Giải pháp huy động vốn ở công ty cổ phần dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện nay vốn sản xuất kinh doanh là điều kiện tiên quyết
không thể thiếu được đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Nó vừa là yếu tố cần thiết
đầu tiên cho sự ra đời của một doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là yếu tố không thể
thiếu để duy trì sự tồn tại của một doanh nghiệp. Mặt khác mỗi doanh nghiệp hoạt
động trong cơ chế thị trường đều hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận do đó vốn là
nhân tố vô cùng quan trọng quyết định khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng
cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.
Ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ DNNN sang CTCP đã tạo không ít
những cơ hội và đông lực phát triển cho các DN, sau khi chuyển sang CTCP, hầu hết
các chỉ tiêu về tài chính, kết quả hoạt động của DN như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu,
doanh thu, lợi nhuận... đều tăng rất nhanh. Tuy nhiên, không ít các DN làm ăn kém
hiệu quả đã không thích ứng được và lâm vào tình trạng bế tắc. Thực tế này bắt nguồn
từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là DN bị động trong huy động vốn và công tác
quản lý vốn của DN còn nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Chính vì vậy, huy
động, sử dụng vốn SXKD một cách hiệu quả có ý nghĩa hết sức quan trọng để các DN
khẳng định được vị trí của mình trong có chế thị trường. Chính vì những lý do đó,
việc chủ động nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp huy động và sử dụng vốn là rất cần
thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở mỗi DN.
Công ty cổ phần dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài là một DN hạch toán độc
lập, đồng thời là thành viên của Tổng công ty Hàng không Việt Nam -là tổng công ty
nhà nước. Hơn một nửa số vốn điều lệ của công ty cổ phần dịch vụ hàng không thuộc
Tổng công ty hàng không Việt Nam. Trong thời gian thực tập tại Công ty, em đã chọn
cho mình đề tài và hoàn thành chuyên đề thực tập “Giải pháp huy động vốn ở công
ty cổ phần dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài”
Chuyên đề gồm ba phần:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về vốn sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp.
Chương II: Thực trạng huy động và sử dụng vốn ở công ty cổ phần dịch
vụ hàng không sân bay Nội Bài

sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói một cách khác đó là quá trình thực
hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất. Như vậy, vốn đầu tư trong thời kì này sẽ trở
thành vốn SXKD của doanh nghiệp trong thời kì sản xuất sau. Vốn đầu tư là điều kiện
là cơ sở hình thành nên vốn sản xuất.
Xét chung thì vốn SXKD trong doanh nghiệp được biểu hiện là giá trị của toàn
bộ tài sản do doanh nghiệp quản lý và sử dụng tại một thời điểm nhất định. Mỗi đồng
vốn phải gắn liền với một chủ sỡ hữu nhất định. Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của
doanh nghiệp, nhưng chưa hẳn có tiền là có vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để tiền là vốn phải có những tiêu chuẩn như: phải đến một lượng nhất định, phải luôn
vận động sinh lời...
1.1.2 Đặc trưng của vốn XSKD
Vốn kinh doanh đại diện cho một lượng giá trị nhất định bao gồm tài sản cố định
hoặc là tài sản lưu động.
Vốn kinh doanh luôn luôn vận động để sinh lời. Trong quá trình vận động, hình
thái biểu hiện của vốn luôn thay đổi giữa hiện vật và giá trị, nhưng sau mỗi vòng tuần
hoàn vốn phải tồn tại dưới hình thái tiền và quan trọng hơn là giá trị của vốn phải lớn
lên hay ta gọi đây là hoạt động sinh lời của vốn.
SV: Nguyễn Thuỳ Chăm - Lớp: KTPT48B
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vốn kinh doanh không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động. Bất kì một
lượng vốn kinh doanh dù lớn hay nhỏ đều gắn liền với mọt chủ sở hữu nhất định. Có
như vậy trong quá trình quản lý, bảo tồn cũng như phát triển vốn mới có hiệu quả vì
nó gắn liền trách nhiệm của chủ sở hữu với quyền sử dụng vốn.
Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian. Trong quá trình huy động và sử dụng
vốn, bên cạnh yếu tố về lượng là tính tương thích về thời gian của vốn. Sau mỗi chu
kì SXKD, lượng vốn ban đầu bỏ ra không những giữ nguyên được sức mua hay giá trị
thực của nó mà còn lớn lên về mặt quy mô. Hay ta nói vốn có giá trị về mặt thời gian.
Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có khả năng phát
huy tác dụng. Tiền cho dù có nhiều nhưng tồn tại rải rác khắp nơi thì cũng không thể

DN phải luôn đổi mới theo sự thay đổi mạnh mẽ của KHCN. Ứng dụng CN hiện đại
tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mẫu mã, đặc biệt là nâng cao
năng xuất lao động, giảm thiểu chi phí. Muốn vậy thì doanh nghiệp cần phải có vốn.
Vốn là yếu tố quyết định trực tiếp đến hoạt động đổi mới của DN.
1.3. Phân loại vốn
Mỗi loại vốn có các đặc trưng đặc điểm khác nhau, vì vậy muốn quản lý tốt các
nguồn vốn ta phải phân loại các nguồn vốn. Có nhiều tiêu thức để phân loại vốn SXKD
1.3.1 Phân loạiTheo phương thức luân chuyển
Theo phương thức phân loại này có 2 loại vốn: Vốn cố định và vốn lưu động
 Vốn cố định:
Vốn cố định của DN là bộ phận vốn được sử dụng để hình thành tài sản cố định
và các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp. Nó chính là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ tài sản cố định và các khoản đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.
Đặc điểm của VCĐ trong sản xuất kinh doanh:
VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD, điều này do đặc điểm của TSCĐ được
sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ SXKD quyết định.
VCĐ luân chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ SXKD. Khi
tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành
chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao
mòn của TSCĐ.
Sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Sau
mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị dần dần tăng lên song
phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại giảm xuống cho đến khi hết thời gian sử dụng,
giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm thì VCĐ mới hoàn thành một
vòng luân chuyển.
VCĐ được chia thành hai loại là VCĐ hữu hình và VCĐ vô hình:
 VCĐ hữu hình: là biểu hiện bằng tiền của những TSCĐ có hình thái vật chất
cụ thể, có đủ những tiêu chuẩn về thời gian luân chuyển và giá trị, bao gồm: nhà
xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện truyền tải, phương tiện truyền dẫn…
 VCĐ vô hình: là biểu hiện bằng tiền của những TSCĐ không có hình thái vật

lao động nhỏ.
• Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và vốn
về chi phí trả trước.
• Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm giá trị thành phẩm, vốn bằng
tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…)
các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng…)
Như vậy, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của
doanh nghiệp. Nó là một bộ phận của vốn kinh doanh được ứng ra để hình thành nên
TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD được tiến hành thường
xuyên, liên tục. VLĐ được biểu hiện chủ yếu là vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, phải
thu của khách hàng, vật tư hàng hóa và tài sản lưu động khác. Do đặc điểm của TSLĐ
SV: Nguyễn Thuỳ Chăm - Lớp: KTPT48B
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chi phối.
VLĐ của doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
VLĐ tham gia vào một chu kỳ SXKD, luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện, từ
hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vốn sản xuất như vật tư, hàng hóa và
kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm, VLĐ lại trở về hình thái ban đầu là vốn tiền tệ.
Sự vận động của VLĐ từ hình thái ban đầu qua các hình thái khác đến khi trở về hình
thái ban đầu gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Do quá trình SXKD của doanh nghiệp diễn
ra thường xuyên, liên tục nên sự tuần hoàn của VLĐ cũng lặp đi lặp lại có tính chu
kỳ.
Trong quá trình SXKD, VLĐ chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm mới.
VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và thu
được tiền bán hàng.
1.3.2 Phân loại theo nguồn huy động
Trong doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: Vốn chủ sở hữu và Nợ. Mỗi
bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tính chất của
chúng. Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệp khác nhau sẽ

SXKD, nếu DN hoạt động có hiệu quả thì DN sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng
trưởng nguốn vốn. Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận
được sử dụng tái đầu tư, mở rộng SXKD của DN.
Nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá
hấp dẫn của các DN, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào
bên ngoài. Rất nhiều DN coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra
mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu
vốn ngày càng tăng.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như
doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư.
Đối với các CTCP thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy
cảm. Khi Công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không
dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không nhận được cổ tức nhưng
bù lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của Công ty.
 Phát hành cổ phiếu
Công ty huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh công ty có thể
phát hành cổ phiếu. Nguồn huy động bằng phát hành cổ phiếu không cấu thành một
khoản nợ. Công ty không phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng
cân đối thanh toán của Công ty cũng sẽ giảm đi rất nhiều. Khi một Công ty gọi là vốn,
số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ
phần gọi là cổ đông, cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ
phiếu và chỉ có Công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Phát hành cổ phiếu là hình
thức làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thông qua mối quan hệ với thị trường
chứng khoán đồng thời làm tăng số lượng chủ sở hữu của Công ty.
Có hai loại cổ phiếu phổ biến là: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu tiên.
Cổ phiếu thường: các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường có quyền hạn trách nhiệm
đối với công ty như: được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh, được quyền bầu cử
SV: Nguyễn Thuỳ Chăm - Lớp: KTPT48B
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nhiêu phần trăm mục tiêu đặt ra, cũng như so sánh chi phí của nguồn vốn đó mang
lại.
Trong quá trình huy động vốn các DN phải luôn xét tới tính hiệu quả của nó, bởi
hiệu quả huy động vốn liên quan trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn và qua đó quyết
định đến kết quả sản xuất kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận và khả năng thanh toán
SV: Nguyễn Thuỳ Chăm - Lớp: KTPT48B
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status