LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Nâng cao chất lượng phân tích tài chính tại công
ty cổ phần dịch vụ hàng không sân bay Nội bài” là công trình nghiên cứu của tôi.
Số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và được thu thập từ Công ty cổ phần
dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài.
Tác giả
Nguyễn Thị Hường
MỤC LỤC
CHƯƠNG 2 35
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ
HÀNG KHÔNG 35
SÂN BAY NỘI BÀI 35
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 59
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU
BẢNG
CHƯƠNG 2 35
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ
HÀNG KHÔNG 35
SÂN BAY NỘI BÀI 35
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 59
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới công tác phân tích tài chính đã bắt đầu thực hiện từ cuối thế kỷ
19 và chú trọng phát triển suốt thế kỷ 20 đến nay. Công tác này được các doanh
nghiệp đặc biệt quan tâm bởi nó giúp cho các nhà quản lý thấy rõ bức tranh tài
chính của doanh nghiệp mình, thấy được kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong cả một kỳ hoạt động cũng như phân tích cho nhà quản trị thấy được
những nguyên nhân tác động lên sự biến động tài chính và chỉ rõ được mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố lên bức tranh tài chính đó. Công tác phân tích tài chính được
thực hiện tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá đúng hiệu quả kinh doanh cũng
như những rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp, từ đó giúp cho các
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu là : Chất lượng phân tích tài chính tại Công ty cổ phần
dịch vụ Hàng không sân bay Nội bài trong 3 năm 2008, 2009, 2010 trên góc độ của
một nhà quản trị doanh nghiệp.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
5. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống lại những lý luận về chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.
- Đánh giá chất lượng phân tích tài chính tại Công ty cổ phần dịch vụ hàng
không sân bay Nội Bài.
- Phân tích nguyên nhân của những mặt hạn chế trong phân tích tài chính tại
Công ty cổ phần dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài.
- Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng phân tích tài chính của
Công ty trong thời gian tới.
2
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng chất lượng phân tích tài chính tại công ty cổ
phần dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính tại công ty
cổ phần dịch vụ hàng không sân bay Nội Bài- NASCO
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
cần thiết giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về tình hình
tài chính của doanh nghiệp, đánh giá được tiềm năng, khả năng sinh lời và triển
vọng phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích tài chính là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị. Nó là cơ
sở để đưa ra các quyết định tài chính, làm giảm đi sự tín nhiệm vào linh cảm, sự
chuẩn đoán và trực giác thuần tuý. Điều này góp phần thu hẹp phạm vi không chắc
chắn trong quá trình ra quyết định. Bản thân từng số liệu tài chính đứng đơn lẻ rất
khó sử dụng, nói khác đi, các số liệu tài chính đơn lẻ không mang ý nghĩa tự thân
nên việc phân tích tài chính là cần thiết và có thể khẳng định rằng phân tích tài
chính giúp các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính có cái nhìn sâu hơn, toàn diện
hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng trong công
tác quản trị doanh nghiệp. Nó sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thấy rõ
thực trạng hoạt động, đưa ra những biện pháp khắc phục thiếu sót, phát huy những
mặt tích cực và dự đoán tình hình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.Vì
vậy, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư cho hoạt động phân tích
tài chính.
1.1.2 Nguồn thông tin dùng cho phân tích tài chính doanh nghiệp
Để thực hiện công việc phân tích tài chính doanh nghiệp, cán bộ phân tích
phải sử dụng rất nhiều nguồn thông tin: từ thông tin nội bộ doanh nghiệp đến
thông tin ngoài doanh nghiệp như: thông tin về ngành nghề, về thị trường, về
chính sách chính phủ….Về cơ bản có thể chia nguồn thông tin phục vụ cho quá
trình phân tích thành 2 loại là: thông tin bên trong doanh nghiệp và thông tin bên
ngoài doanh nghiệp.
5
1.1.2.1 Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp
Đây được coi là nguồn thông tin cơ bản nhất. Bởi thông qua nguồn tin bên
trong doanh nghiệp, đặc biệt là thông qua các thông tin kế toán, cán bộ phân tích sẽ
đưa ra được những đánh giá cơ bản nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nguồn thông tin này bao gồm: Các báo cáo kế toán, kế hoạch phát triển của doanh
nghiệp, chính sách mới của doanh nghiệp…Trong các thông tin đó thì thông tin kế
sắp xếp, phân chia theo từng nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp. Nguồn
hình thành nên tài sản của doanh nghiệp bao gồm 2 nguồn cơ bản: các khoản nợ
phải trả và nguồn vốn của chủ sở hữu.
Số liệu của các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán thể
hiện quy mô, nội dung của các nguồn vốn hình thành nên tài sản mà doanh nghiệp
đang sử dụng. Căn cứ vào số liệu của các chỉ tiêu trong phần nguồn vốn của bảng
cân đối kế toán, các đối tượng quan tâm có thể biết được tỷ lệ từng nguồn vốn trong
tổng số nguồn vốn hiện có, mức độ độc lập hay phụ thuộc về mặt tài chính của
doanh nghiệp.
Nhìn vào bảng cân đối kế toán nhà phân tích có thể biết được loại hình doanh
nghiệp, quy mô doanh nghiệp và mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Có thể
xem bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu, đánh giá
khái quát tình hình tài chính, quy mô cũng như trình độ quản lý và sử dụng vốn.
Đồng thời cũng thấy được triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp trong việc
định hướng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo.
b.Báo cáo kết quả kinh doanh
Đây là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình và kết quả hoạt động
kinh doanh cũng như tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp
đối với Nhà nước trong một kỳ kế toán.
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm các khoản mục: doanh thu từ hoạt động sản
xuất, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí
7
tương ứng với từng hoạt động, các loại thuế không được phản ánh trên báo cáo kết
quả kinh doanh. Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp những thông tin tổng hợp về
tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật, trình độ quản
lý kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, nó cho biết sự dịch chuyển của tiền trong
quá trình sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt
động của doanh nghiệp trong tương lai.
Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể:
+ Kiểm tra, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí
động đó: hoạt động nào mang lại nhiều tiền nhất, hoạt động nào sử dụng tiền nhiều
nhất và sử dụng có hợp lý, phù hợp, có phục vụ cho sự phát triển trước mắt và lâu
dài của doanh nghiệp hay không?
1.1.2.2 Nguồn thông tin bên ngoài
Để hoàn thiện công tác phân tích tài chính thì cán bộ phân tích cần sử dụng
thêm những thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các thông tin liên quan đến trạng
thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất; Thông tin về ngành
kinh doanh (vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của
ngành, tình trạng công nghệ, thị phần của doanh nghiệp); thông tin về pháp lý,
chính sách kinh tế của nhà nước (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho
cơ quan quản lý nhà nước, báo cáo kiểm toán….).
Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập với nền kinh tế thế giới. Quá trình toàn
cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ đang mở ra cơ hội phát triển to lớn cho các doanh
nghiệp đồng thời đẩy chính các doanh nghiệp bước vào cuộc cạnh tranh vô cùng
khốc liệt. Để phân tích tài chính đạt được hiệu quả cao thì doanh nghiệp cần cập
nhật các thông tin kinh tế- tài chính trên thị trường cả trong nước và nước ngoài. Có
nhiều thông tin thì quá trình phân tích sẽ chính xác và hiệu quả hơn.Việc biết được
những doanh nghiệp khác đã làm được những gì hoặc đã đối mặt với những thách
thức tương tự ra sao là một thông tin quý giá cho việc đánh giá tình hình tài chính
9
doanh nghiệp góp phần đưa ra những quyết định chính xác hơn, tăng hiệu quả và
hiệu suất của các hoạt động kinh doanh
Những thông tin bên ngoài doanh nghệp luôn hết sức đa dạng, phong phú
như thông tin từ những bản báo cáo tài chính thường niên của các doanh nghiệp
khác, thông tin về thị trường, thông tin ngành, thông tin về cơ chế chính sách của
chính phủ…Những thông tin này cho cán bộ phân tích thấy được xu hướng thay đổi
của toàn cầu và nền kinh tế Việt Nam, xu hướng này tác động vào doanh nghiệp
như thế nào và từ đó cán bộ phân tích sẽ thấy được nguyên nhân những mặt hạn chế
cũng như xây dựng kế hoạch tài chính của doanh nghiệp phù hợp hơn. Những thông
tin bên ngoài doanh nghiệp sẽ giúp cho cán bộ phân tích có được những nhận định,
theo từng đối tượng góp vốn và cho thấy khả năng tự chủ về mặt tài chính. Phân
tích kết cấu vốn qua các hệ số tiêu biểu sau:
+ Hệ số đầu tư: Đây là hệ số phản ánh mức độ đầu tư cho trang thiết bị, cơ sở
vật chất, thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Hệ số đầu tư =
Tài sản cố định + đầu tư dài hạn
Tổng tài sản
Hệ số này cao chứng tỏ đầu tư dài hạn tăng, có khả năng tạo nguồn lợi tức
lâu dài cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp kinh doanh thương
mại và dịch vụ thường ít khi căn cứ trên hệ số này để đánh giá tình hình tài chính vì
đối với doanh nghiệp này họ chủ yếu đầu tư cho tài sản ngắn hạn và ít khi đầu tư
cho tài sản dài hạn.
+ Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và
mức độc lập tài chính của doanh nghiệp
Hệ số tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng số nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn
11
chủ sở hữu chiếm mấy phần. Hệ số tài trợ càng lớn chứng tỏ khả năng tự bảo đảm
về mặt tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng
tăng và ngược lại.
+ Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn:
Hệ số tự tài trợ dài hạn =
Vốn chủ sở hữu
Tài sản dài hạn
Vì đặc điểm của tài sản dài hạn là thời gian luân chuyển dài nên nếu vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp không đủ tài trợ tài sản dài hạn của mình mà phải sử dụng
các nguồn vốn khác thì khi khoản nợ đáo hạn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong
thanh toán và ngược lại
+ Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số khả năng thanh toán
tổng quát
=
Tổng tài sản
Nợ phải trả
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. Hệ
số này càng lớn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt. Hệ số thanh
toán nhỏ hơn giới hạn cho phép cho thấy sự thiếu hụt trong khả năng thanh toán, sẽ
ảnh hưởng đến kế hoạch trả nợ của doanh nghiệp.
+ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp bằng tài sản ngắn hạn hiện có. Hệ số này càng lớn thì khả năng hoàn trả nợ
ngắn hạn càng tốt. Ngược lại Hệ số này nhỏ hơn giới hạn cho phép sẽ cảnh báo khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN gặp khó khăn, tiềm ẩn không trả
được nợ đúng hạn.
+ Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh
=
Vốn bằng tiền, các khoản tương đương tiền và các
khoản đầu tư ngắn hạn
13
Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN
bằng tiền và các chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền mặt. Chỉ
+ Số vòng quay các khoản phải thu:
Giống như hàng tồn kho, các khoản phải thu là một bộ phận vốn lưu động
lưu lại trong giai đoạn thanh toán. Nếu rút ngắn quá trình này chẳng những tăng tốc
độ luân chuyển vốn lưu động mà còn giảm bớt được rủi ro trong khâu thanh toán.
Số vòng quay các khoản
phải thu
=
Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu
Trong đó:
Số dư bình quân các khoản phải thu = [Số dư các khoản phải thu (đầu kỳ+cuối kỳ)] / 2
Chỉ tiêu này cho biết tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền
mặt.Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tiền thu được về quỹ càng nhanh, kỳ thu tiền
càng ngắn và ngược lại.
+ Vòng luân chuyển vốn lưu động:
Vốn lưu động của doanh nghiệp luôn vận động qua các hình thái khác nhau.
Đầu tiên là vốn bằng tiền -> vốn dự trữ sản xuất -> vốn sản xuất -> vốn trong thanh
toán và quay trở lại vốn bằng tiền. Khi thu được tiền kết thúc một vòng luân
chuyển. Vốn lưu động luân chuyển càng nhanh chứng tỏ việc sử dụng vốn ở doanh
nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại.Số vòng luân chuyển vốn lưu động thể hiện
trong kỳ vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng
Số vòng luân chuyển vốn lưu = Doanh thu thuần
15
động
Số dư bình quân về vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết bình quân trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng.
Số vòng luân chuyên vốn lưu động càng cao thì tốc độ luân chuyển vốn lưu động
càng nhanh, số ngày luân chuyển 1 vòng càng ngắn và ngược lại.
Số ngày luân chuyển vốn lưu
động(N)
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn =
Lợi nhuận
Giá trị tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 100 đồng vốn tham gia vào quá trình kinh
doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần (hoặc lợi nhuận sau thuế).
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết bình quân 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra vào kinh doanh
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.Các chỉ tiêu trên càng lớn chứng tỏ khả
năng sinh lời càng cao và ngược lại.
1.1.3.5 Phân tích khả năng tăng trưởng
Chỉ số sức tăng trưởng giúp cho người phân tích hiểu rõ mức độ tăng trưởng
và sự mở rộng về quy mô của công ty. Chúng chỉ ra mức độ tăng trưởng hàng năm
về doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Trường hợp lý tưởng là tăng trưởng
doanh thu đi liền với tăng trưởng lợi nhuận.
a. Phân tích sức tăng trưởng doanh thu:
+ Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu
Tỷ lệ tăng trưởng = Doanh thu năm sau - 1
17
doanh thu
Doanh thu năm trước
+Tỷ lệ tăng tưởng doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính (TTkdc)
chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài
chính của doanh nghiệp.
18
Các phương pháp thường được sử dụng là:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tỷ lệ
- Phương pháp phân tích tài chính Dupont
1.1.2.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp mà người phân tích sẽ tiến hành so
sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (so sánh bằng số tuyệt đối và bằng số tướng đối
giản đơn) trên từng chỉ tiêu phản ánh khái quát tình hình tài chính và dựa vào biến
động cũng như ý nghĩa của từng chỉ tiêu để nêu nhận xét.
Tiêu chuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh,
tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu
cùng ngành.
Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không
gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán.
Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương
đối. So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân
tích và chỉ tiêu cơ sở. So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với
chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối
với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.
Thông thường trong khi phân tích báo cáo tài chính nên kết hợp cả hai hình
thức so sánh tương đối và tuyệt đối. Sự kết hợp này sẽ bổ trợ cho nhau giúp chúng
ta vừa có được những chỉ tiêu cụ thể về khối lượng và giá trị hoạt động của doanh
nghiệp vừa thấy được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp trong kỳ phân tích. Điều
này sẽ giúp rất nhiều trong việc so sánh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động
trong cùng một ngành.
Để phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp được chính xác,
khắc phục được nhược điểm của từng chỉ tiêu đơn lẻ (nếu có), các nhà phân tích cần
20
Trong phần lớn các trường hợp, các tỷ lệ được sử dụng theo hai phương pháp
chính. Thứ nhất, các tỷ lệ của doanh nghiệp đang xét sẽ được so sánh với các tiêu
chuẩn của ngành. Thứ hai, các tỷ lệ được dùng để so sánh xu thế theo thời gian đối
với mỗi công ty riêng lẻ.
Các tỷ lệ tài chính then chốt thường được nhóm lại thành năm loại chính, tuỳ
theo khía cạnh cụ thể về tình hình tài chính của công ty mà các tỷ lệ này muốn làm
rõ. Năm loại chính, xét theo thứ tự mà chúng ta sẽ được xem xét ở dưới đây là:
- Khả năng sinh lời: Các tỷ lệ để đo lường năng lực có lãi và mức sinh lợi
của công ty.
- Tính thanh khoản: Các tỷ lệ được thiết kế ra để đo lường khả năng của
một công ty trong việc đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ ngần ngắn hạn khi đến hạn.
- Hiệu quả hoạt động: Đo lường tính hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn
lực của công ty để kiếm được lợi nhuận.
- Khả năng tăng trưởng: Chỉ số sức tăng trưởng giúp cho người phân tích
hiểu rõ mức độ tăng trưởng và sự mở rộng về quy mô của công ty. Chúng chỉ ra
mức độ tăng trưởng hàng năm về doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Cơ cấu vốn (đòn bẩy nợ / vốn): Đo lường phạm vi theo đó việc trang trải
tài chính cho các khoản vay nợ được công ty thực hiện bằng cách vay nợ hay bán
thêm cổ phần. Có hàng loạt tỷ lệ trong mỗi loại nêu trên. Ta sẽ xem xét tuần tự từng
loại và sẽ khảo sát các tỷ lệ chính trong mỗi nhóm.
1.1.2.3 Phương pháp phân tích Dupont
Phân tích Dupont là phương pháp dùng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ
tiêu tài chính, đặc biệt dùng trong phân tích hiệu quả kinh doanh trong mối liên hệ
giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra. Đây là phương pháp được thực hiện bằng cách
tách ROE thành các nhân tố khác nhau nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố
đó với thu nhập của chủ sở hữu. Có thể sử dụng phương pháp phân tích tài chính
Dupont để phân tích mối quan hệ giữa các hệ số tài chính để tìm ra các biện pháp
tăng lợi nhuận.
21
Với phương pháp phân tích tài chính Dupont mở rộng, các nhà phân tích đã
đưa ra một số nhân tố bên trong ảnh hưởng đến ROE, gồm 5 nhân tố:
- Tỷ suất lợi nhuận ròng biên (EBIT/doanh thu bán hàng);
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản (Doanh thu bán hàng/tổng tài sản);
- Tỷ lệ chi phí trả lãi (Chi phí trả lãi/tổng tài sản);
- Đòn bẩy tài chính (Tổng tài sản/vốn chủ sở hữu);
- Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so với lợi nhuận trước thuế (1-Thuế TNDN/EBT)
= NI/EBT.
Những phân tích này sẽ giúp nhà phân tích biết được những thay đổi về giá
22