TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề án môn Kinh Tế Chính Trị số: 140
BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở
VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
GVHD: Thạc sĩ Nguyễn Văn Sáng
SVTH : Nguyễn Thị Xuân
Lớp 60. Khóa 33
Thành phố Hồ Chí Minh 11/2008
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
3/2. Về chớnh trị-xã hội 6
3/3. Về văn húa 7
Chương II: Thực trạng thu nhập các tầng lớp dõn cư ở Việt Nam
1.Thu nhập phõn theo khu vực 8
1/1. Khu vực vùng kinh tế 8
1/2. Khu vực thành thị-nông thôn 9
1/3. Khu vực thành phần kinh tế 10
2.Thu nhập phõn theo nhúm dõn cư 11
2/1. Phõn theo nhúm giàu nghèo 11
2/2. Phõn theo nhúm dõn tộc 13
Chương III: Giải pháp thu hẹp bất bình đẳng trong thu nhập
1. Giải pháp về kinh tế 15
1/1. Phát triển lực lượng sản xuất 14
1/2. Hoàn thiện chớnh sách tiền lương. tiền công 17
2. Giải pháp về phõn phối 17
3. Giải pháp về chớnh sách xã hội 18
3/1.Tạo việc làm thực hiện xúa đói giảm nghèo 18
3/2. Hình thức bảo hiểm 19
3/3. Trợ cấp và chớnh sách xã hội 20
3/4. Các giải pháp khác 20
KẾT LUẬN
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đã vượt qua giai đoạn khủng hoảng những năm cuối thập niên 80
và đang vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế.Trong những năm gần đây ta đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức
cao, trung bình 6-7%; đời sống kinh tế - chính trị ổn đinh, mức sống người
dân không ngừng nâng cao. Song cũn đú những hạn chế, thiếu sót ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình phát triển của đất nước .Một trong số đó là vấn đề
bất bình đẳng trong thu nhập. Đây là một vấn đề hết sức nhức nhối vỡ nú là
nguyên nhân sâu xa của bất ổn kinh tế - chính trị. Thật vậy, ở thời kỳ quá độ,
Thành Phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 12 năm 2008
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP
1. BÌNH ĐẲNG VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP
Bình đẳng trong thu nhập là sự phân phối công bằng thu nhập cho mọi
thành viên trong xã hội, đây là mục tiêu của phân phối xã hội chủ nghĩa.Phõn
phối công bằng là nói đến việc “người lao động có thể tham gia cạnh tranh
với điều kiện và quy tắc công bằng cao nhất (thu nhập nhiều hay ít tương
xứng với sự đóng góp lao động nhiều hay ít) sự khác biệt của kết quả phân
phối cần được duy trì trong giới hạn mà xã hội có thể chấp nhận được. Nói
một cách cụ thể, đú chớnh là sự thống nhất giữa công bằng và hiệu quả.
Điều kiện tiền đề cho các thành viên xã hội tham gia vào cạnh tranh là
sự phân phối giữa tư chất bẩm sinh hay năng lực của con người đại thể phải
bằng nhau, cơ hội và quyền lợi về giáo dục,việc làm, đầu tư và sản xuất kinh
doanh… ngang nhau. Về kết quả của hình thức thu nhập, xã hội tiến hành
điều tiết thu nhập của các thành viên nhằm giảm bớt thu nhập không phải do
nỗ lực chủ quan mà có, làm cho khoảng cách thu nhập giữa các thành viên xã
hội không quá cách xa nhau, không đựơc vựơt quá phạm vi mà xã hội có thể
chấp nhận được.”
1
Bất bình đẳng là không bình đẳng, tức là có sự phân phối thu nhập tạo
nên khoảng cách lớn cho các thành viên trong xã hội. Bất bình đẳng trên thế
giới được đo bằng “hệ số Gini”
2
.
2. CƠ SỞ KINH TẾ CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP
Các hình thức phân phối ở nước ta hiện nay tuy có đảm bảo tính công
bằng và hiệu quả hơn so với thời kỳ trước đây, nhưng do những hạn chế
khách quan chưa thể khắc phục nên trở thành một số nguyên nhân dẫn đến sự
bất bình đẳng trong thu nhập. Hiện tại chúng ta có 3 hình thức phân phối là
phân phối theo lao động, phân phối theo vốn, cổ phần và phân phối qua các
sự khác biệt về phân phối còn biểu hiện ở sự khác biệt giữa lượng được
hưởng thực tế về sản phẩm tiêu dùng của cá nhân người lao động và mức
sống. Vì đối tượng chi ra và thu được thù lao của người lao động là cá nhân
người lao động, còn đơn vị tiêu dùng lại là gia đình bao gồm cá nhân người
lao động trong đó, do tỷ lệ giữa số lượng tổng nhân khẩu trong các gia đình
cùng người lao động và nhân khẩu dược nuôi dưỡng khác nhau, ảnh hưởng
tới mức tiêu dùng thực tế của mỗi người cũng khác nhau. Một người lao động
đã kết hụn,một người thì chưa, con cái của người lao động này tương đối
nhiều,con cái của một người khác tương đối ít, với thành quả lao động như
nhau, từ phần thu được trong sản phẩm tiêu dùng của xã hội như nhau, một
người nào đú có thu nhập thực sự nhiều hơn người khác một chỳt,cũng chớnh
là giàu hơn người khác một chút. Rõ ràng, trong cùng một thước đo để đo lao
động xã hội, sự khác bịêt của lượng lao động cá nhân đưa đến sự khác biệt về
số lượng thù lao, sự khác biệt của số nhân khẩu phải nuôi dưỡng sẽ dẫn đến
sự khác biệt về lượng sử dụng thực tế hàng tiêu dùng. Trong xã hội xã hội chủ
nghĩa, trình độ lực lượng sản xuất xã hội, với đặc điểm là sự ít ỏi về hàng tiêu
dùng tồn tại ở một mức độ nhất định, làm cho sự khác biệt và bất bình đẳng
này trở thành không thể tránh khỏi vì quyền của một xã hội vĩnh viễn không
thể vượt ra ngoài kết cấu kinh tế xã hội và sự phát triển văn hóa xã hội do kết
cấu kinh tế kiềm chế”
4
.
Thứ hai, phân phối theo vốn, tài sản, cổ phần: là sự xác định thu nhập
mang lại cho người sở hữu tư liệu sản xuất, vốn tiền tệ, kỹ thuật – công nghệ
(sở hữu công nghiệp)…đó tham gia vào sản xuất kinh doanh. Nguyên tắc
phân phối này được biểu hiện dưới nhiều hình thức phân phối và thu nhập
khác nhau, chẳng hạn lợi tức cho vay, lợi tức cổ phần và trỏi khoỏn, tiền thuê
tư liệu sản xuất,…Tất cả tài sản mang lại thu nhập ở đây thực chất là những
yếu tố về vốn là những hình thái cụ thể của lao động quá khứ tham gia vào
sản xuất, kinh doanh. Vậy phân phối theo vốn, tài sản, cổ phần chính là quá
cực kéo dài dai dẳng đối với một bộ phận lớn dân số. Điều này làm lãng phí
tiềm năng con người và trong nhiều trường hợp, nó làm chậm lại tốc độ tăng
trưởng kinh tế bền vững”
5
. Đúng như vậy con người là nhân tố năng động
nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất. Hiệu quả suy cho đến cùng là
kết quả của việc người lao động thúc đẩy tư liệu sản xuất hoạt động, nâng cao
hiệu quả cũng cần phải dựa vào sự phát huy đầy đủ tính tích cực của người
lao động. Còn tính tích cực có phát huy được đầy đủ hay không, lại quyết
định ở sự cảm thụ của người lao động đối với lợi ích kinh tế của bản thân có
5
Nhận Định Về Bất Bình Đẳng Xã Hội Ở Việt-Nam
Ngày tháng: 06/04/2005 BBC, 04.04.2005
thực hiện được công bằng hay không, đặc biệt khi mà lao động vẫn chủ yếu là
thủ đoạn mưu cầu sự sống, mức công bằng trong thu nhập hầu như là nhân tố
ràng buộc đầu tiên với sự dao động tính tích cực cuả đa số người lao động.
Nên nếu bất bình đẳng trong thu nhập tức là sẽ làm giảm sút tính tích cực của
những người không được hưởng sự công bằng, hậu quả là hiệu quả thấp kém,
kinh tế phát triển chậm chạp.
3/2. Về chính trị -xã hội
Thứ nhất, vấn đè gia tăng dân di cư từ những vùng kém phát triển đến
những vùng phát triển hơn hoặc đến những vùng có điều kiện thuận lợi hơn.
Ở Tõy Nguyờn, dân nhập cư tăng nhanh đã gây áp lực về đất và sảy ra nhiều
tranh chấp về đất giữa người nhập cư và các lâm trường. Những tranh chấp
này đến nay vẫn còn tồn tại và cú lỳc gõy căng thẳng giữa các dân tộc. Ở
thành phố, những người nhập cư thường không có hộ khẩu, không được
hưởng những lợi ích mà dân nghèo thành phố được hưởng như thẻ khám chữa
bệnh, miễn học phớ…Sự phân biệt đối xử giữa những người nhập cư không
có hộ khẩu và những người có hộ khẩu là một trong những nguyên nhân dẫn
tới các vấn đề xã hội nghiêm trọng ở các đô thị lớn. Hơn nữa dân nhập cư vào
1/1. Khu vực vùng kinh tế
Nước ta có tất cả 8 vùng kinh tế, mỗi vựng cú một trình độ phát triển
kinh tế khác nhau và do đó mức thu nhập cũng khác nhau.Trước tiờn xột số
lượng hộ nghèo giữa cỏc vựng để thấy được sự phân hóa này.
1998 2002 2004 2006
Tỷ lệ nghèo chung 37,4 28,9 19,5 16,0
Đồng bằng sông Hồng 29,3 22,4 12,1 8,8
Đông Bắc 62,0 38,4 29,4 25,0
Tây Bắc 73,4 68,0 58,6 49,0
Bắc Trung Bộ 48,1 43,9 31,9 29,1
Duyên hải Nam Trung Bộ 34,5 25,2 19,0 12,6
Tây Nguyên 52,4 51,8 33,1 28,6
Đông Nam Bộ 12,2 10,6 5,4 5,8
Đồng bằng sông Cửu Long 36,9 23,4 19,5 10,3
Tỷ lệ nghèo chung được tính theo mức chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng với
chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới cho các năm như
sau: 1998: 149 nghìn đồng; 2002: 160 nghìn đồng; 2004: 173 nghìn đồng;
2006: 213 nghìn đồng.
Qua số liệu trên cho thấy tỉ lệ nghèo ở cỏc vựng cú sự khác biệt đáng
kể. Qua số liệu trên ta thấy vùng Tây Bắc là vùng có tỉ lệ nghèo cao nhất
với 49%, trong khi đó tỉ lệ này ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông
Hồng lần lượt chỉ là 5,8% và 8,8%.Ở đõy cú sự chênh lệch giữa vựng cú tỉ lệ
nghèo cao nhất và vựng cú tỉ lệ nghèo thấp nhất đến 8.4 lần. Người nghèo tập
trung nhiều nhất ở vùng Tây Bắc(49,0%), rồi đến Bắc Trung Bộ(29,1%), Tõy
Nguyên(28,6%) và Đông Bắc(25,0%), cả bốn vùng còn lại chỉ chiếm 37,5%.
Năm 1998, thu nhập đầu người ở khu vực sung túc nhất của VN, vùng
Đông Nam Bộ (bao gồm TP. HCM) cao gần gấp đôi so với vùng đồng bằng
sụng Hụ̀ng (bao gồm cả Hà Nội), và cao gần gấp ba khu vực miền núi phía
bắc. Nếu so sánh thu nhập của 20% số hộ có thu nhập cao nhất với 20% số hộ
có thu nhập thấp nhất, thu nhập của 10% số hộ có thu nhập cao nhất với 10%
có 80% dân số sinh sống chỉ chiếm khoảng 40% GDP lại đang phát triển
chậm hơn (dưới 10%/năm). Xột riêng trong khu vực Đông Nam Bộ, năm
2002, 5% hộ gia đình giàu nhất có thu nhập cao gṍp 25 lần so với 5% nghèo
nhất (chủ yếu ở ngoại thành và nông thôn).
Khoảng cách chênh lệch về thu nhập và chi tiêu của các hộ trong hai khu vực
6
Nguyễn Hữu Dũng “ Định hướng chiến lược việc làm và xóa đói giảm ngheò trong chiến lược phát triển
nông thôn Việt Nam đến năm 2000. Hội thảo tạo đàm về chuyển đổi nông nghiệp nông thôn Việt Nam .Việc
làm và xóa đói giảm nghèo ,Bộ LDĐTB-XH,1999
không những cao mà còn có xu hướng tăng dần theo thời gian do tốc độ tăng
thu nhập dân cư thành thị hàng năm thường cao hơn dân cư nông thôn.
1/3. Khu vực kinh tế (thành phần kinh tế)
Phần lớn người làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước có mức sống
thuộc nhóm 20% giàu nhất hoặc rơi vào hai nhúm trờn (75-80%). Tình hình
cũng tương tự như vậy ở nhóm làm việc trong doanh nghiệp nước ngoài. Chỉ
có 1/3 số lao động trong doanh nghiệp tư nhân và gần 1/5 lao động trong hộ
sản xuất kinh doanh nhỏ thuộc vào nhóm 20% giàu nhất. Khoảng 40% những
người lao động ở các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và hộ sản xuất kinh
doanh nhỏ thuộc vào nhúm cú mức sống dưới trung bình. 3/4 số người thuộc
nhóm 20% nghèo nhất là lao động trong hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, trong
khi 60% người thuộc nhóm 20% giàu nhất làm việc trong ba khu vực của nhà
nước
2. THU NHẬP PHÂN THEO NHÓM DÂN CƯ
2/1. Thu nhập theo nhóm giàu nghèo
Theo kết quả điều tra mức sống dân cư năm 2002, của Tổng cục thống
kê thu nhập của nhóm 20% hộ giàu (thu nhập cao nhất) đạt 877 nghìn đồng,
tăng 18,2%, nhóm 20% hộ nghèo đạt 108 nghìn đồng, tăng 11,7% Mức chi
tiêu của nhóm 20% hộ nghèo tăng 11%, nhóm 20% hộ giàu tăng 18% so với
năm 1999. Vậy mức tăng của người nghèo thường thấp hơn của người giàu.
Nhóm hộ gia đình thuộc loại trung bình, khá và giàu chi nhiều hơn cho các
7
.
2/2. Thu nhập theo nhóm dân tộc
Trong thời kỳ 1993-1998, tỉ lệ nghèo đói ở các dân tộc ít người đã
giảm từ 86% xuống còn 75%, trong khi đó tỉ lệ nghèo của người Kinh giảm từ
54% xuống còn 31%. Năm 1993, cỏc nhúm dõn tộc ít người tuy chỉ chiếm
13% tổng dân số nhưng lại chiếm tới 20% tổng số người nghèo. Năm 1998 tỉ
lệ trong tổng dân số của họ là 14% thì lại chiếm tới 29% số người nghèo. Nếu
lấy thu nhập của người Kinh là 100 thì thu nhập của người Mường là 59
người Thái là 55, người Dao 46, H’mụng(41), ấ-đờ(72), Xờ-đăng(30),
Khơme(50). Vậy thu nhập của người thiểu số chỉ bằng ẵ thu nhập của người
Kinh. Đặc biệt là vùng Tõy Nguyên, hơn 80% số đồng bào dõn tộc ở đõy
sống dưới mức nghèo. Tỷ trọng dõn tộc thiểu số trong số người nghèo ngày
càng gia tăng từ 20% năm 1993 lên hơn 30% năm 2002 và theo một số dự báo
có thể lên đến 37% vào năm 2010
7
Nhận Định Về Bất Bình Đẳng Xã Hội Ở Việt-Nam
Ngày tháng: 06/04/2005 BBC, 04.04.2005
Chương 3. GIẢI PHÁP THU HẸP BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG
THU NHẬP
Trên đây người viết đã trình bày sơ lược về thực trạng bất bình đẳng
trong thu nhập ở nước ta hiện nay. Trong khi nước ta đang hướng đến chủ
nghĩa xã hội với sự bình đẳng cho tất cả các thành viên về mọi mặt, nờn dự
phải chấp nhận sự bất bình đẳng trên một số mặt nào đó (trong đó có thu
nhập) thì chúng ta cũng phải từng bước thu hẹp bất bình đẳng thực hiện công
bằng xã hội tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, chính trị ổn định. Làm được
điều đó chúng ta cũng dần tiến tới một xã hội: “khụng cú chế độ người bóc lột
người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động, ai làm nhiều thì
hưởng nhiều, ai làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng”
8
tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật mới cho nông thôn .
3. Hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng trong sạch bộ máy nhà
nước. Đây là tiền đề để chống tham nhũng một cách hiệu quả bằng cách quy
định rõ trách nhiệm của từng cá nhân trong bộ máy nhà nước, có chế tài
nghiêm khắc với những sai phạm của cán bộ công nhân viên.
4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách tiếp tục thực
hiện phổ cập giáo dục các cấp, tăng cường giáo viên cho vựng sõu vựng xa,
cải cách chương trình theo nội dung mới có tính thiết thực và gần gũi với đời
sống, nâng cao hiệu quả của chi tiêu cho giáo dục dần tiến tới “xã hội hóa”
giáo dục.
1/2. Hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công
Tiền công tiền lương ở nước ta đã có nhiều đổi mới song vẫn còn
những bất cập. Các giải pháp được đưa ra là
1. Tăng năng suất lao động bằng việc áp dụng công nghệ mới vào
sản xuất đảm bảo tăng tiền lương không làm giảm lợi nhuận.
2. Cải thiện mức lương tối thiểu để đảm bảo tái sản xuất mở rộng
sức lao động.
3. Thực hiện thị trường lao động linh hoạt tránh hiện tượng phân
biệt đối xử với người không có hộ khẩu như một số nơi hiện nay.
2. GIẢI PHÁP VỀ PHÂN PHỐI
Là các giải pháp nhằm điêu tiết thu nhập dân cư, hạn chế sự chênh lệch quá
đáng về mức thu nhập. Theo đó cần điều tiết thu nhập theo hướng hạn chế thu
nhập của người có thu nhập quá cao. Điều tiết được thực hiện chủ yếu thông
qua hình thức thuế thu nhập cá nhân. Hiện Pháp lệnh Thuế thu nhập cao đã
được sửa đổi, bổ sung nhiều lần theo hướng giảm thuế, đồng thời tăng mức
khởi điểm chịu thuế (từ trên 3.000.000 đồng/thỏng lờn hơn 5.000.000
đồng/thỏng đối với người Việt Nam. Thu nhập về chuyển giao công nghệ trên
15.000.000 đồng/lần, thuế suất 5% tổng số thu nhập.Thu nhập về trúng
thưởng xổ số trên 15.000.000 đồng/lần, thuế suất 10% tổng số thu nhập.Điều
mà tất cả các nước có nền kinh tế thị trường đều tận dụng tối đa. Ở nước ta
hình thức này đã thu được một số kết quả song vẫn còn nhiều bất cập. Để phát
huy hết vai trò của công cụ này chúng ta hiện nay phải thực hiện các giải pháp
sau.
1. Mở rộng lĩnh vực bảo hiểm xã hội. Hiện nay, phạm vi bảo
hiểm xã hội còn hẹp và chủ yếu là bảo hiểm bắt buộc. Trong giai đoạn tới cần
khắc phục tình trạng này. Trong đó cần sớm triển khai hình thức bảo hiểm
thất nghiệp và có chính sách khuyến khích mở rộng hình thức bảo hiểm tự
nguyện.
2. Thay đổi cơ cấu đóng bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã
hội được hình thành theo nguyên tắc người sử dụng lao động đóng góp 15%
tổng quỹ lương, người lao động đóng góp 5% tiền lương. Đõy là một bất hợp
lý cần được khắc phục theo hướng giảm tỉ lệ đóng góp của người sử dụng lao
động xuống tối đa còn 50%, tăng tỉ lệ đóng góp của người lao động lên tương
ứng (tuy nhiên điều đó phải đi kèm với cải cách tiền lương để không ảnh
hưởng tới tiền lương thực tế của người lao động).
3. Điều chỉnh mức đóng góp bảo hiểm xã hội tránh dẫn đến
sự chênh lệch lớn giữa tốc độ tăng thu và tốc độ tăng chi bảo hiếm xã hội (tốc
độ tăng thu giai đoạn 1995-2000 là 19,8%, tốc độ tăng chi là 37,8%).Với xu
hướng này, trong tương lai, quỹ bảo hiểm xã hội sẽ bị mất cân đối (do thu lớn
hơn chi).
4. Tăng cường pháp chế trong thu nộp bảo hiểm xã hội tránh
tình trạng trốn tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động
còn phổ biến, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
5. Đổi mới phương thức phục vụ, nâng cao chất lượng các
hoạt động bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm y tế.
3/3. Trợ cấp và chính sách xã hội
Trợ cấp và chính sách xã hội chính là hình thức giúp đỡ những người
khó khăn nâng cao đời sống thông qua ngân sách nhà nước . Cụ thể
1. Về thực hiện chính sách đối với người có công, cần phải có
các chương trình phát triển kinh tế xã hội trong chiến lược phát triển chung từ
trung ương đến địa phương.
4. Trợ giúp pháp lý cho người nghèo, giúp người nghèo có những
hiểu biết phổ thông về pháp luật lien quan đến đời sống hằng ngày của mình.