Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực thể thao ở trường Đại học thể dục thể thao Trung ương I - Từ Sơn - Bắc Ninh - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ VIỆT HÙNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC THỂ THAO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THỂ DỤC THỂ THAO TRUNG ƯƠNG I
TỪ SƠN BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn: TS. Phạm Công Nhất
HÀ NỘI - 2008

88 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1

2.3. Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra 57
2.3.1. Đánh giá những thành tựu và nguyên nhân 57
2.3.2. Đánh giá những hạn chế và nguyên nhân 60
2.3.3. Những vấn đề đặt ra 62
Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở TRƢỜNG
ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO I HIỆN NAY 65
3.1. Phƣơng hƣớng 65
3.1.1. Giáo dục - đào tạo phải đồng bộ 65
3.1.2. Tăng cường áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào
trong giáo dục - đào tạo 67
3.1.3. Nội dung giáo dục - đào tạo phải gắn với thực tiễn 68
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục - đào tạo
nguồn nhân lực thể dục thể thao ở Trƣờng Đại học Thể dục thể thao I 69
3.2.1. Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy đối với các môn học 69
3.2.2. Tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 72
3.2.3. Tích cực phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài thể thao 73
3.2.4. Tăng cường cơ sở vật chất cho công tác giáo dục - đào tạo 74
3.2.5. Giải pháp thành lập trung tâm khảo thí và kiểm định chất lượng . 75
3.2.6. Giải pháp về tăng cường quản lý học tập đối với sinh viên 76
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội thì nguồn lực con

Dưới chế độ ta tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội đều đặt con
người ở vị trí trung tâm. Mục tiêu cuối cùng của sự nghiệp phát triển kinh tế
và xã hội theo định hướng XHCN ở nước ta là đem lại đời sống ấm no, tự do,
hạnh phúc cho con người.
Thể dục thể thao là một phương tiện có hiệu quả để nâng cao sức khoẻ
và thể lực cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần tích cực bồi dưỡng
nguồn nhân lực con người, đáp ứng nhu cầu lao động và sẵn sàng bảo vệ tổ
quốc trong điều kiện thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Do vậy
việc phát triển TDTT được coi như một nội dung quan trọng của chính sách
xã hội nhằm chăm lo, bồi dưỡng nguồn lực con người. Khi phân tích về
nguồn lực để phát triển đất nước Đảng ta xác định. Nguồn lực con người là
nguồn lực quan trọng nhất. Đồng thời cũng chỉ rõ: Người Việt Nam đang có
những hạn chế về thể lực, kiến thức và tay nghề. Khắc phục được những
nhược điểm đó thì nguồn nhân lực mới thực sự trở thành thế mạnh của đất
nước. Như vậy có thể khẳng định phát triển TDTT để tăng cường sức khoẻ,
nâng cao thể lực của nhân dân là một yêu cầu khách quan trong thời kỳ phát
triển mới của đất nước.
Từ các cơ sở đã trình bày ở trên có thể khẳng định, trong bất kỳ điều
kiện nào cũng cần chủ động phát triển những hoạt động TDTT trong nhân dân
và hướng hoạt động TDTT vào những mục tiêu chủ yếu nhằm nâng cao sức
khoẻ, xây dựng con người mới làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của
nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu quốc tế phục vụ các nhiệm vụ phát triển
Kinh tế - Xã hội, quốc phòng của đất nước.
Trường đại học Thể dục thể thao I - Từ Sơn - Bắc Ninh là nơi đào tạo
và cung cấp chủ yếu đội ngũ cán bộ, giáo viên, huấn luyện viên, vận động
viên trẻ cho toàn ngành TDTT và phục vụ sự nghiệp phát triển TDTT của tất

3
cả mọi miền của đất nước, là cái nôi giáo dục, đào tạo đầu tiên của ngành
TDTT.

Việt Nam hiện nay .
Năm 1999, tác giả Hà Quý Tình trong Luận án tiến sĩ kinh tế: “Vai trò
nhà nước trong việc tạo tiền đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá hiện đại
ở nước ta”, đã phân tích ý nghĩa của nguồn nhân lực, tạo lập nguồn nhân lực,
thực trạng nguồn nhân lực và vai trò của nhà nước đối với nguồn nhân lực.
Năm 1999, tác giả Mai Quốc Chánh trong cuốn: “Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
(Sỏch tham khảo), Nxb. Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, đó nờu lờn vai trũ của
nguồn nhõn lực và sự cần thiết phải nõng cao chất lượng nguồn nhân lực;
Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Năm 2001, tác giả Phạm Minh Hạc trên cơ sở kết quả nghiên cứu của
đề tài Khoa học cấp Nhà nước, đã viết cuốn: “Nghiên cứu con người và
nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, (Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội). Trong cuốn sách này tác giả đã trình bày khái quát lịch sử hình
thành và phát triển của ngành khoa học xã hội nghiên cứu con người trên thế
giới và Việt Nam. Một số kết quả trong công trình nghiên cứu con người và
nguồn nhân lực, đề xuất và kiến nghị về chiến lược và chính sách nhằm phát
triển toàn diện con người và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay.
Năm 2003, tác giả Lê Ái Lâm trong cuốn: “Phát triển nguồn nhân lực
thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm các nước khu vực Đông Á”,
(Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội) đã nêu lên một số luận giải lý thuyết cùng
những thực tiễn Đông Á và bài học kinh nghiệm trong phát triển nguồn nhân
lực thông qua giáo dục và đào tạo.
Năm 2004 tác giả Phạm Minh Hạc (chủ biên) Phạm Thành Nghị, Vũ
Minh Chi, trong cuốn: “nghiên cứu con người và nguồn nhân lực”, (Nxb.

5

cách khá toàn diện, dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa thấy có tác giả và công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu và đề
xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực thể thao ở Việt Nam, đặc biệt là
các đề tài có liên quan đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đối với
nguồn nhân lực thể thao ở một trường thể thao đầu ngành như Trường Đại
học Thể dục thể thao Trung ương I - Từ Sơn, Bắc Ninh hiện nay. Đề tài luận
văn này được đặt ra và nghiên cứu nhằm bổ sung vào phần khiếm khuyết đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Trên cơ sở luận giải và làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thể thao, và qua khảo sát tại Trường
Đại học TDTT I - Từ Sơn - Bắc Ninh. Tác giả muốn đề xuất một số giải pháp
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực này ở một trường đại
học cụ thể nói riêng, và tại các trường đào tạo nguồn nhân lực thể thao trong
cả nước nói chung.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên luận văn cần tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau: (3 nhiệm vụ)
- Làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến khái niệm nguồn nhân
lực thể thao và vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đối với nguồn
nhân lực thể thao ở nước ta hiện nay.
- Phân tích khảo sát thực trạng đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực
thể thao ở nước ta qua khảo sát thực tế tại Trường Đại học TDTT I Từ Sơn -
Bắc Ninh.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực thể thao ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:

7


Chƣơng 1
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THỂ THAO Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Khái niệm và đặc điểm nguồn nhân lực thể thao
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực thể thao
Trong các nguồn lực mà loài người hiện có và đang sử dụng trong quá
trình phát triển xã hội thì nguồn nhân lực hay nguồn lực con người có vai trò
quyết định nhất. Bởi vì "Con người là đối tượng trung tâm của sự phát triển"
đồng thời là nguồn lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định tới mọi nguồn lực của
sự phát triển "Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực" [64,
tr.42], là tài nguyên của mọi tài nguyên. Đuke, một tổ hợp công nghiệp Mỹ
cho rằng, bí quyết thành công của họ về sự phát triển gồm "ba điều cốt yếu:
Trước hết là con người, kế đó là con người và sau hết cũng là con người" [36,
tr.35]. Điều này nói lên con người vừa là mục đích vừa là động lực chủ yếu
của sự phát triển.
Khái niệm nguồn nhân lực đã được các tổ chức quốc tế nêu lên. Các nhà
khoa học và trong một số luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ta cũng đã đưa ra
những khái niệm về nguồn nhân lực quốc gia có sự tương đồng và khác nhau nhất
định.
Liên Hiệp quốc cho rằng, nguồn nhân lực bao gồm những kiến thức, kỹ
năng và năng lực của con người có quan hệ với sự phát triển quốc gia. Quan

9

10
Thiết nghĩ hai khái niệm về nguồn nhân lực nêu trên phù hợp với cấu
trúc của sự vật, hiện tượng ở chỗ nguồn nhân lực là sự thống nhất bởi hai mặt
số lượng và chất lượng con người. Hai mặt đó không thể tách rời nhau. Có sự
ảnh hưởng qua lại với nhau, trong đó mặt chất lượng là quyết định sức mạnh
của nguồn nhân lực. Tuy vậy, hai khái niệm trên vẫn chưa nói tới yếu tố hoạt
động, tức là vai trò và quy định trong phạm vi độ tuổi lao động của nguồn
nhân lực. Bởi vì nguồn nhân lực không phải bao quát mọi lứa tuổi, mà chỉ
giới hạn trong độ tuổi lao động và không chỉ tồn tại, phát triển dưới dạng tiềm
năng (đang được giáo dục - đào tạo), phần lớn là đang hoạt động, đang sáng
tạo ra của cải vật chất, tinh thần.
Khái niệm nguồn nhân lực sau đây cũng có cấu trúc hợp lý và là những
con người trong độ tuổi lao động có thể huy động được: "Nguồn nhân lực là
một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật,
có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt:
về số lượng, đó là tổng số những người đang trong độ tuổi lao động và thời
gian làm việc có thể huy động được họ Về chất lượng nguồn nhân lực, đó là
trình độ chuyên môn và sức khoẻ của người lao động" [10, tr.31].
Chúng tôi tiếp thu những yếu tố hợp lý, sự cấu trúc đúng đắn của các
khái niệm về nguồn nhân lực trên đây và đề cập thêm một số yếu tố cần thiết
với sự xác định vai trò to lớn của nguồn nhân lực, xin đưa ra khái niệm như
sau: "Nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người) là toàn bộ tiềm năng về dân
số, tiềm năng về lao động của một quốc gia hay cộng đồng, đang và sẽ tham
gia vào các quá trình hoạt động nhằm tạo ra các của cải vật chất và tinh thần,
nhằm thúc đẩy quá trình phát triển của quốc gia hay cộng đồng đó”.
Trong khi đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, ngày nay do yêu cầu thúc
đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển nhanh các nhà nghiên cứu còn phát triển
mở rộng thêm nội dung khái niệm nguồn nhân lực, từ đó hình thành nên nhiều
khái niệm mới trong đó có khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao.



12
Thế giới cũng đưa ra những khái niệm về sức khoẻ con người. Có
những khái niệm về sức khoẻ thể hiện sự tương đồng về nội hàm. Chẳng hạn
các nhà khoa học Mỹ năm 1968 nêu lên khái niệm: "Sức khoẻ không chỉ đơn
thuần là không bệnh tật, không yếu đuối, mà còn là trạng thái lành mạnh, đầy
đủ về thể chất, tinh thần và sự thoải mái về xã hội" [23, tr.3]. Mười năm sau,
năm 1978, trong tuyên ngôn AlmaAta Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thống
nhất và đưa ra quan niệm mới về sức khoẻ. Theo đó: "Sức khoẻ là trạng thái
thoải mái cả về thể chất lẫn tâm thần xã hội chứ không chỉ đơn thuần là tình
trạng không bị bệnh tật hay không bị chấn thương [43, tr. 34].
Sức khoẻ con người với những tiêu chí cơ bản như các khái niệm nêu
lên ở trên đây đối với con người nói chung và nguồn nhân lực nói riêng thì ai
cũng có thể chăm sóc, rèn luyện, giữ gìn để có được. Mỗi người phải biết quý
trọng sức khoẻ tức là quý trọng sự tồn tại và phát triển của cá nhân mình, của
cộng đồng, để cho cuộc sống hạnh phúc, tươi đẹp, đầy ý nghĩa. Bởi vì con
người có sức khoẻ là có thêm một nội lực thúc đẩy mạnh mẽ ý chí. Sự quyết
tâm, phấn khích trong học tập, trong mọi hoạt động có kết quả tốt.
Để có sức khoẻ cả thể chất và tinh thần, mỗi người trong nguồn nhân
lực ngoài các điều kiện sống như ăn, mặc, ở đầy đủ, với điều kiện môi trường
tự nhiên, môi trường sinh thái trong lành, môi trường xã hội lành mạnh,
phương tiện phòng bệnh, chữa bệnh tốt, thì ai cũng cần thiết dành một số thời
gian nhất định hằng ngày cho việc rèn luyện thân thể, vui chơi thể thao. Thời
gian dành cho sự rèn luyện sức khoẻ, tinh thần đó không bao giờ hoài phí nó
đem lại lợi ích to lớn đối với mỗi con người, cộng đồng và toàn xã hội, trong
hiện tại và cả tương lai.
Tri thức, là sự hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân
con người. Mỗi người trong nguồn nhân lực ai cũng cần thiết sở hữu một vốn
tri thức nhất định, nhiều hay ít phụ thuộc vào sự học tập, nghiên cứu của mỗi
cá nhân. Tri thức được trang bị, thu nhận từ trong nhà trường phổ thông các

Sức khoẻ, tri thức là điều kiện tất yếu, thường xuyên cho sự tiếp thu,
trau dồi kỹ năng nghề nghiệp của con người. Nhưng chính kỹ năng nghề

14
nghiệp của con người tự nó không tạo ra được các giá trị vật chất, tinh thần
mà phải thông qua hoạt động thực tiễn. Chính thực tiễn không chỉ tạo ra các
giá trị vật chất, tinh thần cho nhân dân, cho đất nước mà còn kiểm định, đánh
giá kỹ năng nghề nghiệp của con người, của nguồn nhân lực.
Khoa học công nghệ đang phát triển mạnh ở nước ta, kinh tế tri thức
ngày càng được con người quan tâm, nghĩa là thực tiễn đòi hỏi nguồn nhân
lực có kỹ năng nghề nghiệp vững vàng, tinh thông được sàng lọc và rèn luyện
từ trong hoạt động. Học tập trong nhà trường mới chỉ là lý thuyết, sử dụng lý
thuyết vào hành động sáng tạo sẽ giúp con người những gì là đúng, những gì
chưa đúng trong nhận thức của mình, giúp cho nguồn nhân lực ngày càng có
kinh nghiệm và nâng cao chất lượng nghề nghiệp, nâng cao chất lượng hoạt
động và hiệu quả của lao động sáng tạo.
Đạo đức và tính tích cực của cá nhân trong nguồn nhân lực. Đây là hai
yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau. Con người có đạo đức thì tính tích cực
vì lợi ích chung mới phát sinh, phát triển. Ngược lại tính tích cực vì lợi ích
chung thể hiện đạo đức mới của người lao động.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc của con người, gốc có vững bền thì
cây mới tốt tươi. Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là giá trị tinh
thần cao đẹp của con người, của xã hội. Đạo đức không trực tiếp tạo ra các
giá trị vật chất, văn hoá, song nó là cội nguồn của mọi hoạt động tích cực,
sáng tạo vì lợi ích của toàn xã hội. Đồng thời đạo đức hướng con người tạo
dựng nên cuộc sống cộng đồng, bình đẳng, bác ái, nhân hoà, tươi đẹp, con
người sống khoẻ mạnh hơn, hoạt động năng động và có hiệu quả hơn.
Bởi vậy, mỗi người trong nguồn nhân lực được "vun trồng" đạo đức
tốt thì dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam tăng thêm sức mạnh hạnh
phúc và chóng phú cường.

dân số để ngày càng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đối với sự gia tăng
dân số thì phải hợp lý, không nhanh quá mà cũng không chậm quá. Sự gia
tăng dân số nhanh quá thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế - xã
hội. Nếu sự gia tăng dân số chậm quá thì sẽ dẫn tới sự thiếu hụt nguồn nhân

16
lực để phát triển kinh tế - xã hội. Cho nên Nhà nước có chính sách điều tiết sự
gia tăng dân số phải hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, nhằm đảm bảo sức mạnh của nguồn nhân lực về lượng và nhất
là về chất. Chính vì vậy, trong cuốn “ Con người và nguồn lực con người”
(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội), tác giả dẫn: "Sự phát triển nhanh chóng
kinh tế - xã hội và kỹ thuật không chỉ cần một số lượng lớn lao động mà còn
yêu cầu cao hơn về chất lượng của người lao động" [65, tr.40]. Tinh thần này
cũng nhằm đáp ứng với một xu thế lớn của thời đại đặc trưng cho vai trò thập
kỷ đầu của thế kỷ XXI: toàn cầu hoá, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông
tin, kinh tế tri thức, xã hội thông tin.
Nguồn nhân lực của nước ta hiện nay có số lượng người đông đảo do
quy mô dân số lớn. Đó là lợi thế và có sức mạnh về lượng. Tuy vậy, chất
lượng của nguồn nhân lực nước ta hiện nay rất hạn chế. Chất lượng của nguồn
nhân lực phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng giáo dục - đào tạo. Giáo dục - đào
tạo của nước ta hiện nay còn nhiều yếu kém. Theo báo cáo của Ngân hàng thế
giới (WB) năm 2006, giáo dục Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước
trong khu vực, hàng cuối cùng so với các nước Châu Á. Giáo dục nước ta
đang yếu kém như vậy cho nên đào tạo ra nguồn nhân lực quốc gia chất lượng
rất thấp. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2005, chất lượng nguồn
nhân lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát. Bởi
vậy cần phải đổi mới nền giáo dục - đào tạo của nước ta hiện nay một cách
toàn diện nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực cho tất cả các lĩnh vực đảm bảo về
mặt chất lượng đáp ứng với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
vững vàng hoà nhập với thế giới.

thần của bản thân con người, đó là một loại hình hoạt động vận động được thể
hiện thông qua các cách thức rèn luyện thân thể nhằm tăng cường thể chất cho
con người nâng cao thành tích thể thao góp phần làm phong phú đời sống văn
hoá tinh thần và giáo dục con người phát triển toàn diện.

18
Mục tiêu chủ yếu của TDTT là sức khoẻ cho mọi người, phát triển và
hoàn thiện thể chất cho thế hệ trẻ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. TDTT còn góp phần vào công tác giáo
dục đạo đức ý chí, xây dựng lối sống lành mạnh, góp phần làm phong phú đời
sống văn hoá tinh thần cho nhân dân. TDTT được coi là phương tiện để mở
rộng và giao lưu văn hoá, tăng cường tình đoàn kết , thúc đẩy quan hệ hợp tác
trong nước, đồng thời là phương tiện để mở rộng hợp tác quốc tế.
Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của
chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ
làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân. Dưới chế độ ta tất cả
các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội đều đặt con người ở vị trí trung tâm,
mục tiêu cuối cùng của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta là đem lại đời sống ấm no hạnh phúc cho con người.
TDTT là một phương tiện có hiệu quả để nâng cao sức khoẻ và thể lực cho
nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần tích cực vào bồi dưỡng nguồn lực
con người, đáp ứng yêu cầu lao động và sãn sàng bảo vệ tổ quốc trong điều
kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Do vậy phát triển
TDTT được coi như một nội dung quan trọng của chính sách xã hội nhăm
chăm lo và bồi dưỡng nguồn lực con người.
Khi phân tích về các nguồn lực để phát triển đất nước, Đảng ta đã xác
định “Ngồn lực con người là nguồn lưc quan trọng nhất”, dồng thời cũng chỉ
rõ người Việt Nam đang có những hạn chế về thể lực, kiến thức và tay nghề,
khắc phục được những nhược điểm đó thì nguồn nhân lực và nhân tố con
người mới thực sự trở thành thế mạnh của đất nước. Như vậy có thể khẳng

tiến trình phát triển kinh tế xã hội, giáo dục - đào tạo và thể thao đỉnh cao. Số
lượng nguồn nhân lực thể thao nước ta hiện nay không nhiều, có khoảng gần
70.000 người trong đó khoảng 30.000 đang được đào tạo trong các trường Đại
học TDTT, các khoa Giáo dục thể chất của các trường đại học và cao đẳng sư

20
phạm. Số lượng nguồn nhân lực thể thao chưa tới 1/1000 nguồn nhân lực
quốc gia.
Nguồn nhân lực thể thao, số lượng phải không ngừng tăng lên để phục
vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Các cơ sở sản xuất công nghiệp với các nhà máy, công ty lớn ngày
càng nhiều, do đó ngày càng thu hút đông đảo người lao động. Họ cần được
bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, nâng cao đời sống. Họ cần có sự tổ chức,
hướng dẫn tập luyện, vui chơi lành mạnh, đòi hỏi có thêm nhân lực thể thao
phục vụ. Mỗi năm có thêm hơn một triệu lao động vậy phải có thêm ít nhất
một nghìn người trong nguồn nhân lực thể thao đáp ứng. Đồng thời đối với
toàn dân do kinh tế phát triển, đời sống vật chất của nhân dân tăng lên, mọi
người ngày càng có nhu cầu về sức khoẻ và văn hoá tinh thần tham gia rèn
luyện thân thể vui chơi thể thao trong các câu lạc bộ, nhà văn hoá Tình hình
đó ngày càng cần đến nhiều nhân lực thể thao để huấn luyện, hướng dẫn, tổ
chức cho nhân dân tập luyện, giao lưu thể thao.
Nguồn nhân lực thể thao số lượng không ngừng phải được tăng lên để
phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo của đất nước. Giáo dục và đào
tạo của nước ta ngày càng phát triển, trường học các cấp, các bậc học ngày
càng được thành lập kể cả công lập và ngoài công lập, thu hút ngày càng
nhiều người vào học. Điều đó không chỉ nhằm mục đích phổ cập giáo dục,
nâng cao dân trí mà còn với mục đích quan trọng là đào tạo ngày càng đông
đảo nguồn nhân lực để phát triển đất nước. Sự phát triển giáo dục - đào tạo
như vậy đòi hỏi ngày càng bổ sung một số lượng tương đối lớn nguồn nhân
lực thể thao vào làm giảng viên, giáo viên thể dục ở các trường học.

tạo, về sức khoẻ phải có cơ thể lành mạnh, không ốm đau, không bệnh tật,
trạng thái tâm thần bình thường, về thể lực phải có chiều cao đứng đối với
nam từ 165cm trở lên, và nữ từ 155cm trở lên (trừ một số người có năng
khiếu và thành tích thể thao tốt, đoạt huy chương tại các cuộc thi đấu quốc gia
và quốc tế, chiều cao có thể thấp hơn), phải có sức nhanh, sức mạnh, sức bền
bỉ dẻo dai và sự khéo léo. Đó là điều kiện, tiêu chuẩn về sức khoẻ, thể lực đào

22
tạo phát triển nguồn nhân lực thể tao đảm bảo cho học tập hoạt động thực tiễn
TDTT có kết quả tốt. Không có sức khoẻ, thể lực như vậy thì không thể tiếp
thu, rèn luyện được các kỹ năng chuyên môn, không thể thực hiện được các
động tác, bài tập phức tạp, không thể ứng phó được với cường độ cao, lượng
vận động lớn và không thể thực thi được nhiệm vụ nghề nghiệp của mình.
Bởi vậy để đào tạo nguồn nhân lực thể thao, yếu tố sức khỏe, thể lực là
một điều kiện, một tiêu chuẩn đầu tiên không thể thiếu. Phải có điều kiện, tiêu
chuẩn về sức khoẻ, thể lực thì người học mới tiếp thu mới rèn luyện được các
kỹ năng vận động và tăng cường sức khoẻ, thể lực nhiều hơn nữa trong quá
trình đào tạo. Sau khi kết thúc đào tạo trong nhà trường các sinh viên sẽ có
sức khỏe và thể lực tốt, kỹ năng chuyên môn vững vàng, họ tham gia hoạt
động trong lĩnh vực TDTT mới có tính khả thi.
Thứ hai, nguồn nhân lực thể thao phải có yếu tố tri thức văn hoá tương
đối toàn diện. Tri thức của nguồn nhân lực thể thao là những điều hiểu biết về
tự nhiên, xã hội và con người như ở bậc trung học phổ thông mà còn phải
được nâng cao hơn ở bậc đại học. Nguồn nhân lực thể thao sau khi đã tốt
nghiệp đại học, cao đẳng cần học tiếp và nâng cao như toán, lý, hoá, sinh, giải
phẫu học, sinh lý học, vệ sinh học TDTT, y học TDTT, các kiến thức cần thiết
như : các môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn trong đó có tâm lý học, giáo
dục học, kinh tế học TDTT, xã hội học TDTT và các môn lý luận, lý thuyết
TDTT, lý thuyết ứng dụng vv ở bậc cao học, nghiên cứu sinh còn học sâu
hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status