BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------
TRẦN THỊ NGỌC QUYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, LÃI
SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TAỊ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------
TRẦN THỊ NGỌC QUYÊN
TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, LÃI
SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng (Ngân hàng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hướng dẫn khoa học: PGS. TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................ 2
1.4.
Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................. 2
1.5.
Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................... 3
1.6.
Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 3
1.7.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu ................................................................................... 3
1.8.
Kết cấu của đề tài ...................................................................................................... 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC .. 5
2.1
Cơ sở lý thuyết .......................................................................................................... 5
2.1.1
2.2.3
2.3
Thị trường ............................................................................................................ 18
Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của thị trường, lãi suất và tỷ giá
hối đoái đến giá cổ phiếu ngân hàng ................................................................................. 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................... 28
3.1
Thực trạng tình hình tại Việt Nam .......................................................................... 28
3.1.1
Hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam .............................................. 28
3.1.2
Thực trạng hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam ....................................... 30
3.1.3
Tình hình thực tiễn của các cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết .......................... 33
3.2
Dữ liệu nghiên cứu .................................................................................................. 36
3.3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3. 1 Bảng mô tả dữ liệu ............................................................................................ 38
Bảng 3. 2 Danh sách các ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán ..................... 38
Bảng 3. 3 Bảng thống kê mô tả các nhân tố ...................................................................... 39
Bảng 4. 1 Kết quả phân tích CAPM .................................................................................. 45
Bảng 4. 2 Kết quả hồi quy cổ phiếu VCB .......................................................................... 47
Bảng 4. 3 Kết quả hồi quy cổ phiếu CTG .......................................................................... 48
Bảng 4. 4 Kết quả hồi quy cổ phiếu BIDV ........................................................................ 48
Bảng 4. 5 Kết quả hồi quy cổ phiếu MBB ......................................................................... 49
Bảng 4. 6 Kết quả hồi quy cổ phiếu STB ........................................................................... 49
Bảng 4. 7 Kết quả hồi quy cổ phiếu EIB ........................................................................... 50
Bảng 4. 8 Kết quả hồi quy cổ phiếu ACB .......................................................................... 50
Bảng 4. 9 Kết quả hồi quy cổ phiếu SHB .......................................................................... 51
Bảng 4. 10 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy giá cổ phiếu các ngân hàng .......................... 51
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2. 1 Thị trường tài chính Việt Nam ............................................................................. 8
Hình 2. 2 Biến động tỷ giá VND/USD từ 2010 đến 2018 .................................................. 17
Hình 2. 3 Chỉ số VNINDEX từ 1/2010 đến tháng 7/2018 ................................................. 18
Hình 2. 4 Quy trình hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam ................................... 29
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1.
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tài chính. Theo
báo cáo của Ngân hàng châu Á Thái Bình Dương (ADB) cũng cho rằng, các thị trường
mới nổi như Việt Nam sẽ tiếp tục chứng kiến những bước phát triển đáng ghi nhận đến từ
2
thị trường chứng khoán. Thời gian gần đây, thị trường chứng khoán hay đúng hơn là giá
cổ phiếu đã có nhiều phiên với những giai đoạn thay đổi bất thường do sự suy giảm về
tăng trưởng kinh tế bởi chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu. Thực tế đã
có những nghiên cứu để rút ra được nguyên nhân và đề xuất các phương án để thị trường
này ổn định hơn, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này đều nghiên cứu về yếu tố chỉ số
giá công nghiệp, biến động về giá dầu, thay đổi chỉ số giá chứng khoán bên ngoài,...
Do vậy, để hiểu rõ hơn cũng như giải thích được về các nguyên nhân gây ra những
thay đổi cho giá cổ phiếu của thị trường, bài viết này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của
các yếu tố thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ngân hàng để nhằm đưa
ra các luận cứ khoa học giúp các nhà làm chính sách đề xuất các chính sách, biện pháp
thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói
chung.
Trên cơ sở đó, đề tài “Tác động của thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đến giá
cổ phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm góp phần bổ sung thêm các kết quả
thực nghiệm liên quan giữa thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái đối với giá cổ phiếu các
ngân hàng thương mại.
1.3.
Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, sự tác động từ những yếu tố độc lập bao gồm thị trường
chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái lên giá cổ phiếu ngân hàng thương mại sẽ
là đối tượng nghiên cứu chính nhất.
Phương pháp nghiên cứu
Trong nội dung bài nghiên cứu này, tác động của thị trường, lãi suất và tỷ giá hối
đóai đến chỉ số giá của cổ phiếu ngân hàng sẽ được tiến hành dựa trên các phương pháp
bao gồm: phương pháp CAPM, phương pháp APT và kết hợp cùng với phương pháp
phân tích hồi quy OLS dựa trên các dữ liệu thu thập được. Trong phạm vi bài nghiên cứu
này, dữ liệu được sử dụng là dữ liệu các ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian từ tháng
02/2014 đến tháng 12/2017.
1.7.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu định lượng bằng 2 mô hình CAPM và APT, nghiên cứu này
kỳ vọng sẽ đưa ra được hướng tác động, độ lớn tác động của các nhân tố thị trường chứng
khoán, lãi suất và tỷ gía hối đoái lên giá cổ phiếu các ngân hang thương mại tại Việt
Nam. Thông qua kết quả nghiên cứu có được sẽ hỗ trợ các ngân hàng thương mại đang
hoạt động tại Việt Nam trong việc hoạch định chiến lược hoạt động, điều chỉnh hoạt động
ngân hàng của mình nhằm hướng đến tối đa hoá lợi ích của mình. Bên cạnh đó, các cơ
quan chức năng cũng có thể dựa trên nghiên cứu này nhằm đưa ra các chính sách, quy
định nhằm ổn định và phát triển thị trường tài chính chứng khoán một cách lâu dài và
vững chắc.
1.8.
Kết cấu của đề tài
4
Chương 1 – Giới thiệu đề tài, tác giả sẽ trình bày tổng quát về lý do chọn đề tài,
thực thi, ban hành các chính sách, phương hướng, chiến lược mang tầm vĩ mô mà không
nhất thiết phải e dè rằng liệu các chính sách mà họ đưa ra sẽ tác động và làm chuyển đổi
bản chất của thị trưởng chứng khoán vì những chính sách đó phần nào chỉ tác động tới
giá cả của các mã cổ phiếu đang niêm yết mà thôi. Bên cạnh đó, các học thuyết kinh tế
học còn đề xuất ra một giả thuyết đó là giá cả của cổ phiếu, chứng khoán một mặt không
những đưa ra các thông tin hiện có mà còn dự báo tương đối chính xác về hiệu quả, tình
hình hoạt động trong thời gian sắp tới của doanh nghiệp. Giả định rằng một khi giá cả của
cổ phiếu sẽ phản ánh một cách tương đối chính xác các thành tố kinh tế mang tầm vĩ mô
thì điều này tương đương với việc nó có thể sẽ được xem như một công cụ dùng để dự
báo thể trạng của nền cả kinh tế quốc gia trong tương lai. Chính vì vậy, việc tìm hiểu mối
quan hệ cộng sinh, tương tác qua lại giữa những nhân tố vĩ mô và giá cổ phiếu là cực kỳ
quan trọng trong việc đề suất và gợi ý trong việc đưa ra các chính sách trong công tác vận
hành cả nền kinh tế.
Dưới tác động của những nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường mua bán chứng
khoán nói chung, lý thuyết từ EMH đã chỉ ra: việc cạnh tranh đến từ các nhà đầu tư trên
thị trường – bao gồm những người mua người bán mong muốn hướng đến việc đạt được
lớn nhất lợi nhuận của mình – chắc chắn rằng tất cả những thông tin, dữ liệu hiện tại giả
định rằng liên hệ tới việc thay đổi của những nhân tố vĩ mô sẽ được thể hiệnthông qua giá
của cổ phiếu chứng khoán, vì vậy nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội có được tỷ suất sinh lợi mong
muốn bằng cách dự đoán xu hướng những thay đổi trên thị trường cổ phiếu chứng khoán
6
trong tương lai. Nhưng đi ngược với những kết luận trên, các bằng chứng thực nghiệm từ
các nghiên cứu trước đã đưa ra kết luận rằng những thành tố kinh tế vĩ mô có thể được
dùng trong việc dự báo được chuỗi tỷ suất sinh lợi tích lũy. Những nghiên cứu này khẳng
định các yếu tố vĩ mô rõ ràng có ảnh hưởng đến thu nhập và biến động chỉ số giá chứng
khoán. Trong nội hàm phạm vi nghiên cứu này, các yếu tố chính sẽ được đề cập đến bao
gồm thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái, các yếu tố này là những biến số thay đổi
thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát
hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được
phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra
các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi
chủ thể nắm giữ chứng khoán. Về cơ bản, chứng khoán chính là một phần của công ty khi
gọi vốn đầu tư. Nhà đầu tư có thể được xem là chủ của doanh nghiệp khi nắm giữ cổ
phiếu (cổ phần) của doanh nghiệp đó.
Khi một doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra thị trường lần đầu (hay còn gọi là
IPO) nhiều tổ chức sẽ tiến hành mua cổ phiếu đó với số lượng lớn ( công ty sẽ thu được
nguồn vốn từ hoạt động này). Mặt khác khi công ty đó niêm yết trên sàn chứng khoán,
những người sở hữu cổ phần của công ty sẽ được sở hữu một lượng cổ phiếu nhất định
tùy theo cổ phần của họ trong công ty.
Những tổ chức đã mua cổ phiếu cùng với những người sở hữu cổ phần đều có thể
bán lại cổ phiếu đã mua cho các nhà đầu tư khác. Chính lúc này, những người sở hữu cổ
phiếu chứng khoán của các doanh nghiệp đang niêm yết thì được xem là nhà đầu tư, và
những nhà đầu tư này có thể tiến hàng các hoạt động như mua bán, trao đổi cổ phiếu
công ty, doanh nghiệp đó trên thị trường, tuy nhiên vấn đề cốt lỗi chính là những hoạt
độn trao đổi mua bán này sẽ không có tác động trong việc tăng lên của vốn doanh nghiệp
mà đơn giản chỉ là việc thay đổi chủ sở hữu từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác.
Những giao dịch trao đổi mua bán trên sẽ được tiến hành thông qua sự trung gian
của các công ty môi giới (những công ty môi giới chứng khoán sẽ phải có trách nhiệm
trong việc thực hiện và khớp lệnh), Trung tâm lưu ký Chứng khoán của nhà nước sẽ có
chức năng lưu ký những cổ phiếu đã được mua.
8
Hình 2. 1 Thị trường tài chính Việt Nam
Thị trường
trái phiếu mới đạt mức 14% GDP thì đến thời điểm hiện tại đã đạt gần 40%, trong đó chủ
yếu là thị trường trái phiếu chính phủ (gần 30% GDP) và thị trường trái phiếu doanh
nghiệp (xấp xỉ 6% GDP).
9
Thanh khoản của thị trường trái phiếu chính phủ đã tăng ngoạn mục từ mức hơn
324 tỷ đồng/phiên năm 2009 lên mức gần 9000 tỷ đồng/phiên trong năm 2017, tăng 27
lần và gấp đôi giá trị giao dịch bình quân phiên của thị trường cổ phiếu.
2.1.2 Khái niệm cổ phiếu
Theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH-11 ngày 29 tháng 6 năm 2009 của Quốc
hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Cổ phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ
phần của tổ chức phát hành”. Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp
vào công ty phát hành. Người nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở
hữu của công ty phát hành.
Cổ phiếu phổ thông và quyền lợi của cổ đông Theo Bạch Đức Hiển (2008): “Cổ
phiếu phổ thông là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối vối công ty và xác
nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty”. Người
nắm giữ cổ phiếu phổ thông là cổ đông phổ thông và là đồng chủ sở hữu của công ty cổ
phần, cổ phiếu phổ thông có những đặc điểm chủ yếu sau:
Cổ tức của cổ phiếu phổ thông không cố định, phụ thuộc vào con số lợi nhuận sau
thuế hàng năm mà công ty thu được và chính sách chia lợi tức cổ phần của nó. Khi hoạt
động kinh doanh của công ty phát triển, các cổ đông phổ thông sẽ được chia cổ tức.
Ngược lại, khi công ty kinh doanh bị trì trệ, các cổ đông phổ thông sẽ không có cổ tức
hoặc cổ tức thấp. Thậm chí trong trường hợp công ty hoạt động kinh doanh tương đối tốt,
lợi nhuận sau thuế cao nhưng cổ đông phổ thông vẫn có khả năng không được nhận cổi
tức ở mức cao do công ty ưu tiên dành cổ tức để tích lũy hơn là chia cổ tức cho các cổ
đông.
vậy, quyền ưu tiên mua này tạo điều kiện cho những cổ đông hiện hữu có thể duy trì và tỷ
lệ sở hữu của họ trong công ty sau khi phát hành thêm cổ phiếu để tăng thêm vốn. Mỗi cổ
phiếu đang nắm giữ mang lại cho cổ đông một quyển mua trước. Tuy nhiên, số lượng
quyền cần để có thể mua được cổ phiếu mới bao gồm giá mua, thời hạn hiệu lực của
quyền mua sẽ được quy định chi tiết, cụ thể trong từng đợt phát hành cổ phiếu mới. cổ
phiếu bán theo quyền thường có mức giá thấp hơn so với giá thị trường hiện hành. Nếu
cổ đông không muốn thực hiện quyền của mình thì họ có thể bán quyền đó trên thị
trường. Ngoài những quyền chủ yếu nêu trên, cổ đông phổ thông còn có những quyền
khác như quyển được yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất thường... Các quyền cụ thể
11
của cổ đông phổ thông được ghi trong điểu lệ của Công ty. Cùng vói việc được hưởng
các quyển lợi, cổ đông phổ thông cũng phải gánh chịu những rủi ro mà Công ty gặp phải,
tương ứng với phần vốn góp và chỉ phải chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi lượng
vốn góp vào Công ty.
Chung quy lại, cổ phiếu có một số đặc điểm chính sau đây
Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không
có kỳ hạn.
Cổ tức không ổn định và phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Khi phá sản, cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của tài sản thanh
lý.
Giá cổ phiếu biến động nhiều nhất là trên thị trường thứ cấp, do giá chịu sự tác
động của nhiều nhân tố, và nhân tố quan trọng đó là kết quả kinh doanh của công ty.
2.1.3 Giá cổ phiếu
như thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), cổ tức (devidend), tốc độ tăng trưởng trong doanh
thu …. Khi nghiên cứu về bất cứ cổ phiếu nào thì đây được xem như các đối tượng đáng
quan tâm hàng đầu vì chúng phản ánh được hiện tại và tương lai sắp sửa xảy ra đối với
doanh nghiệp mà nhà đầu tư dự định đầu tư. Giá cổ phiếu của một doanh nghiệp được
đánh giá cao hơn khi mà kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó tốt hơn, xét
trong cùng một ngành nghề và các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng chi ra một mức giá cao hơn để
sở hữu được cổ phiếu đó. Đồng thời, các số liệu nêu trên sẽ được cung cấp đầy đủ trong
báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Hệ số định giá (chỉ số P/E: Price to Earning Ratio) là hệ số tài chính dùng để đánh
giá mối liên hệ giữa và tỷ số thu nhập trên cổ phần và thị giá ở thời điểm hiện tại của
một cổ phiếu (giá cổ phiếu ở chợ chứng khoán), hay nói cách khác, hệ số này cho
thấy nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Hệ số P/E thường được tính trong vòng 1 năm gần nhất, tuy nhiên có ý kiến cho rằng chỉ
số P/E nên được tính trong khoảng thời gian tối thiểu là 5 năm, khoảng thời gian hợp lý
nhất là từ 7-10 năm bởi vì các thông tin nhận định về một khoảng thời gian ngắn như một
vài tháng hay một năm chỉ đưa ra những nhận định mang tính thời điểm, không nêu ra
được xu hướng dài hạn của công ty, do vậy có thể ảnh hưởng đến quyết định của các nhà
đầu tư, làm họ đưa ra các quyết định không chính xác.
13
2.1.4.2 Các nhân tố vĩ mô
Các nhân tố vĩ mô thể hiện các yếu tố tác động đến từ bên ngoài hình thành nên cơ
sở giá cuả cổ phiếu. Thực tế nếu nói đến các yếu tố bên ngoài thì có rất nhiều các yếu tố
được đề cập đến và mỗi yếu tố lại có một mức độ ảnh hưởng khác nhau, bằng cách trực
tiếp hay gián tiếp. Nội dung của nghiên cứu này sẽ nhắc đến một vài nhân tố chủ chốt
được xem là có ảnh hương mạnh mẽ trong thị trường. Đầu tiên có thể liệt kê bộ ba yếu tố
được xem là có ảnh hưởng lớn nhất trong cả hoạt động vận hành nền kinh tế quốc gia nói
chung và cả thị trường chứng khoán nói riêng đó là tỷ giá, lãi suất và lạm phát. Trước hết,
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến các yếu tố cơ bản của cổ
phiếu từ đó làm thay đổi giá của cổ phiếu.
Bên cạnh các yếu tố như lạm phát, lãi suất và tỷ giá thì giá cổ phiếu còn bị tác
động bởi:
Triển vọng phát triển của cả nền kinh tế nói chung và triển vọng phát triển ngan
nói riêng: Có ý kiến cho rằng tình trạng chung của nền kinh tế kết hợp cùng triển vọng
phát triển của một ngành cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến mức giá cổ phiếu
của công ty trong ngành đó..
Các giao dịch mang tính bất thường: Việc mua bán cổ phiếu không dựa trên nền
tảng là giá trị nội tại của cổ phiếu làm thay đổi đáng kể cung - cầu cổ phiếu trên thị
trường cũng ảnh hưởng đến giá của nó.
Tính thanh khoản của cổ phiếu: Đây được xem như là cơ sở để nhà đầu tư lựa
chọn cổ phiếu, phản ánh mức độ quan tâm của nhà đầu tư đối với cổ phiếu, từ đó tác
động đến cầu của cổ phiếu đó. Thước đo của tính thanh khoản thường được xem xét dưới
khối lượng giao dịch của nó.
2.2
Lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến giá cổ phiếu các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam
2.2.1 Lãi suất
Để đi đến quyết định đầu tư vào TTCK, cần phải nhìn đến các yếu tố cơ bản để
quyết định việc có đầu tư hay không, là lãi suất. Lãi suất ở đây được định nghĩa đơn giản
là cái giá, là chi phí mà người đi vay bắt buộc phải trả cho người cho vay. Nhà đầu tư cần
hiểu rõ sự ảnh hưởng của lãi suất đến giá cổ phiếu, từ đó đưa ra được quyết định hợp lý.
Lãi suất ảnh hưởng một cách trực tiếp và tác động ngược chiều lên giá cổ phiếu. Khi lãi
suất cho vay thấp, chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để vay nhằm thực hiện các hoạt động
thay đổi mối quan hệ lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau. Rủi ro đường cong lợi tức xuất
hiện khi có sự thay đổi về hình dạng hoặc độ dốc của đường cong lợi tức. Sự thay đổi này
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị của tài sản ròng của ngân hàng. Ví dụ trường hợp
ngân hàng mua trái phiếu (lãi suất thả nổi) có kỳ hạn 5 năm từ nguồn bán trái phiếu (lãi
suất thả nổi) có kỳ hạn 10 năm. Nếu đường cong lợi tức tăng nhanh và trở nên dốc hơn
thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của ngân hàng đều giảm xuống.
16
Rủi ro ở các sản phẩm quyền chọn: Rủi ro này xuất hiện đối với các tài sản nợ, tài
sản có gắn với quyền chọn.
Rủi ro cơ bản: Rủi ro cơ bản là rủi ro do thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi
suất thị trường khác nhau. Rủi ro cơ bản thường xuất hiện khi sự biến động lãi suất giữa
các loại tài sản khác nhau là khác nhau. Ví dụ trường hợp ngân hàng cho vay một khách
hàng dựa trên lãi suất tham chiếu là lãi suất LIBOR (cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố
định) và nguồn tài trợ là từ tiền gửi với lãi suất tham chiếu là lãi suất cơ bản của NHNN
(cộng hoặc trừ một mức lãi suất cố định). Khi lãi suất cơ bản của NHNN tăng nhanh hơn
lãi suất LIBOR thì lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của ngân hàng đều giảm xuống.
Tác động ngược chiều giữa lãi suất và giá cổ phiếu đã xuất hiện trong nhiều mô
hình. Trong quá trình định giá cổ phiếu, công việc đầu tiên là phải xác định mức lãi suất
chiết khấu phù hợp, sao cho phản ánh được giá trị thời gian của tiền và rủi ro của cổ
phiếu. Thông thường, nhà đầu tư thường sử dụng tỷ suất lợi nhuận yêu cầu để làm lãi suất
chiết khấu, và mô hình CAPM được sử dụng để tính tỉ suất lợi nhuận yêu cầu. Nếu chính
phủ thay đổi lãi suất điều hành thì lãi suất phi rủi ro cũng sẽ thay đổi. Một khi lãi suất thị
trường tăng, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức tỉ suất sinh lợi ở TTCK cao hơn, để bù đắp
rủi ro. Giả sử các yếu tố khác không đổi, thì giá cổ phiếu sẽ giảm xuống một khi tỉ suất
lợi nhuận yêu cầu tăng lên và ngược lại. Hơn nữa, tỉ suất lợi nhuận yêu cầu lại phụ thuộc
vào lãi suất phi rủi ro. Bên cạnh đó, lãi suất còn ảnh hưởng đến hoạt động của doanh
nghiệp, sự tăng lên của lãi suất sẽ làm tăng chi phí vốn. Do đó, doanh nghiệp phải tăng
10,000
5,000
1
7
13
19
25
31
37
43
49
55
61
67
73
79
85
91
97
103
109
115
121
127
133
139
145
151