốc tế
7
. Có hơn 20 sáng kiến và dự án khác nhau có đóng góp trực tiếp cho thích
ứng với biến đổi khí hậu và rất nhiều nỗ lực trong (sử dụng) tài nguyên nông nghiệp,
thiện nhiên và lập kế hoạch khác có đóng góp gián tiếp. Đan Mạch là một trong các
đối tác chính hỗ trợ cho một số hoạt động can thiệp này.
5
xem báo cáo đánh giá Khung Ngành Quốc gia (NSF) trang74.
6
Còn gọi là Chương trình Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng
7
Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) – Risø, Kiểm tra Khí hậu tại Việt Nam, Tháng 12
2005, Phụ lục II
3
Thực tế việc một Chương trình Mục tiêu Quốc gia được xây dựng đối với biến đổi khí
hậu là một dấu hiệu rất rõ cho thây cam kết chính trị cao trong vấn đề này. Thông
thường, một Chương trình Mục tiêu Quốc gia được xây dựng trên nền tảng một chính
sách chiến lược tổng thể, nhưng ở đây Chính phủ Việt Nam đã quyết định bắt tay
ngay vào cấp Chuơng trình Mục tiêu Quốc gia để tập trung vào hành động. Hiển
nhiên đây là một động thái tích cực, tuy nhiên cũng có thể tạo ra một vài điểm yếu
trong tiếp cận chung với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng NTP-
RCC đã nảy sinh nhiều thảo luận chính sách quan trọng – trong đó có thảo luận giữa
Chính phủ Việt Nam và nhóm điều phối các nhà tài trợ mới thành lập đối với biến đổi
khí hậu do Đại sứ Đan Mạch và Đại diện Trưởng của Liên Hiệp Quốc làm đồng chủ
tịch.
Mục tiêu chung của chương trình là tăng cường năng lực và hiệu ích của Việt Nam
trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Khung thời gian của chương trình là: Giai đoạn I
2008-2010, khởi động; Giai đoạn II 2011-2015, triển khai; Giai đoạn III 2016-, phát
triển (nhân rộng). Dự kiến văn phòng thường trực của chương trình sẽ nằm tại Bộ
TNMT, nhưng sẽ có nhiều các bộ ngành khác cùng tham gia bao gồm các Bộ Nông
• Lập các kịnh bản biến đổi khí hậu chi tiết đối với Việt Nam dùng làm cơ sở để
xác định ưu tiên trong các hoạt động và đầu tư
4
• Tăng cường công tác khoa học và công nghệ nhằm tìm ra các giải pháp thiết
thực để có thể ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu
• Xây dựng và thực hiện các kế hoạch hành động về biến đổi khí hậu trong các
bộ/ngành và địa phương và thực hiện các dự án thí điểm, liên quan đến các
hoạt động “không hối hận -no-regret”
• Lồng ghép biến đổi khí hậu vào các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế
xã hội và phát triển ngành
• Xây dựng năng lực tổ chức và năng lực thể chế
• Nâng cao nhận thức.
Chương trình Quốc gia Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng Việt Nam
Bộ Công Thương chịu trách nhiệm về Chương trình Quốc gia Sử dụng Tiết kiệm Năng
lượng và Hiệu quả Việt Nam (VNEEP). Chương trình đã được phê duyệt vào cuối năm
2006 và nêu cụ thể 6 lĩnh vực can thiệp và tổng số 11 dự án liên quan đến công
nghiệp, vận tải, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng, xây dựng năng lực và nâng cao
nhận thức.
Mục đích chung là đảm bảo tiết kiệm từ 3 – 5 % trong giai đoạn 2006 – 2010 và từ 5
– 8 % giai đoạn từ 2011 – 2015 trong tổng số với năng lượng tiêu thụ dự kiến.
Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng đòi hỏi phải có nhiều can thiệp rộng để có
thể thành công tức là giám sát tiêu thụ năng lượng; xác định các thói quen và quy
trình lãng phí; giới thiệu các quy trình và thói quen mới. đầu tư vào các hệ thống và
trang thiết bị sử dụng ít năng lượng hơn; VNEEP là một chương trình tổng thể và sẽ
bao trùm tất cả các hành động này. Ở một chừng mực nhất định, có thể nói rằng các
mục tiêu của VNEEP có vẻ không tham vọng lắm. Do đó đã có các đã có các gợi ý, đề
xuất làm thế nào để hỗ trợ có thể góp phần làm tăng tác động của chương trình.
2.3. VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN
Bộ Tài nguyên và Môi trường - MONRE
Bộ TNMT có vai trò là cơ quan chủ trì trong biến đổi khí hậu vì có thực tế là trước đây
nhập, cục có năm phòng ban chuyên môn làm việc trong các lĩnh vực Kế hoạch và
Chính sách; Quản lý Điều tra Tài nguyên Nước; Quản lý Nước Mặt; Quản lý Nước
Ngầm; và Bảo vệ Tài nguyên Nước. Cục chịu trách nhiệm hỗ trợ quản lý nhà nước về
tài nguyên nước trong địa phận và hải phận Việt Nam. Cục có nhiệm vụ xây dựng các
công cụ (văn bản) pháp lý và đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn nước.
Cục cũng là cơ quan chịu trách nhiệm về cấp phép sử dụng tài nguyên nước và giấy
phép về nước thải.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NNPTNT-MARD)
Bộ NNPTNT chịu trách nhiệm về các ngành nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp. Bộ
có vai trò chủ trì trong quản lý thảm họa. Bộ giữ vai trò tích cực trong thích ứng với
biến đổi khí hậu và đã chủ động lồng ghép cách tiếp cận này trong tất cả chiến lược
và chính sách của Bộ. Ban Phòng chống Lụt Bão Trung ương được văn phòng thường
trực nằm tại Bộ NNPTNT giúp việc là cơ quan điều phối quản lý thảm họa với sụ tham
gia của các bộ ngành liên quan và cán bên tham gia trong đó có Hội Chữ Thập Đỏ
Việt Nam. Bộ NNPTNT cũng đã thành lập Trung tâm Quản lý Thảm họa trực thuộc
Cục Quản lý Đê Điều và Phòng Chống Lụt Bão. Các Bộ ngành khác đều có các Ban
Phòng Chống Lụt Bão. Các cơ quan cấp quốc gia này được bổ sung với các cơ cấu
tương tự tại cấp tỉnh và cấp huyện. Các Ban Phòng Chống Lụt Bão có trách nhiệm
thu thập số liệu, giám sát và phát đi cảnh báo cũng như phối hợp ứng phó với thảm
họa và trong các biện pháp giảm nhẹ liên qua đến lụt bão. Như vậy Bộ NNPTNT là đối
tác chính trong hợp tác Thích ứng với Biến đổi Khí hậu.
Đối tác Quốc gia Quản lý Thiên tai (NDMP)
Đối tác Quốc gia Quản lý Thiên tai (NDMP) là một liên minh các cơ quan chính phủ,
tổ chức phi chính phủ, (NGOs) và các nhà tài trợ. Mục tiêu của NDMP là “thiết lập
hợp tác tích cực giữa các cơ quan Chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính
phủ quan tâm thông qua thường xuyên chia sẻ thông tin, đối thoại chính sách; đề
xuất và kiến nghị các ưu tiên trong việc phân bổ nguồn lực và đưa ra các phương
thức thực hiện để có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Chính phủ, nhà tài trợ
và các tổ chức phi chính phủ để giảm nhẹ thiên tai”. Ban đầu đối tác tập trung vào
các tỉnh miền trung nhưng việc mở rộng phạm vi cũng đang được cân nhắc. Đan
chính của tỉnh là từ nông nghiệp, tuy nhiên thu nhập từ công nghiệp nhẹ và du lịch
đang gia tăng. Đan Mạch hỗ trợ tỉnh Quảng Nam trong kiểm soát ô nhiễm, sản xuất
sạch (hơn) và khu bảo tồn biển.
Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và xã hội dân sự
Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam là tổ chức phi chính phủ lớn nhất đang hoạt động trong
lính vực quản lý thảm họa. Tổ chức này có mặt ở hầu khắp các tỉnh và ở nhiều huyện
và xã. Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam làm việc để nâng cao nhận thức của cộng đồng,
tăng cường sự chuẩn bị sẵn sàng, giảm nhẹ tác động của thảm họa, tổ chức phòng
và hỗ trợ ứng phó với thảm họa. Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ của
Việt Nam -The NGO resource centre of Vietnam là tổ chức phối hợp hỗ trợ của các tổ
chức phi chính phủ trong nước và quốc tế và tăng cường đối thoại đối thoại với chính
phủ. Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ có khoảng 160 thành viên hoạt
động trong nhiều lĩnh vực. Từ năm 1999, trung tâm dữ liệu đã có một nhóm làm việc
tích cực về đối phó với thảm họa. Gần đây, trung tâm đã thành lập đối tác trong biến
đổi khí hậu. Vai trò chính của các nhóm làm việc và đối tác này là chia sẻ thông tin
và phối hợp hoạt động. Đây cũng là các diễn đàn (platform) hữu dụng về đối thoại và
vận động chính sách.
Bộ Công Thương
Bộ Công Thương (MOIT) với Nghị định về Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng
(Nghị định Số. 102/2003/NĐ-CP) được giao trách nhiệm quản lý tiết kiệm năng lượng
tập trung vào cụ thể hóa các cơ cấu mới của chính phủ ở cấp trung ương và cấp tỉnh
và cụ thể hóa các yêu cầu về sử dụng hiệu quả năng lượng cho các doanh nghiệp lớn
và các tòa nhà lớn được lựa chọn.
Văn phòng Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng - EEC
Trong Bộ Công Thương, Văn phòng Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng (Văn
phòng EEC) được giao nhiệm vụ là cơ quan đầu mối cấp chính phủ ở Việt Nam. Văn
phòng Sử dụng Tiết kiệm và Hiệu quả Năng lượng thuộc Bộ Công Thương đã được
thành lập năm 2006 và vào cuối năm 2007 đã có đội ngũ cán bộ nhân viên là 10
7