BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
VÕ TRUNG TÙNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Tác động của cú sốc chính sách tiền tệ và tỷ giá
hối đoái đến cán cân thương mại Việt Nam” là đề tài nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin cam đoan những lời nêu trên đây là hoàn toàn đúng sự thật. Tp.HCM, ngày 03 tháng 10 năm 2013
Tác giả VÕ TRUNG TÙNG
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô và
bạn bè. Đầu tiên tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến cô Trần Thị Thùy
Linh, người đã tận tình góp ý, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi cũng gửi lời cám ơn đến ông Ndou, cô Trần Thị Tuấn Anh người đã cho
tôi những lời khuyên quý báo về dữ liệu nghiên cứu và cách tiếp cận mô hình
nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gởi làm cám ơn sâu sắc đến quý thầy cô trường Đại học
Kinh tế TpHCM đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báo trong suốt quá
trình theo học tại trường. Và con cũng xin gởi lời cám ơn đến ba mẹ, anh chị
trong gia đình đã tạo mọi điều kiện cho con hoàn thành luận văn này.
Tác giả
2.3.Tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm 14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1.Cơ sở chọn mô hình nghiên cứu 17
3.2.Cơ sở dữ liệu 17
3.3.Mô hình nghiên cứu 18
3.3.1.Mô tả biến 18
3.3.2.Mô hình nghiên cứu 20
3.3.3.Mô hình VAR đệ quy 21
3.4.Phương pháp kiểm định mô hình 23
3.4.1.Kiểm định tính dừng 23
3.4.2.Xác định độ trễ tối đa, độ trễ cần loại bỏ trong mô hình 24
3.4.3.Kiểm định nhân quả Granger 25
3.4.4. Kiểm tra tính ổn định của mô hình 25
3.4.5.Hàm phản ứng thúc đẩy (IRF) và phân rả phương sai 26
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1.Phân tích mối quan hệ giữa các biến với cán cân thương mại Việt
Nam 28
4.1.1.Phân tích biến chi tiêu và cán cân thương mại 28
4.1.2.Phân tích biến tỷ giá hối đoái, lạm phát và cán cân thương mại 30
4.1.3.Phân tích biến dòng vốn gián tiếp và cán cân thương mại 33
4.1.4.Phân tích chính sách tiền tệ và cán cân thương mại 34
4.2.Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu 35
4.2.1.Kiểm định tính dừng 35
4.2.2.Xác định độ trễ tối đa và độ trễ cần loại bỏ trong mô hình 36
4.2.3.Kiểm định nhân quả Granger 38
4.2.4.Kiểm tra tính ổn định của mô hình 39
4.2.5.Phân tích hàm phản ứng thúc đẩy IRF 39
4.2.6.Phân rả phương sai 50
4.3.Tổng hợp kết quả nghiên cứu và so sánh 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 56
HOSE
Ho Chi Minh Stock Exchange
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành
Phố Hồ Chí Minh
IM
Import
Nhập khẩu
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
IRF
Impulse Reponse Funtion
Hàm phản ứng thúc đẩy
NEER
Nomial Effective Exchange Rate
Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực
OECD
Organization for Economic Co-
operation and Development
Tổ chứ Hợp tác và Phát triển Kinh
tế
OLS
Ordinary Least Squares
Bình phương bé nhất
REER
Real Effective Exchange Rate
Tỷ giá thực hiệu lực
SVAR
Structural Vecto AutoRegression
Tự hồi quy véctơ cấu trúc
Bảng 4.8.Phân rả phương sai của cán cân thương mại theo các mô hình 50
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả nghiên cứu 53
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 2.1.Hiệu ứng đường cong J 5
Hình 4.1.Chi tiêu và cán cân thương mại Việt Nam 28
Hình 4.2.Thâm hụt thương mại, chênh lệch đầu tư-tiết kiệm, thâm hụt ngân
sách 29
Hình 4.3.Diễn biến tỷ giá và cán cân thương mại Việt Nam 31
Hình 4.4. Cán cân thương mại, tỷ giá danh nghĩa USDVND và chỉ số VN-
Index 33
Hình 4.5.Lãi suất và cán cân thương mại 34
Hình 4.6.Kiểm tra tính ổn định của mô hình VAR cơ bản 39
Hình 4.7.Phản ứng của cán cân thương mại đối với các cú sốc 40
Hình 4.8.Phản ứng của lạm phát và tỷ giá khi có cú sốc chính sách tiền tệ 43
Hình 4.9.Kiểm tra tính ổn định của các mô hình thay thế 44
Hình 4.10.Phản ứng của cán cân thương mại các cú sốc tỷ giá danh nghĩa 45
Hình 4.11.Kiểm tra tính ổn định của mô hình VAR mở rộng 47
Hình 4.12.Phản ứng của cán cân thương mại đối với cú sốc dòng vốn gián
tiếp 47
Hình 4.13.Phản ứng lạm phát, tỷ giá khi có cú sốc chính sách tiền tệ theo mô
hình VAR mở rộng 48
Hình 4.14.Phản ứng tích luỹ của cán cân thương mại đối với các cú sốc theo
mô hình VAR cơ bản và VAR mở rộng 49
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ và cú sốc tỷ giá đến cán
cân thanh toán, gây áp lực lên tỷ giá, nợ nước ngoài, lạm phát, từ đó đe dọa
đến sự bất ổn kinh tế vĩ mô. Đứng trước tình hình nền kinh tế Việt Nam có
nhiều biến động mới nhất là sau khi gia nhập WTO và sau khủng hoảng tài
chính toàn cầu năm 2008 khi có sự sụt giảm trong tiêu dùng của các nước đặc
biệt khu vực Châu Âu, Mỹ đã làm “méo mó” trong cán cân thương mại trong
những năm sau đó từ nằm 2010 đến nay hay theo sau một chính sách tiền tệ
nhằm kích cầu như: Chương trình nới lỏng định lượng của Mỹ đã làm cho
một dòng vốn gián tiếp đổ mạnh vào thị trường các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam qua đó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái và đến lượt mình tỷ giá
hối đoái ảnh hưởng đến cán cân thương mại.
Vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái và cán
cân thương mại một số nghiên cứu điển hình được thực hiện trên thế giới như:
Một là, nghiên cứu của Prasad và Gable (1998) nghiên cứu các nhân tố quyết
định đến sự biến động cán cân thương mại của các nước OECD đã chỉ ra rằng
với một chính sách tiền tệ mở rộng sẽ đưa đến sự cải thiện cán cân thương
mại và tác động đáng kể đến sự cân bằng trong cán cân thương mại.
Hai là, Kim (2001) xem xét tác động của một cú sốc chính sách tiền tệ đến
cán cân thương mại đã chỉ ra rằng với một chính sách mở rộng tiền tệ đưa đến
sự cải thiện trong cán cân thương mại do tác động của kênh chuyển đổi chi
tiêu là mạnh hơn kênh hấp thụ thu nhập. Và ông tìm thấy rất ít bằng chứng về
đường cong J.
2
Ba là, Nadenichek (2006) nghiên cứu phản ứng động của cán cân thương mại
với các biến động trong tỷ giá hối đoái thực giữa Mỹ và các nước còn lại
trong nhóm G-7 bằng mô hình SVECM và tìm thấy bằng chứng về đường
cong J.
Bốn là, Lee và Chin (1998, 2006) đã phân tích mối quan hệ giữa chính sách
tiền tệ, tài khoản vãng lai, và các biến tỷ giá hối đoái thực của các nước G7.
Họ tìm thấy đường cong J và cú sốc chính sách tiền tệ giải thích những biến
- Chính sách tiền tệ, tỷ giá và cán cân thương mại từ năm 1996 đến nay. Lý do
cho việc chọn kỳ nghiên cứu này là do từ thời điểm 1996 thì chính sách tiền tệ
bắt đầu mang tính thị trường hơn. Tỷ giá bắt đầu được hình thành và đi sát với
thị trường hơn.
- Dữ liệu nghiên cứu được thu thập, xử lý từ năm 1996-2012.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu đề tài sử dụng hai
phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến gồm:
- Phương pháp phân tích định tính: Đề tài thực hiện sưu tầm, thống kê và phân
tích dữ liệu các biến để đánh giá sự biến động của cán cân thương mại trong
giai đoạn nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích định lượng: Đề tài sử dụng mô hình VAR đệ quy với
phân tích Cholesky bằng phần mềm Eviews 6.0 cho việc xem xét sự tác động
của cú sốc chính sách tiền tệ và tỷ giá đến cán cân thương mại.
1.5. Điểm mới của đề tài
- Hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam các tác giả đều nghiên cứu xoay quanh
câu hỏi cán cân thương mại biến động như thế nào trước sự thay đổi của tỷ
4
giá hối đoái? Trong phạm vi của mình đề tài xem xét thêm tác động của chính
sách tiền tệ đến cán cân thương mại. Kênh hiệu ứng chuyển dịch chi tiêu và
hiệu ứng thu nhập thì kênh nào tác động mạnh đến cán cân thương mại.
- Sử dụng thêm biến giả đại diện cho khủng hoảng tài chính toàn cầu làm biến
ngoại sinh trong xem xét sự biến động của cán cân thương mại.
- Xem xét tác động của dòng vốn gián tiếp đến cán cân thương mại của Việt
Nam nhằm đánh giá tác động của chính sách nới lỏng định lượng của Mỹ.
1.6. Kết cấu của đề tài
Nhằm để trả lời cho những vấn đề nêu trên, đề tài chia bố cục bài viết làm
năm chương
Chương 1: Giới thiệu
qua hình ảnh đường cong J.
Hình 2.1.Hiệu ứng đường cong J.
Thời gian
0
+
MLC
thỏa
mãn
MLC
không
thỏa mãn
Thời điểm phá giá
t
0
TB
6
- Thứ hai, theo mô hình của Mundell-Flemming-Dornbusch truyền thống dự
báo rằng: Một sự mở rộng tiền tệ dẫn đến sự mất giá trong tỷ giá hối đoái
danh nghĩa và sự suy giảm của các điều khoản của thương mại (terms of
trade), kết quả là một sự cải thiện của cán cân thương mại - hiệu ứng chuyển
dịch chi tiêu (expenditure switching) nghĩa là theo sau một chính sách mở
rộng tiền tệ sẽ giúp nền kinh tế gia tăng sản lượng và thay thế hàng nhập khẩu
bằng hàng hoá sản xuất trong nước. Tuy nhiên, một sự mở rộng tiền tệ cũng
kích thích nhu cầu tiêu dùng trong nước, có thể dẫn đến sự gia tăng nhập khẩu
và một sự xấu đi của cán cân thương mại - hiệu ứng hấp thụ thu nhập
(income-absorption effect). Hai hiệu ứng làm cán cân thương mại di chuyển
xem xét xem hiệu ứng đường cong J có tồn tại và duy trì không. Kết quả
nghiên cứu cho thấy giữa Ấn Độ- Mỹ thì tồn tài mối quan hệ nghịch biến giữa
cán cân thương mại với tỷ giá và thu nhập trong nước, đồng biến với thu nhập
nước ngoài. Giữa Ấn Độ- Anh tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa cán cân
thương mại, tỷ giá và thu nhập nước ngoài, có mối quan hệ nghịch biến với
thu nhập trong nước. Cả hai trường hợp này đều không tồn tại hiệu ứng
đường cong J riêng Anh thì có tồn tại hiệu ứng đường cong S vì vậy nổ lực
giảm giá đồng nội tệ sẽ không có tác dụng cải thiện trong cán cân thương mại
với các đối tác này. Giữa Ấn Độ-Nhật và Ấn Độ -Đức thì cho mối quan hệ
đồng biến trong ngắn hạn giữa cán cân thương mại, tỷ giá và thu nhập trong
nước nhưng có mối quan hệ nghịch biến với thu nhập nước ngoài. Cả 2
trường hợp này đều tồn tại hiệu ứng đường cong J. Theo đó một nỗ lực làm
giảm giá đồng nội tệ sẽ đưa đến một sự sụt giảm trong cán cân thương mại
khoản 2 tháng và được cải thiện sau đó.
8
- Nadenichek (2006) nghiên cứu hiệu ứng đường cong J cho Mỹ và các nước
còn lại trong nhóm G7 bằng mô hình SVECM theo đó các biến được sử dụng
trong mô hình: sản lượng công nghiệp của Mỹ, sản lượng của các nước còn
lại trong nhóm G7, tỷ giá hối đoái thực hiệu lực, cán cân thương mại của Mỹ.
Kết quả cho thấy cán cân thương mại xấu đi trong khoản thời gian từ một đến
bảy quý do sự sụt giảm trong tỷ giá và sau đó được cải thiện liên tục- hỗ trợ
cho lý thuyết hiệu ứng đường cong J.
- Fratzscher, Juvenal và Sarno (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá tài
sản, tỷ giá và cán cân tài khoản vãng lai của Mỹ. Tác giả sử dụng một mô
hình VAR đệ quy với các biến trong mô hình là chênh lệch giữa các biến tại
Mỹ với nhóm nước còn lại thuộc nhóm G7: chênh lệch tiêu dùng khu vực tư
nhân, chênh lệch lạm phát, chênh lệch lãi suất, tỷ giá hối đoái thực, chênh
lệch chỉ số chứng khoản, chênh lệch giá nhà, cán cân thương mại chia cho
GDP (nghiên cứu giả định sự biến động trong cán cân thương mại cũng chính
quân của các nước còn lại trong nhóm G7. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình
VAR đệ quy, kết quả cho thấy theo sau một cú sốc thắt chặt chính sách tiền tệ
(sự tăng lên trong lãi suất) sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực tăng, cán cân
thương mại bị sụt giảm trong ngắn hạn và sau đó được cải, không tìm thấy
“price puzzle” khi có một cú sốc thắt chặt tiền tệ. Ngoài ra kết quả cũng cho
thấy xuất hiện “exchange rate puzzle” trong khoản hai quý.
- Kim (2001) xem xét ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến cán cân
thương mại của các nền kinh tế nhỏ mở: Pháp, Ý và Anh. Bài nghiên cứu sử
dụng mô hình SVAR với các biến: Lãi suất ngắn hạn của nước nghiên cứu,
cung tiền, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất liên bang
của Mỹ, tỷ số xuất khẩu chia nhập khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy theo
sau một cú sốc mở rộng chính sách tiền tệ (lãi suất giảm, cung tiền tăng) đưa
10
đến một cải thiện trong cán cân thương mại do hiệu ứng chuyển dịch chi tiêu
là mạnh hơn hiệu ứng hấp thụ thu nhập.
- Ivrendi và Guloglu (2010) nghiên tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến
cán cân thương mại ở những nước lạm phát mục tiêu. Bài nghiên cứu sử dụng
mô hình SVECM các biến được sử dụng trong mô hình: Lãi suất ngắn hạn,
cung tiền, lạm phát, sản lượng công nghiệp, tỷ giá hối đoái danh nghĩa, cán
cân thương mại, xuất khẩu, nhập khẩu của các quốc gia nghiên cứu. Kết quả
nghiên cứu cho thấy theo sau một cú sốc chính sách tiền tệ dẫn đến giảm giá
cả, giảm sản lượng, tăng trong tỷ giá và cải thiện trong cán cân thương mại.
Tác động của cú sốc chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ giúp cắt giảm nhập khẩu
trong ngắn hạn. Bài nghiên cứu đã không tìm thấy bất kỳ các “puzzle” trong
nghiên cứu thực nghiệm khi nghiên cứu cú sốc chính sách tiền tệ.
- Jannsen và Klein (2011) nghiên cứu truyền dẫn quốc tế của chính sách tiền
tệ đến các nước không thuộc khu vực đồng tiên chung Châu Âu (Anh, Thuỵ
Điển, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Sĩ). Nghiên cứu sử dụng mô hình VAR đệ quy
với các biến: Tổng sản phẩm quốc dân của quốc gia nghiên cứu, chỉ số giảm
đoái thực, sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân thương mại được đo lường
bằng xuất khẩu chia cho nhập khẩu. Tất cả các biến được lấy dưới dạng
logarit. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy với một cú sốc chính sách thắt chặt
tiền tệ sẽ làm giảm tỷ giá hối đoái hay sự lên giá của đồng Won (KRW/đồng
tiền nước ngoài) và làm xấu đi cán cân thương mại. Bài nghiên cứu không tìm
thấy bằng chứng với đường cong J, thay vào đó theo sau một cú sốc giảm giá
đồng Won đưa đến sự cải thiện trong cán cân thương mại trong ngắn hạn và
mức cải thiện lớn hơn trong dài hạn.
12
- Ncube và Ndou (2013) nghiên cứu tác động của cú sốc chính sách tiền tệ, tỷ
giá đến cán cân thương mại của Nam Phi. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình
VAR đệ quy theo đó các biến được sử dụng trong mô hình là chênh lệch giữa
các biến nghiên cứu tại Nam Phi và các biến của Mỹ- biến kiểm soát: chênh
lệch tiêu dùng cuối cùng khu vực hộ gia đình, chênh lệch trong lạm phát,
chênh lệch trong lãi suất, chênh lệch chỉ số giá chứng khoán, và tỷ giá hối
đoái thực hiệu lực, cán cân thương mại của Nam Phi. Cú sốc tỷ giá tác động
mạnh đến cán cân thương mại của Nam phi- theo đó một cú sốc nâng giá
đồng RAND sẽ làm cán cân thương mại thâm hụt trong nhiều quý. Cú sốc
thắt chặt chính sách tiền (tăng lên trong lãi suất) đưa đến một sự thâm hụt
trong cán cân thương mại trong ngắn hạn – kênh chuyển dịch chi tiêu thì tác
động mạnh hơn kênh hấp thụ thu nhập trong ngắn hạn. Cú sốc dòng vốn gián
tiếp không có ý nghĩa đối với cán cân thương mại của Nam Phi. Bài nghiên
cứu cho thấy không có mối quan hệ rõ ràng giữa tiêu dùng khu vực hộ gia
đình và cán cân thương mại của Nam Phi, cú sốc lạm phát không có ý nghĩa
đối với cán cân thương mại của Nam Phi, nghiên cứu cũng tìm thấy các
“puzzle” (price puzzle và exchange rate puzzle) trong mô hình nghiên cứu của
mình.
2.2.4. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam
Do theo đuổi chính sách định giá thấp đồng tiền nhằm hỗ trợ cho hoạt động
giá trong ngắn hạn, sau đó là mối tương quan nghịch chiều từ quý 3 trở đi. Từ
kết quả của mình tác giả cho rằng có tồn tại hiệu ứng đường cong J giữa Việt
Nam và Trung Quốc. Có mối tương quan cùng chiều giữa GDP Việt Nam và
nhập khẩu từ Trung Quốc.
- Tô Trung Thành (2012) nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái thực đến
cán cân thương mại của Việt Nam với các biến: Tỷ giá hối đoái thực, xuất
14
khẩu, nhập khẩu, tỷ lệ xuất khẩu/nhập khẩu, giá trị sản lượng công nghiệp của
Mỹ, giá trị sản lượng trong nước, giá dầu với chuỗi thời gian 2000-2011. Bài
nghiên cứu sử dụng mô hình VAR và VECM. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
những nổ lực trong phá giá đồng tiền cũng không góp phần cải thiện cán cân
thương mại của Việt Nam trong thời gian vừa qua. Lý do được tác giả đưa ra
là do cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam- chủ yếu là nhập khẩu
nguyên liệu (70-80%) để sản xuất xuất khẩu.
Nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam hầu hết đều tập trung vào việc trả lời
cho câu hỏi sự biến động tỷ giá sẽ làm thay đổi cán cân thương mại như thế
nào? Do đó trong phạm vi nghiên cứu của mình đề tài sẽ mở rộng xem xét
thêm tác động của chính sách tiền tệ đến cán cân thương mại của Việt Nam.
2.3. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm
Nhằm cung cấp một cái nhìn mang tính tổng quát các nghiên cứu thực nghiệm
đã được trình bày trên. Theo đó đề tài sẽ tổng hợp các nghiên cứu theo các
nhân tố tác động đến cán cân thương mại.
Bảng 2.1.Tổng hợp các nghiên cứu trước đây
Biến
Mối tương
quan
Các nghiên cứu
P: chỉ số lạm phát được tính
thông qua chỉ số giá tiêu
dùng (CPI)
P còn được tính thông qua
chỉ số giảm phát GDP (GDP
deflator)