Các lý thuyết công tác xã hội - Pdf 29

CHƯƠNG 3

CÁC LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI

1. Thuyết Năng động tâm lý/ trường phái phân tâm học
1.1
Nội dung chính của thuyết
1.1.1 Bản năng – Bản ngã và siêu ngã
Bản chất của con người bao gồm 3 hệ thống: id (bản năng), ego (bản ngã) và
siêu ngã.
Bản năng: đại diện cho những động cơ bẩm sinh. Đây là phần chúng ta có
chung với loài vật. Bản năng họat động trên nguyên tắc khoái lạc, thỏa mãn tức
thời. Bản năng quan tâm đến việc đáp ứng các nhu cầu sinh học như đói ăn, khát
uống… Bản năng phát triển quá mạnh sẽ làm cho con người trở nên dã man, thú
tính.
 Hệ thống căn bản khởi thủy của nhân cách
 Mù quáng, chỉ biết đòi hỏi, trái với đạo đức
 Giải tỏa căng thẳng tức thì để trở về trạng thái cân bằng
 Tránh nỗi đau, tìm lạc thú
 Chỉ biết ước muốn và hành động
 Chủ yếu là phần vô thức, hoặc ngoài tầm ý thức
 Có thể ví như đứa con nít
Siêu ngã (cái Thiện): đối nghịch với bản năng, siêu ngã là phần cao cấp. Nơi
siêu ngã, những giá trị của cá nhân, những nguyên tắc đạo đức được hình thành
giúp con người phân biệt phải trái. Phần siêu ngã ở mỗi cá nhân khác nhau, tùy
thuộc vào những giá trị của xã hội, nền giáo dục của gia đình. Cha mẹ có siêu ngã
mạnh và phát triển tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành một siêu ngã
mạnh nơi con cái, giúp trẻ có cảm thức về tội lỗi.
 Tiếng nói của lương tâm
 Tìm sự hoàn thiện
 Ngăn cấm những xung động của bản năng

đây:
 ý thức môi trường bên ngoài: bản ngã định hướng chính xác về thế giới bên
ngoài. Nó xác định thời gian, không gian, con người và phân biệt ảo giác, ảo tưởng
và các mối liên kết hời hợt
 phán đoán: khả năng phán đoán của bản ngã giúp ta chọn lựa hành vi phù
hợp trong những hoàn cảnh khác nhau để đạt mục tiêu
 khả năng nhận thức: đây là khả năng tạo ra những giới hạn tâm lý phù hợp
(than mật hay giữ khoảng cách) trong tương quan với người khác
 kiểm sóat xung lực: bản ngã phân biệt các lọai xung lực, kiểm sóat hành vi
thái độ và tình cảm ở mức độ sao cho phù hợp với các quy tắc xã hội
 điều tiết quá trình tư duy: đây là khả năng ghi nhớ, tập trung và đánh giá
tình hình của bản ngã để đưa ra những hành vi và cảm xúc phù hợp
 tạo tương quan: bản ngã có khả năng quản lý các mối tương quan nhằm đạt
mục tiêu cá nhân và khả năng nhìn nhận mỗi người là một cá thể độc đáo
 tạo cơ chế tự vệ: bản ngã giúp ta giảm thiểu lo lắng
 điều tiết các tác nhân kích thích: đây là khả năng sàng lọc và chọn lựa các
tác nhân kích thích bên ngòai để duy trì, tập trung vào điểm trọng tâm của đời
người, giúp ta tránh hời hợt/buông thả hay kiệt lực
 tự trị: đây là khả năng duy trì sự chú ý, tập trung, trí nhớ, trí hiểu
 duy lý hóa: tránh những cảm xúc không thể chấp nhận được bằng cách nghĩ
đến hay nói về những cảm xúc này một cách vô cảm (một người nói với tư vấn
viên là cô ta rất buồn nhưng không biểu lộ cảm xúc buồn bã). Điều này làm cho
đương sự không hiểu được vấn đề tác động lên cuộc sống của mình thế nào

1.1.3 Cơ chế phòng vệ
Nhân viên xã hội ứng dụng thuyết năng động tâm lý cần phải nhạy bén với cơ
chế phòng vệ mà thân chủ sử dụng bởi vì cơ chế này tác động rất nhiều đến khả
năng giải quyết vấn đề của thân chủ. Phòng vệ là sự đáp trả vô thức, tự động giúp
ta giảm thiểu những nguy cơ, đối phó với lo lắng. Người ta có thể sử dụng những
cách phòng vệ lành mạnh hoặc có hại. Đây là điều nhân viên xã hội cần biết.

càng ngày càng học kém vì mất tự tin và ý chí học hỏi.
 Dồn nén: Đây là cơ chế thông thường mà con người hay dùng, giúp đối phó
với sự lo lắng và cứu con người khỏi bị choáng ngợp vì lo. Những ý nghĩ và cảm
xúc đáng sợ bị đẩy ra khỏi ý thức một cách tự động. Đa số những kinh nghiệm đau
đớn của tuổi thơ (1-5 tuổi) đều bị đẩy ra khỏi ý thức, nhưng vẫn ảnh hưởng đến
hành vi con người sau này
 Cao thượng hóa: Tái định hướng những xung động về tính dục và gây hấn
vào những hoạt động có ích và được xã hội chấp nhận
 Bù trừ: Che đậy những yếu điểm của mình bằng cách hình thành một số nét
trội nào đó để bù trừ cho những giới hạn của mình (là học sinh giỏi nhất không
được thì tìm cách là học sinh phá nhất)

1.1.4 Các giai đoạn phát triển
Theo Erikson (1968), sự trưởng thành của con người chia ra 8 giai đoạn; mỗi
giai đoạn có một giá trị riêng, và khi vượt qua từng giai đoạn, con người phải trải
qua những khủng hoảng và mâu thuẫn do hai lực: lực đẩy do điều kiện sinh lý của
bản thân và lực kéo của môi trường văn hóa xã hội của giai đoạn đó, và tùy theo
mức độ thành công hay thất bại, sẽ đạt được nhiều hay ít giá trị của giai đoạn đó.
Mức độ giá trị đạt được này có ảnh hưởng rất lớn đến bản ngã của con người
trưởng thành.

Giai đoạn
cuộc đời
Giá trị Thách đố về mặt
tâm lý
Tác nhân
quan trọng

thương
Thân thiết, gần
gũi >< tách biệt, cô
độc
Bạn khác
phái
Tráng niên

Chăm
sóc
Năng động, tác
tạo >< tự đủ, trì trệ
Gia đình
riêng
Lão niên Trí tuệ Mãn nguy
ện ><
căm ghét, thất vọng
Nhân sinh 1.2 Đánh giá và can thiệp CTXH
1.2.1 Đánh giá
Nhân viên xã hội đánh giá điểm mạnh và những giới hạn về chức năng bản ngã
của từng thân chủ bằng cách hỏi trực tiếp thân chủ hoặc hỏi những người khác
hoặc xem xét các nguồn dữ liệu sẵn có như bệnh án, hồ sơ cảnh sát… để tìm ra
những khiếm khuyết về mặt thể lý ảnh hưởng đến chức năng bản ngã, những yếu
tố kích thích và khả năng tự trị của thân chủ. Việc đánh giá quá trình phát triển
tâm lý của thân chủ đòi hỏi phải xem lại những kinh nghiệm quan trọng trong quá
khứ vì theo tâm lý bản ngã, mọi giai đoạn phát triển được xây dựng trên nền tảng
các giai đoạn trước đó và mọi trục trặc trong giai đoạn phát triển có thể gây ra sự


2. Thuyết hành vi
Bản chất của con người theo thuyết hành vi: con người là cái mà họ làm.
2.1 Một số nguyên tắc căn bản và những giả định của thuyết hành vi:
 Hành vi là tất cả những sinh hoạt và phản ứng của con người mà quan sát
được hay đo lường được. Ví dụ các cử động, tư thế cơ thể, giọng nói cũng như tất
cả những gì thay đổi bên ngoài mà ta nhận ra được. Chỉ những gì quan sát được
mới đáng kể, phần trừu tượng trong hoạt động của tâm lý không đáng quan tâm
 Con người có khuynh hướng tự nhiên tìm kiếm lạc thú và tránh khổ đau.
Hành vi của con người thường hướng đến mục tiêu này.
 Mọi người học cách cư xử từ những phản ứng trực tiếp của môi trường, từ
việc quan sát người khác hành xử ra sao.
 Hành vi có thể thay đổi được
 Cần lý giải hành vi cách đơn giản.
 Biện pháp giúp thay đổi ứng xử tập trung vào phản ứng có tính cách
khuyến khích hay trừng phạt. Những biện pháp này phải tức thời và trước sau như
một, không thay đổi. Khuyến khích thường tạo ra những thay đổi nhanh nhất.
Khuyến khích có thể được hiểu là bất kỳ phản ứng của môi trường tạo ra tính liên
tục của hành vi, làm cho hành vi tiếp tục lập lại. Ví dụ trẻ đánh bạn được sự đồng
tình của người khác sẽ tiếp tục đánh bạn. Trừng phạt là những phản ứng của môi
trường ngăn cản hành vi tiếp diễn. Cũng trẻ ở trên khi đánh bạn bị trừng phạt sẽ
không đánh bạn nữa.
Mọi hành vi đều bị ảnh hưởng bởi các nguyên tắc học hỏi bao gồm nguyên tắc
điều kiện cổ điển, điều kiện hóa phản ứng.

2.1.1 Điều kiện hóa cổ điển
Khoa học hành vi cho rằng một kích thích nhất định nào đó sẽ tạo nên những
phản ứng vô tình ở đối tượng. Quá trình này được Iwan P. Pavlov nhà sinh lý học
người Nga gọi là điều kiện hóa cổ điển. Điều kiện hóa là một quá trình phát triển
các dạng hành vi thông qua những đáp trả lại kích thích của môi trường hay những

Phản ứng tập luyện (cưỡng bức)

(conditioned reaction CR)
= Tiết nước rãi khi nghe
tiếng chuông

Điều kiện hóa cổ điển giúp ta hiểu các vấn đề thân chủ đã trải qua. Những kích
thích trung tính như một nơi chốn, một người, một tâm trạng nào đó có thể làm
nảy sinh những hành vi có vấn đề. Một vết chó cắn có thể tạo nên sự sợ hãi loài
chó. Vì thế, can thiệp dựa trên nguyên tắc đảo nghịch, nghĩa là giúp thân chủ trở
về với tình trạng an toàn trước đó. Thân chủ được dạy cách dần dần đương đầu với
căng thẳng.

2.1.2 Ðiều kiện hóa phản ứng /có hiệu lực
Ðiều kiện hóa phản ứng cho rằng hành vi tương lai được quyết định bởi những
hậu quả của hành vi hiện tại. Những điều kiện có trước có thể gây ra hành vi, có
hai dạng củng cố trong mô hình này: dạng tích cực và dạng tiêu cực.
Xét một người nào đó có những hành vi do ngẫu nhiên hoặc đột khởi. Sau đó
người ấy có những cảm nhận về kết quả của hành vi. Kết quả này có thể là dễ
chịu, trung tính hoặc khó chịu. Nếu cảm nhận là dễ chịu người đó sẽ có khuynh
hướng tái lập hành vi đó, ngược lại nếu khó chịu sẽ có khuynh hướng tránh hành
vi đó đi * Mô hình cơ bản là R → S
Đặc biệt đối với những hành vi sử dụng chất gây nghiện có một động lực kép
khiến người nghiện bị thôi thúc mạnh mẽ phải tiếp tục hành vi đó là họ phải thực

đó thường làm gì sau khi vấn đề xảy ra)
Dấu hiệu xã hội
Dấu hiệu môi trường
Dấu hiệu cảm xúc Hành vi Hệ quả
Dấu hiệu nhận thức
Dấu hiệu thể lý

Sơ đồ phân tích chức năng hành vi
 Khi vấn đề xảy ra có ai hiện diện?
 Vấn đề xảy ra bao lâu một lần? thông thường vào giờ nào (trong
ngày/tuần/tháng/năm)
 Vấn đề kéo dài trong bao lâu?
 Vấn đề này ảnh hưởng đến đời sống của bạn như thế nào?
 Khi vấn đề xảy ra, bạn nghĩ gì?
 Khi vấn đề xảy ra, bạn cảm thấy thế nào? Phản ứng của cơ thể ra
sao?
 Bạn đã làm gì để giải quyết hay giảm thiểu vấn đề? Kết quả thế nào?
 Những người xung quanh bạn thường làm gì khi vấn đề xảy ra?

Nhân viên xã hội có thể hỏi thân chủ các câu hỏi theo 5 lãnh vực liên quan đến
vấn đề

Lãnh
vực
Tiền tố (Dấu hiệu) Hệ quả (yếu tố củng cố)

hội
Đa phần thời gian thân chủ ở
với ai?
Thân chủ có tương quan với

Những tư tưởng nào diễn ra
trong đầu của thân chủ hay thân
chủ có niềm tin gì đối với vấn đề
này?
Sau đó thân chủ nghĩ gì?
Thân chủ tự nhủ gì?
Thể lý Những tình trạng thể lý khó
chịu nào xuất hiện trước khi vấn đề
xảy ra?
Sau đó, thân chủ cảm thấy thể
lý thế nào?
Hậu quả sức khoẻ thể lý của
thân chủ ra sao?

Từ việc phân tích hành vi này, nhân viên xã hội xác định được các yếu tố kích
thích làm củng cố và duy trì hành vi. Dựa trên đó, nhân viên xã hội lập kế hoạch
cùng với thân chủ xây dựng mục tiêu điều chỉnh hành vi bằng cách xem xét các
điều kiện và sự kiện xảy ra trước khi hành vi bắt đầu xuất hiện để từ đó đề ra
những mục tiêu cụ thể để đem lại những hành vi mới như mong ước. Thân chủ và
những người tác động quan trọng đến thân chủ như bạn đời, bạn thân, giáo viên
thống nhất vai trò của mình trong việc giúp thân chủ thay đổi hành vi.

2.2.2 Can thiệp
Mặc dù việc trị liệu hành vi phải theo một cấu trúc chặt chẽ nhưng tương quan
giữa nhân viên xã hội và thân chủ cũng phải được coi trọng. Nhân viên xã hội phải
tỏ ra là người đáng tin cậy, có khả năng và tận tụy nếu không nhân viên xã hội có
thể tạo ra nơi thân chủ một vài hành vi phòng vệ đối phó lại cảm giác bị đe dọa.
Nhân viên xã hội phải hết sức thận trọng không nên sử dụng hành vi trừng phạt
đối với thân chủ vì việc trừng phạt có thể tạo ra sự xa lánh.
Những đặc điểm của mô hình can thiệp theo trường phái hành vi

sự trừng phạt
 nhân viên xã hội, thân chủ và người khác thu thập các dữ liệu liên
quan đến hoạt động của thân chủ. Những chuyển biến của thân chủ
phải được ghi chép đều đặn
 thân chủ và nhân viên xã hội thường xuyên đánh giá tiến trình can
thiệp, so sánh tình trạng ban đầu với hành vi mới được thiết lập
 quá trình can thiệp chấm dứt khi thân chủ đạt được mục tiêu và tỏ ra
ý muốn duy trì kết quả đạt được
Phương pháp can thiệp theo thuyết hành vi có thể sử dụng trong các trường
hợp trẻ em bị đối xử tệ bạc, bạo lực học đường, lạm dụng chất kích thích, tội
phạm, mâu thuẫn gia đình, bạo hành gia đình, các vấn đề bệnh lý mãn tính

3. Thuyết nhận thức
3.1 Nội dung chính của thuyết
Nhận thức là sự hiểu biết của cá nhân về sự vật. Thuyết nhận thức chủ trương
mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về sự vật, cách thu nhận và diễn
giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, các phán đoán, và quyết định cách
ứng xử. Tất cả những khái niệm này được Piaget gọi là cấu trúc nhận thức. Cấu
trúc nhận thức là cách người ta suy diễn sự vật, phân tích các thông tin, tạo ra sự
hiểu biết về sự vật, ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử. Nói cách khác, cảm
xúc và cách ứng xử của con người là sản phẩm của cấu trúc nhận thức khi đánh
giá các thông tin đến từ thế giới chung quanh cá nhân (nhận thức quyết định cảm
xúc và hành vi). Cấu trúc nhận thức được hình thành và phát triển bằng học hỏi
qua kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát, học hỏi từ ngoại cảnh.
Những kinh nghiệm mới phù hợp với cấu trúc nhận thức được sát nhập vào nó;
ngược lại, khi gặp những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc nhận thức,
người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc nhận thức để chứa đựng được kinh nghiệm mới.
Beck (1995) mô tả mối quan hệ giữa niềm tin, cảm xúc, và ứng xử như sau: sự
vật diễn ra (A - activating event) dẫn đến tư tưởng hay niềm tin (B - belief); tư
tưởng hay niềm tin dẫn đến cảm xúc hay hành động (C - consequences). Ví dụ


3.2.1 Đánh giá
Trước hết nhân viên xã hội chỉ cho thân chủ thấy tính logic của lý thuyết nhận
thức. Sau đó, nhân viên xã hội đánh giá niềm tin của thân chủ, xác định những
niềm tin lệch lạc gây ra vấn đề hiện tại. Niềm tin của thân chủ được đánh giá qua
một tiến trình gọi là “chất vấn kiểu Socrat” (Socrat dạy học bằng cách đặt câu hỏi
cho sinh viên trả lời cho đến khi ra câu trả lời). nhân viên xã hội đánh giá tính xác
thực của các giả định của thân chủ lien quan đến vấn đề qua việc đặt câu hỏi. Sau
khi thân chủ mô tả vấn đề hiện tại, nguồn gốc phát sinh vấn đề, nhân viên xã hội
có thể hỏi các dạng câu hỏi sau để đánh giá:
 trước hết, khám phá niềm tin cốt lõi liên quan đến vấn đề hiện tại
của thân chủ (anh/chị nghĩ gì khi……? Anh/chị kết luận sao?
Việc đó có ý nghĩa gì đối với anh/chị?
 Đằng sau niềm tin cốt lõi liên quan đến vấn đề hiện tại của thân
chủ có gì logic?
 Có gì hỗ trợ cho quan điểm của thân chủ
 Có những giải thích nào khác cho quan niệm của thân chủ?
 Có những niềm tin, cảm xúc, hành vi nào tác động đến mức dính
bén vấn đề của thân chủ?
3.2.2 Can thiệp
Một khi niềm tin của thân chủ quá kiên vững, nhân viên xã hội can thiệp bằng
cách giúp cho thân chủ nhận ra vấn đề hiện tại, thực hành các bài tập giải quyết
vấn đề hay đối phó với vấn đề. Khi thân chủ tỏ ra có niềm tin lệch lạc trầm trọng,
nhân viên xã hội và thân chủ phải xác định các hoàn cảnh, tình huống tạo ra sự
lệch lạc niềm tin, quyết định phương cách thích nghi hay thay đổi cách nghĩ và sau
đó điều chỉnh cách nghĩ.
Nhân viên CTXH ứng dụng thuyết Nhận Thức có thể giúp thân chủ bằng các
phương pháp sau:
Thay đổi nhận thức/cognitive restructuring:
Kỹ thuật này được sử dụng khi niềm tin của thân chủ lệch lạc có vấn đề. Thông
3.2.2.1 Ứng phó nhận thức/cognitive coping:
Giúp thân chủ chuẩn bị sẵn một phương thức mới để ứng phó với những hoàn
cảnh tiêu cực. Thí dụ mỗi lần giận dữ muốn la hét, đập phá thì đi bộ 100 bước ra
khỏi hiện trường.
Một số phương cách:
Huấn luyện Tự bảo mình: thân chủ nhận và học đối phó với tình huống cách
hiệu quả hơn bằng cách tự kỷ ám thị ý nghĩ tích cực. Ví dụ một người sợ nói trước
đám đông có thể tự nói với mình rằng tôi cũng đâu có thua ai, tôi làm được bao
nhiêu chuyện huống hồ gì đây chỉ là chuyện nhỏ
Huấn luyện kỹ năng giao tiếp: thân chủ được huấn luyện các kỹ năng xã hội,
kỹ năng thương thuyết, sự quyết đoán để có thể xây dựng các mối tương quan thân
thiết với người khác mà cải thiện tình cảm tiêu cực. Thân chủ học cách lắng nghe,
đối thoại ôn hoà, rõ ràng, mạch lạc, dùng câu nói chủ yếu về “Tôi”/“I” messages,
tức là nói về vấn đề, cảm xúc, ý muốn của bản thân, thay vì chĩa mũi dùi công kích
sang người đối diện. Thí dụ người chồng đã hẹn sáng thứ bảy chở vợ về thăm quê
ngoại, nhưng lại đi uống cà phê với bạn gần trưa mới về. Thay vì nói “Tại sao
sáng thứ bảy nào anh cũng phải đi uống cà phê, bỏ uống một sáng thứ bảy có chết
không? Người gì đâu không biết giữ lời hứa gì hết? Nói đi nửa tiếng mà đi tới giờ
này mới về? Sao không đi luôn tới sáng mai đi?” Người vợ có thể nói “Em chờ
gần hai tiếng đồng hồ, mất hết cả hứng thú. Em không muốn trễ hẹn với Ba Má.”

3.2.2.2 Huấn luyện phương pháp giải quyết khó khăn/problem solving training
Đây là phương pháp 5 bước gồm xác định vấn nạn, tìm kiếm và liệt kê các giải
pháp, gạn lọc giải pháp, chọn giải pháp thích hợp nhất, và sau cùng, hoạch định kế
hoạch thi hành.
Phương cách hữu hiệu nhất để Huấn luyện phương pháp giải quyết khó khăn là
sắm vai. Trước hết, Nhân viên xã hội làm mẫu để thân chủ học và rồi yêu cầu thân
chủ đóng vai, luyện cách giải quyết khó khăn.


4.1.2 Sự tách rời của cá nhân
Cá nhân lành mạnh hay dễ thích nghi là do sự tách rời cá nhân quyết định.
Điều này mang hai ý nghĩa, sự tách rời cả về tâm lý lẫn thể lý. Trước hết đó là khả
năng một người có thể phân biệt và quân bình giữa những gì người ấy nghĩ và
những gì người ấy cảm thấy, giữa lý trí và tình cảm. Suy nghĩ là có khả năng nhìn
các phản ứng và các thành kiến của mình một cách khách quan. Còn cảm xúc thì
cung cấp các thông tin về tầm quan trọng của vấn đề đối với bản thân. Sau nữa, sự
tách rời cá nhân còn là khả năng tách rời thể lý. Qua quá trình trưởng thành, cá
nhân lành mạnh sẽ dần dần tách rời khỏi gia đình, ở riêng, có suy nghĩ, cảm xúc,
và cuộc sống riêng. Sự phát triển lành mạnh này không làm hại đến mối quan hệ
tốt đẹp với gia đình gốc.

4.1.3 Mối quan hệ ba chiều/ tam giác
Quan hệ thân thiết giữa hai người trong gia đình có thể trở nên căng thẳng (hai
người, dù thương yêu nhau đến nấy, cũng không tránh khỏi những lúc mâu thuẫn,
xung đột) vì vậy cần người thứ ba để được ổn định Khi có chuyện buồn phiền hay
mâu thuẫn, ta thường có khuynh hướng giải tỏa hay tìm sự giúp đỡ của người thứ
ba. Người thứ ba (có thể là nhiều người thứ ba khác nhau tùy theo nhu cầu của hai
người kia) giữ vai trò trung gian hoà giải, cố vấn tâm lý, hay an ủi (nghe than thở).
Thí dụ khi tôi có chuyện buồn phiền với người chồng thì tôi đi giải tỏa nỗi niềm
với bạn thân để hỏi ý kiến.
Quan hệ ba chiều là lành mạnh, tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể
có ảnh hưởng tai hại đến sự tách rời (trưởng thành lên) của cá nhân. Thí dụ: người
mẹ nạn nhân của bạo hành bởi người cha, luôn luôn dựa vào đứa con trai để tìm
nguồn an ủi và chỗ nương tựa tinh thần. Tình trạng này sẽ biến đứa con thành
người bảo vệ mẹ và hoà giải bố mẹ. Vai trò kéo dài này sẽ ảnh hưởng đến sự
trưởng thành tự nhiên của đứa con nghĩa là tách rời khỏi suy nghĩ, cảm xúc, vấn
đề, cuộc sống thường ngày của gia đình gốc và xây dựng suy nghĩ, cảm xúc, vấn
đề, cuộc sống thường ngày của riêng mình.

các thành viên và có thể truyền qua các thế hệ. Trong các gia đình bất hạnh này,
những thành viên kém khả năng tách rời sẽ có triệu chứng bồn chồn khó chịu cao,
sẽ có khuynh hướng tìm đến bạn bè, hay chồng, vợ cũng có triệu chứng bồn chồn
khó chịu như mình, và thế là sự bồn chồn khó chịu được truyền sang và gia tăng
qua các thế hệ.

4.1.5 Cha mẹ phóng chiếu lên con cái
Đây là một trong những hình thức của “cơ chế tự vệ”: quy kết những cảm nghĩ,
tình cảm của mình cho người khác, gán cho người khác những ước muốn và
những xung động bất ổn mà chính mình có, để khỏi phải đối diện với vấn đề của
mình. Thí dụ người vợ giận chồng vì không dành nhiều thời gian cho gia đình
nhưng nói với người chồng rằng đứa con của mình giận bố vì vắng nhà nhiều.
Cơ chế tự vệ tâm lý này là cách truyền cảm xúc bồn chồn lo lắng qua các thế
hệ. Những đứa con thường xuyên lâu dài bị cha mẹ đổ cho những cảm xúc, đặc
tính tiêu cực sẽ có thể tin là chúng thực sự có những cảm xúc, những cá tính đó và
có cách cư xử thích ứng. Trong thí dụ trên, có thể sự kiện bố vắng nhà không ảnh
hưởng nhiều đến vui buồn của đứa trẻ (có khi các con còn vui khi bố vắng nhà nếu
bố khó tính, hay la rầy), nhưng do ảnh hưởng của mẹ, đứa trẻ có thể dần dần sẽ có
cảm xúc buồn. Một thí dụ khác: nếu đứa trẻ thường xuyên bị bố mẹ mắng là ngu
dốt, đứa trẻ sẽ có khả năng mất dần ý chí phấn đấu học hỏi và trở thành ngu dốt
thật sự.

4.1.6 Sự đồng hóa/tan biến và cắt đứt tình cảm
Sự đồng hóa/tan biến trái nghĩa với sự tách rời của cá nhân. Đây là tình trạng
liên quan đến hai hay nhiều người trong hệ thống tam giác mà trong đó một thành
viên hy sinh sự tách rời, trưởng thành của cá nhân để tạo ra sự quân bình cho hai
người kia. Khi một người đặc biệt bị đồng hóa/tan biến trong mối tương quan với
1 người khác thì người này sẽ có phản ứng mạnh mẽ với người kia. Ví dụ một
người mẹ bị chồng đánh và lôi đứa con gái 12 tuổi về phía mình thì tương quan
mẹ con giữa 2 người này có khuynh hướng hợp nhất/tan biến. Cảm xúc vui buồn

- giảm sự căng thẳng gia đình
- gia tăng khả năng phản tỉnh của các thành viên
- gia tăng sự tách biệt cá nhân bằng cách tổ chức lại hệ thống
tình cảm gia đình sau khi xác định và điều chỉnh các tương quan tam
giác có vấn đề và khai khẩn các tương quan tránh né
- tăng cường khả năng chia sẻ các bận tâm về hệ thống gia đình
của các thành viên
- uốn nắn sự bất bình đẳng trong gia đình bằng cách ngăn chặn
hay kiểm soát những thành viên cư xử theo lối thống trị không phù
hợp

4.2.1 Đánh giá
Một trong các phương pháp có thể sử dụng để đánh giá đó là sơ đồ quan hệ gia
đình. Sơ đồ này thể hiện tương quan 3 thế hệ, gồm các thông tin cơ bản về các
thành viên trong gia đình (ngày sinh, ngày mất, hôn nhân, các cuộc di chuyển,
bệnh tật), tính cách căn bản và mức độ chức năng của mỗi thành viên (trình độ học
vấn, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, tài năng, những thành công, thất bại) và các
kiểu tương quan. Cũng có thể thêm vào cấu trúc gia đình (vai trò, nguyên tắc, giới
hạn) và các tác động của các biến cố trong sơ đồ này.
Qua việc tham gia lập sơ đồ quan hệ, các thành viên trong gia đình hiểu hơn về
gia đình mình, những tương quan giữa các thành viên và các mối quan hệ tam giác
đã phát triển ra sao. Đây còn là cơ hội để các thành viên bộc lộ suy nghĩ và biết
nhau hơn. Họ cũng nhận ra những hành vi của họ đã nâng đỡ hay cản trở tương
quan gia đình để từ đó chính bản thân họ đưa ra những giải pháp cải thiện tình
hình.
Tương quan giữa thân chủ và nhân viên xã hội trong phương pháp trị liệu này
phải làm sao cho các thành viên trong gia đình cảm thấy an toàn và thoải mái giải
tỏa các lo âu của mình. Nhân viên xã hội phải cố gắng tập trung vào những bận
tâm của gia đình và tạo ra tương quan trao đổi thân thiện cũng như phải bình tĩnh,
hâm nóng bầu khí nguội lạnh hoặc làm giảm nhiệt bầu khí quá nóng trong gia đình

quyết vấn đề. Nhân viên xã hội đóng vai trò hướng dẫn trực tiếp và cắt nghĩa các
hành vi hiện tại. phương pháp này làm cho các thành viên trong gia đình tăng khả
năng đánh giá và hiểu biết cảm xúc, thái độ và hành vi của người khác để cùng
nhau chọn lựa các giải pháp.
Nhân viên xã hội cũng có thể sử dụng kỹ thuật nhìn lại quá trình phát triển để
khám phá mối liên hệ giữa hành vi hiện tại với các hành vi trong quá khứ. Nếu
một thanh thiếu niên tỏ thái độ chống đối gia đình, nhân viên xã hội có thể tổ chức
một buổi thảo luận cho các bậc cha mẹ xem nguyên nhân gốc từ đâu, những bối
cảnh nào suốt đời thơ ấu đã khiến trẻ hôm nay lại có hành vi như thế. Nhân viên
xã hội giúp gia đình trực diện với các hành vi lệch lạc của trẻ để từ đó hiểu hơn
những tâm tư, cảm xúc của trẻ mà có những cách nghĩ, cách làm khác phù hợp
hơn khi đối xử với trẻ.
Hai kỹ thuật khác có thể được sử dụng là giải tỏa suy nghĩ (giúp nói ra được
những gì giữ trong lòng) và bày tỏ cảm xúc bằng cách dùng đại từ “tôi” (bày tỏ
cảm xúc của mình thay vì dán nhãn, chỉ trích tiêu cực)
Giáo dục
Phương pháp này liên quan đến việc làm phát triển sự thấu hiểu. Bằng cách
giải thích cho thân chủ biết các giai đoạn phát triển thong thường của một gia
đình, nhân viên xã hội giúp các thành viên trong gia đình cảm thấy những cảm xúc
hành vi của họ hiện thời là điều bình thường. điều này giúp họ bớt phòng vệ và
chủ động hơn trong việc tìm cách thay đổi tình thế. Nhân viên xã hội cũng chỉ cho
thân chủ thấy rõ những yếu tố môi trường nào ảnh hưởng đến đời sống gia đình
của họ. Ví dụ, một người chồng có thể dùng những bận rộn của công việc để tránh
né những căng thẳng gia đình sau vỡ ra vấn đề sẽ tự tìm hướng giải quyết sao cho
dung hòa giữa bản thân – công việc – vợ con.
Những câu chuyện thay thế
Vào giai đoạn đầu của quá trình can thiệp, nhân viên xã hội có thể yêu cầu các
thành viên trong gia đình nói riêng với mình những vấn đề nhạy cảm để tránh
những căng thẳng giữa họ. nếu căng thẳng ở mức cao độ đến nỗi tương quan tốt
đẹp giữa họ không thể phát triển được, nhân viên xã hội có thể dung những câu

Khủng hoảng là mối nguy hiểm có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng kể
cả tự tử, nhưng đồng thời cũng là cơ hội vì nó buộc con người phải cố gắng nỗ lực
giải quyết hay tìm sự giúp đỡ để sống còn. Thí dụ thường thấy về đặc tính này của
khủng hoảng là khi những người nghiện cờ bạc đã thua hết tài sản, đã táng gia bại
sản, mới thành tâm từ bỏ tật xấu đó. Dù tự mình giải quyết được khủng hoảng hay
nhờ sự giúp đỡ của gia đình, cộng đồng hay xã hội, cá nhân có thể trở nên già dặn,
trường trải hơn (thay đổi theo chiều hướng phát triển); hoặc giữ nguyên khả năng
ứng xử cũ (không thay đổi); hoặc bị ám ảnh lâu dài, có khi suốt đời, và có thể
dùng những cách đối phó tiêu cực để sống còn, thí dụ rượu chè hay ma túy, vì kinh
nghiệm đã trải qua trong khủng hoảng (thay đổi theo chiều hướng xấu).
Khủng hoảng là một hiện tượng phức tạp và đa dạng. Nó có thể xảy ra đột
ngột, thí dụ tai nạn xe cộ, hay bùng nổ sau một thời kỳ âm ỷ kéo dài, thí dụ khủng
hoảng giữa những người trong gia đình. Khủng hoảng có thể liên quan đến một cá
nhân, một gia đình, hay cả cộng đồng, xã hội, hay quốc gia, và cả thế giới. Thí dụ
bão lụt, động đất, chiến tranh, bệnh dịch… Khủng hoảng xảy ra cho tất cả mọi
người nhưng mỗi người có khả năng ứng phó riêng đối với cùng một khủng
hoảng.
Khủng hoảng xảy ra trong một thời gian có giới hạn, thường không quá sáu
đến tám tuần lễ, sau thời gian này các hậu quả tiêu cực của nó giảm dần. Mặc dù
vậy, tùy theo cường độ lúc xảy ra, khủng hoảng có thể để lại những di chứng lâu
dài (có khi suốt đời) cho nạn nhân, thí dụ những nạn nhân của hội chứng hậu chấn
tâm lý/PTSD, post-traumatic stress disorder. Theo Caplan (1990), kinh nghiệm
khủng hỏang có 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất xuất hiện sự căng thẳng mạnh mẽ
và bất ngờ gia tăng. Trong giai đoạn thứ hai, người ta cố gắng đối phó với căng
thẳng nhưng không thành công, và điều này làm cho đương sự thêm phần căng
thẳng. Lúc này, người ta cần tìm sự trợ giúp. Ở giai đoạn thứ ba, trong vòng
khoảng 4 tuần, khủng hỏang được giải quyết theo chiều hướng tiêu cực (giải pháp
đối phó không lành mạnh) hay tích cực (quản lý thành công khủng hỏang và gia
tăng khả năng của cá nhân). Cảm xúc trỗi lên trong giai đoạn khủng hỏang bao
gồm lo lắng, cảm giác tội lỗi, xấu hổ, buồn rầu, ganh tị, ghê tởm (Lazarus, 1993)

5.2.2 Can thiệp
Như đã phân tích ở trên, một kinh nghiệm căng thẳng có thể trở nên khủng
hỏang hay không là do khả năng đương đầu của mỗi người. Tuy nhiên, xã hội có
thể giúp con người tránh né khủng hoảng hoặc hồi phục sau khi bị khủng hỏang
bằng những cách thức sau đây:
 Nuôi dưỡng và gia tăng một thế giới quan phù hợp
 Gia tăng niềm hy vọng
 Tăng cường khả năng rút lui đúng lúc và tạo sáng kiến kịp thời
 Hướng dẫn
 Tạo kênh giao tiếp xã hội
 Xác nhận giá trị bản thân
 Trợ giúp vật chất
 Tạo môi trường thư giãn, nghỉ ngơi
 Vận động sự hỗ trợ của những cá nhân khác (yêu cầu thân chủ a)
liệt kê tất cả những người họ có tương quan trong vòng 1,2 tuần
trước đó, b) chọn ra từ danh sách những người có thể giúp và mô
tả những gì những người này có thể giúp, c) đánh giá các nguồn
trợ giúp khác)

Can thiệp khủng hỏang của nhân viên xã hội
Corwin (2002) và Dixon (1987) đưa ra những bước cần làm sau đây:
 Nhanh chóng thiết lập mối quan hệ tích cực: nhân viên xã hội phải
mau chóng tạo ra tương quan tốt với thân chủ bằng cách tỏ ra
chấp nhận, thấu cảm với thân chủ và phải xác nhận điều này bằng
ngôn từ rõ ràng. Nhân viên xã hội phải truyền cho thân chủ tính
lạc quan và niềm hy vọng, đồng thời khơi gợi khả năng giải quyết
khủng hoảng của thân chủ
 Gợi lên và khuyến khích thân chủ diễn tả những tình cảm, cảm
xúc tổn thương và hướng đến mục tiêu giúp thân chủ bình tĩnh
hơn, quản lý cảm xúc và tập trung những thách đố trước mắt

- tập trung vào thân chủ: thỉnh thoảng trị liệu tâm lý, giúp thân chủ phát triển
các kỹ năng sống, và giáo dục tâm lý
- tập trung vào môi trường thân chủ: giám sát
Như vậy, việc quản lý ca phải là thiết lập tương quan tích cực với thân chủ
bằng mọi cách, nêu gương các hành vi lành mạnh để thân chủ có thể chuyển từ thế
phụ thuộc sang thế tự chủ động và biến đổi môi trường thể lý của thân chủ để tạo
điều kiện cho thân chủ thích nghi dễ dàng. Muốn vậy, nhân viên xã hội làm công
tác quản lý ca phải có các khả năng:
 nhận ra những khả năng lúc ẩn lúc hiện và những nhu cầu đa
dạng của thân chủ
 có cái nhìn thực tế về điểm mạnh, giới hạn và các triệu chứng của
thân chủ
 không ngừng phán đoán tốt về mức độ tương tác cần thiết của
mình đối với thân chủ
 xác định đúng mức độ trợ giúp cần thiết sao cho có thể tận dụng
hết khả năng tự định hướng hành vi của thân chủ
 phân biệt rõ đâu là khía cạnh sinh học đâu là khía cạnh tâm lý
trong các phản ứng của thân chủ đối phó với khủng hoảng
 đánh giá đúng các tác động của những yếu tố xã hội lên khuynh
hướng năng lực của thân chủ
 đánh giá đúng các động cơ hành động vô thức và ý thức của thân
chủ
 duy trì tương quan phù hợp với thân chủ trong suốt quá trình can
thiệp
Sau đây là sáu chiến lược can thiệp khủng hoảng tương ứng với sáu thuyết

* Theo tâm lý bản ngã
Kỹ thuật gia cố bản ngã có thể giúp thân chủ nên mạnh mẽ để giải quyết
khủng hoảng của họ và hiểu các động cơ và hành vi của họ rõ rang hơn. Kỹ thuật
này đặc biệt hữu ích đối với các thân chủ cần tương quan trợ giúp ở mức độ cao và

huống tạo ra những lệch lạc đó rồi đưa ra những biện pháp để
thay thế những tư tưởng lệch lạc bằng những tư tưởng mới khác,
thực hiện các công việc sửa trị
Ba chiến lược có thể sử dụng ở đây là 1) tái tạo nhận thức bằng cách giáo
dục bằng phương pháp ABC, phương pháp đảo nghịch 2) giải quyết vấn đề và 3)
đối phó nhận thức (nhân viên xã hội giúp thân chủ các cách quản lý stress và các
cảm xúc tiêu cực bằng cách dạy cho thân chủ các kỹ năng giao tiếp và tự kỷ ám
thị)
* Theo thuyết cấu trúc gia đình
Cũng như mọi cá nhân, gia đình cũng có khi gặp khủng hoảng ví dụ như
khủng hoảng nhà ở, thu nhập, sức khỏe, bạo hành… Can thiệp khủng hoảng theo
thuyết cấu trúc gia đình thích hợp cho những trường hợp như vậy. thuyết cấu trúc
cho rằng thiết lập và duy trì vác nguyên tắcm luật lêm vai trò, quyền hành phù hợp
trong gia đình sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho các hành vi tốt của các thành viên
trong gia đình. Nhân viên xã hội làm sao để gia tăng cơ cấu tổ chức gia đình sao
cho các thành viên có thể diễn tả những bận tâm của mình.
Trong quá trình đánh giá, nhân viên xã hội phải xác định các vấn đề trục
trắc trong hệ thống gia đình, tìm ra những mối dây liên lạc hời hợt hay xung khắc
giữa vợi chồng con cái, các mâu thuẫn giữa các tiểu hệ thống, sự ganh ghét, lúng
túng giữa các thành viên và các mối tương quan liên kết bên ngoài gia đình góp
phần làm nên khủng hoảng. Các biện pháp can thiệp bao gồm:
 bình thường hóa một số khía cạnh của khủng hoảng để các thành
viên trong gia đình có thể có thái độ tự tin bơn trong các hoàn
cảnh
 huấn luyện kỹ năng giao tiếp trong đó nhvxh hướng dẫn các
thành viên trong gia đình các phương pháp phát biểu ý kiến rõ
ràng, lắng nghe tích cực để có thể bày tỏ nhu cầu, ý kiến, ý muốn
và cảm xúc
 nâng đỡ những điểm mạnh của hệ thống gia đình bằng cách khen
ngọi các khia cạnh tích cực của gia đình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status