MỘT SỐ TƯ LIỆU LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THUYẾT VỀ CÁC CUỘC THIÊN DI
CỦA NGƯỜI THÁI TỪ LƯU VỰC SÔNG THAO
VÀO VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM
PGS. TS. Hoàng Lương
Trường Đại học KHXH&NV
Đại học Quốc gia Hà Nội Người Thái ở Tây Bắc từ đâu tới, cho đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất.
Phần lớn ý kiến đều cho rằng, họ thiên di từ phía Bắc (Trung Quốc) vào Việt Nam bằng
nhiều con đường với những thời gian khác nhau.
Nhưng, qua nhiều cứ liệu thu thập trong dân gian các nơi có người Thái cư trú
hiện nay thì hầu hết các nơi đó đều rất ít biết hoặc biết rất mơ hồ về sự thiên di của tổ tiên
họ mà nhiều người đều cho rằng nghe người xưa nói như thế.
Để hiểu biết thêm quá trình tộc người của các nhóm Thái đang sinh sống ở Tây
Bắc Việt Nam, từ đó hiểu thêm về nguồn gốc lịch sử và sự đóng góp của họ vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước nói chung, vùng Tây Bắc nói riêng. Việc tìm hiểu về
quá trình thiên di của họ là cần thiết.
Vấn đề này lâu nay đã được nhiều nhà nghiên cứu về người Thái trong nước và
nước ngoài quan tâm. Tuy những ý kiến đó chưa thống nhất nhưng dù sao cũng là những
tư liệu quý để tham khảo cho vấn đề đặt ra.
1. Những ý kiến của các nhà nghiên cứu
Theo Tiến sĩ Leedom Leffert
1
cho rằng quá trình thiên di của người Thái theo lưu
vực sông Mê Kông bắt đầu từ thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên. Một bộ phận của
tổ tiên khối cộng đồng Tày - Thái cổ, bắt nguồn từ nhóm Bách Việt sinh tụ ở miền Nam
sông Dương Tử tách dần khỏi khối cộng đồng cùng tộc của mình, thiên di theo hướng
1
đã xuất hiện ở đây từ đầu Công nguyên và rất có thể còn sớm hơn nữa. Điều đó hoàn toàn
phù hợp với những nguồn tư liệu mà chúng tôi đang có trong tay hiện nay (xem thêm bài:
Sự đóng góp của cư dân Tày - Thái cổ vào sự hình thành và phát triển văn minh Đông
Sơn, in trong Kỷ yếu này).
Bên cạnh ý kiến khái quát của Tiến sĩ Leedom Leffert trên đây cũng còn nhiều ý
kiến khác về sự thiên di của người Thái vào Việt Nam. Trong đó, tiêu biểu là ý kiến căn
cứ vào hai cuốn sử thi Thái Đen Quam tố mương (Truyện kể bản mường) và Tãy phú xớc
(theo đường ông cha chinh chiến). Theo tư liệu của hai cuốn sử thi này thì người Thái
vào Việt Nam khá muộn (sớm nhất là vào thế kỉ XI và muộn nhất là thế kỉ XIII). Nếu
nguồn tư liệu này đúng sự thật thì đó chỉ là cuộc thiên di của bộ phận Thái Đen chứ
không phải là toàn bộ các nhóm Thái có mặt ở Việt Nam hiện nay. Bởi vì khi người Thái
Đen đÕn cư trú ở Mường Lò (Nghĩa Lộ) thì ở Mường Tấc đã có người Thái Trắng rồi.
Theo truyền thuyết Khoai ọk chạng đỏn (Trâu đẻ voi trắng) khá phổ biến ở vùng
Mường Tấc. Thuở đó, tạo Mường Tấc lấy vợ người Kinh ở dưới xuôi (người vợ đó lại là
công chúa vua người Kinh). Hai vợ chồng sinh được một đứa con trai khá kháu khỉnh,
thông minh. Một lần, đứa bé được mẹ cho về xuôi thăm ông ngoại, khi gặp ông ngoại,
đứa bé khoe rằng nhà nó vừa có con trâu đẻ ra voi trắng. Nghe vậy, ông vua người Kinh
rất ngạc nhiên và đoán rằng sự lạ này báo hiệu con rể sắp làm phản. Vì vậy, ông vua này
đã đem quân lên trấn áp trước để tránh hậu hoạ về sau. Trận chiến này kéo dài mấy chục
năm rồi nhà vua thần phục được đội quân của con rể bằng một trận huyết chiến trên cầu
dây mây bắc từ dãy núi phía Đông (thuộc địa bàn bản Cù - Huy Tân hiện nay) sang Pú
Chạng (núi voi) ở phía Tây (thuộc bản Nà Xá, xã Quang Huy).
Cho đến nay, trên Pú Chạng (Quang Huy) và núi bản Cù (Huy Tân) còn nhiều
tầng đá xếp chồng lên nhau như lô cốt cố thủ (phế tích của đồn bốt xưa kia). Cho đến
nay, Pú Chạng thuộc xã Quang Huy vẫn được nhiều người nhất là các cụ già gọi là Pu
Đôn (núi đồn).
Người Thái Yên Châu cũng có một truyền thuyết kể về đôi Khau cút gắn trên hai
đầu hồi mái nhà của họ. Tương truyền rằng, xưa kia có một cô gái nhà giàu người Kinh
lên lấy chồng ở đây. Vì bản chàng rể đông đúc và dựng san sát nhau (cách thức lập bản
truyền thống của người Thái) mỗi khi lên thăm con gái và con rể, ông bố vợ đều bị nhầm
đoạn truyền thuyết như sau:
Cõ pên đin pên nhạ
Cõ pên nhạ to luông hết
Cõ pên đin chết tọn
Cõ pên hin xam xau
Cõ pên nặm cảu qué
Cõ pên Pák Té - Tao
Nham nặn, Then chắng hợ chết pú chạu xa công
Lống má téng phen đin mướng Lum,
Mí chu ăn chu dương
Then chắng hợ chét pũ má téng mướng Lum
Pên- bản pên mướng,
dịch:
(Khởi nguồn nên đất nên cỏ
Khởi nguồn nên trời bằng cái nấm,
Khởi nguồn nên đất bẩy miền
Khởi nguồn nên núi ba hòn
Khởi nguồn nên nước chín dòng
Khởi nguồn nên cửa Đà - Thao
(*)
Thủa ấy, Then mới cho bảy ông Xa Công
xuống xây dựng mảnh đất trần gian
Có đủ thứ đủ giống,
Có đủ con đủ loài
Then mới cho bảy ông đến xây dựng
Trần gian nên bản nên mường).
Như vậy, nếu căn cứ vào đoạn văn trên thì chính ông cha của Lạng chượng cũng
được sinh ra và lớn lên tại Mường Lò (Yên Bái). Nói khác đi, nhóm Thái Lạng Chượng
cũng thuộc vào lớp cư dân Thái cổ - Thái bản địa ở Việt Nam. Sau đó do dân số phát
Hà Văn Tấn cho rằng cùng các cư dân đã từng sinh sống xung quanh vịnh Hà Nội trước
khi nước biển rút đi cách ngày nay khoảng 4.000 năm có các nhóm Thái
2.
Điều đó đã
được phản ánh khá rõ ràng và khá sinh động trong các truyền thuyết kể về sự kiện này ở
nhiều nhóm Tày, Thái trên đất nước chúng ta.
Người Tày Hà Giang khi nói về cội nguồn của mình cũng có câu: Pú dú nặm Te,
Tai ta pú nặm Tao (ông nội ở sông Đà, ông ngoại ở sông Thao) chứng tỏ những nhóm
Tày Hà Giang cũng từ sông Đà, sông Thao di chuyển lên.
2. Những truyền thuyết phản ánh các đợt di cư của người Thái từ lưu vực sông
Thao lên vùng Tây Bắc.
Có một điều khá lí thú khi đi sâu tìm hiểu nghiên cứu về các nhóm Thái cổ ở nước
ta là tuy hầu hết các nhóm đó đều ở miền núi nhưng hình ảnh về nước và thuyền bè lại rất
đậm nét trong tiềm thức và tâm linh của họ. Nói khác đi nước và người Thái là đôi bạn tri
kỉ, sống chết có nhau, vui buồn có nhau. Tại sao lại như vậy?
Nhiều người cho rằng, sở dĩ người Thái có quan hệ sâu sắc với nước như vậy là vì
loại hình kinh tế chính trị của người Thái là làm ruộng nước mí nặm chăng pên ná (có
nước mới thành ruộng), điều đó không sai. Nhưng, sâu xa hơn có lẽ không chỉ có vậy mà
có thể liên quan đến vấn đề nguồn gốc tộc người. Vì thế, ở nhiều trường hợp, nước còn là
tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Thái.
Theo phương pháp tư duy dân tộc học thì cái gì đã thuộc về thế giới tâm linh, về
tín ngưỡng là những vấn đề liên quan đến cội nguồn. Trong đời sống hàng ngày những
biểu hiện cụ thể có khi không còn rõ ràng, nhưng ở tận một nơi sâu thẳm nào đó trong trí
nhớ, trong tín ngưỡng hễ có dịp chúng lại loé sáng. Đối với người Thái nước không chỉ
2
Hà Văn Tấn: Văn hoá Phùng Nguyên và nguồn gốc dân tộc Việt. Tạp chí dân tộc học số 1 - 1975, tr35.
tồn tại trong tâm linh mà nó còn là một thực thể gắn liền với đời sống hàng ngày. Thực
thể đó đã tạo nên cuộc sống Thái.
Bất cứ một bản nào của người Thái, dù chỉ một vài nhà hay đông đúc thì ngay cạnh
nhằm giải thích rõ thêm nguyên nhân của các cuộc di dân từ lưu vực sông Hồng mà trước
đó là vùng xung quanh vịnh Hà Nội. Nói khác đi, chúng tôi nhằm lí giải và chứng minh
cho hiện tượng gắn bó giữa cư dân Thái và nước. Nước là môi trường sống ban đầu của
cư dân Thái ở Việt Nam. Từ môi trường nước đó, có lẽ do biển tiến dâng nước ngập lụt
hết cả nơi sinh sống xưa kia của họ và buộc họ phải ngược các dòng sông (chủ yếu là 3
con sông Thao, sông Đà và sông Lô) từ của Bạch Hạc lên sinh sống tại các địa bàn mà
ngày nay con cháu họ đang tụ cư. Có lẽ cũng chính vì thế mà trong tâm thức người Tày,
Thái hình ảnh nạn đại hồng thuỷ luôn luôn ám ảnh và trở thành thời điểm khởi thuỷ của
sự hình thành loài người nói chung và người Thái nói riêng.
Trong Quam tô mương (Truyện kể bản mường) cũng bắt đầu từ nạn đại hồng thuỷ
xảy ra từ thủa mới Cõ pên đin pên nhạ (khởi nguồn nên đất nên cỏ ), từ thủa đất trần
gian có các loài muông thú còn biết nghe, biết nói chu tô, chu xính nặng mương lum hụ
pác, chu tô nạc chu hụ vạu Nạn đại hồng thuỷ đó có lẽ chính là sức mạnh của các đợt
biển tiến, gây ngập lụt khắp các vùng xung quanh vịnh Hà Nội. Vì thế, các nhóm Thái cổ
thủa đó đã phải chạy nước và ngược sông Thao, sông Lô, sông Đà lên các vùng núi cao
hơn mà sinh sống. Nạn hồng thuỷ trong Quam tô mương có lẽ cũng bắt nguồn từ đây.
Như vậy nhóm Thái Đen của Tạo Xuông, Tạo Ngần rồi là Tạo Lò (bố của Lạng Chượng)
xuất hiện ở Mường Lò (Yên Bái) cũng thuộc các nhóm cư dân Thái cổ. Tổ tiên họ xuống
theo sông Thao rồi vào Nghĩa Lộ và tạo thành lớp cư dân Thái ở đây. Sau đó, do số dân
phát triển một số mới di chuyển lên Tây Bắc như cuốn sử thi này đã kể.
Cho đến nay, người Thái nhiều vùng vẫn còn nhớ những truyền thuyết về thuyền
da trâu hưa năng khoai và thuyền vỏ cây sa - hưa năng sa (một loại cây vỏ rất dai, có thể
bện làm thừng). Đây là hai loại thuyền được làm vội trong cơn nguy cấp chạy lụt. Có thể
coi đó là sự nhanh trí và sáng tạo của cư dân Thái cổ thủa đó. Với hai loại thuyền làm vội
này, nhiều nhóm Thái đã không thể đi xa hơn được, đành dạt dần lên sinh sống ở hai bên
bờ sông Thao và tạo thành các nhóm Tày, Thái nơi đây. Từ những nơi này có thể có một
số nhóm đã đi sâu vào vùng Tây Bắc và tạo nên các nhóm Tày, Thái ở Hưng Khánh, Văn
Chấn (Mường Lò) thuộc Yên Bái, nhóm Thái Mường Tấc, một số ở Mường Vạt (Sơn
La), một số đến Mộc Châu rồi xuôi về Hoà Bình thành nhóm Thái Mai Châu và vượt
sông Mã sang vùng Quan Hoá, Bá Thước (Thanh Hoá)
quanh vịnh Hà Nội với biển Đông, ma người Thái là thành viên của lớp cư dân ấy. Dĩ
nhiên, cái bến thuyền cửa biển này dã lùi vào dĩ vãng hàng mấy nghìn năm, cho nên trong
thực tế không ai còn nhớ mà chỉ còn trong tiềm thức và tâm linh.
Trong tư duy nguyên thuỷ, từ địa điểm có thật ở thời xa xưa vẫn in sâu trong tiềm
thức đã trở thành một địa chỉ linh thiêng của tâm linh. Bến Bạch Hạc ngày ấy đã trở
thành bến thiêng trong tâm linh dân Thái. Xét co cùng mường Trời hay mường Then của
thế giới tổ tiên cũng chính là phản ánh mường người ở dưới trần gian. Cái bến nước
“Nặm ta khải” ở mường trời cũng chính là hình ảnh của bến Cái cửa biển từ thủa xa xưa
đó.
Bến sông ngăn cách giữa mường người và mường ma trên mường trời ấy thực ra
cũng phản ánh sự ngăn cách đầy bí ẩn giữa thế giới mường người (những cư dân sống
quanh vịnh Hà Nội) và thế giới biển khơi đầy trắc trở mà con người thủa đó chưa thể lí
giải và làm chủ được. Trước khi lên đến mường trời, hồn ma phải vượt qua bao nhiêu thử
thách của thế giới đầy sóng gió và bí hiểm ấy. Còn mường trời, nơi trú ngụ của thế giới tổ
tiên ở đâu, thực ra cũng chỉ là một địa bàn trong tưởng tượng nhưng lại là ánh xạ của một
bến nước có thật từ thủa xa xưa. Theo tư duy logic trí tưởng tượng cũng phải được bắt
nguồn từ hiện thực nào đó.
Tuy những kiến giải trên chưa thật có sức thuyết phục và hơi khiên cưỡng nhưng
dù sao nó cũng góp phần vào giải quyết phần nào hiện tượng các hồn ma người Thái
(nhất là các nhóm Thái cổ) lại xuôi các con sông Thao, sông Đà về bến cái cửa biển.
Đồng thời từ đó cũng giúp giải thích được tên con sông Thao cũng như các đợt di chuyển
ngược con sông đó của lớp cư dân Tày, Thái cổ lên sinh sống ở hai bên bờ cá con sông
này và các vùng lân cận trên vùng Tây Bắc.
Qua các cứ liệu trên lại càng có cơ sở chứng minh thêm sự có mặt của các nhóm
Tày, Thái cổ ở Việt Nam từ thời tiền Đông Sơn chí ít cũng là từ thời Phùng Nguyên,
trước khi hình thành đồng bằng Bắc Bộ. Quá trình đóng góp của họ vào sự hình thành và
phát triển văn minh Đông Sơn là điều hiển nhiên.