1, MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết ngành học mầm non là ngành học nằm trong hệ thống giáo
dục quốc dân” Ngành học có nhiệm vụ nuôi dưỡng ,chăm sóc giáo dục trẻ từ 3
tháng tuổi đến 6 tuổi ”nếu được chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục tốt trẻ sớm phát
triễn thể chất và chí tuệ một cách đúng hướng và mạnh mẽ, nó là giai đoạn cực kỳ
quan trọng trong sự hình thành và phát triễn nhân cách trẻ
Giáo dục mầm non hình thành cho trẻ những yếu tố nhân cách đầu tiên của
con người đó là: Nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Để đạt được
mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện thì cần phải kết hợp hài hòa giữa nuôi dưỡng,
chăm sóc sức khỏe và giáo dục đó là điều tất yếu.
Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em củng đã nêu rõ, “ sức khỏe của trẻ em hôm
nay là sự phồn vinh cho xã hội mai sau” để đáp ứng với những nhu cầu phát triển
đi lên của đất nước trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu chiến lược phát triễn giáo
dục của bậc học mầm non đã chỉ rõ, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo
dục trẻ trước 6 tuổi tạo điều kiện để cho trẻ phát triễn toàn diện về thể chất ,tình
cảm,chí tuệ,thẫm mỹ...”
Xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con người ngày càng được coi trọng,
vốn quý nhất có ý nghĩa sống còn với con người. Đặc biệt là đối với trẻ Mầm
non, lứa tuổi cơ thể trẻ còn non yếu, dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối do quá
trình chăm sóc, hoặc là chăm sóc chưa đúng, hoặc là chưa đủ hoặc là chăm sóc thái
quá... Dẫn đến tình trạng trẻ suy dinh dưỡng, béo phì vv...
Vì vậy nuôi dưỡng ở trường mầm non chiếm một vị trí vô cùng quan trọng vì
ở lứa tuổi này trẻ được ăn ngủ ,học cả ngày ở trường và đây củng là giai đoạn để cơ
thể trẻ phát triễn tốt nhất ,các cơ quan của cơ thể đang trên đà hoàn thiện và hình
thành nhân cách của trẻ tốt nhất, đồng thời đây củng là kỳ chuẩn bị những kiến
thức cơ bản cần thiết cho trẻ bước vào học phổ thông một cách vững chắc
Song thực tế hiện nay vẫn còn một số giáo viên và phụ huynh chưa quan tâm
đúng mức đến việc chăm sóc ,nuôi dưỡng trẻ ,kiến thức nuôi dạy trẻ còn hạn chế do
đó tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng ,thấp còi mắc các loại bệnh như viêm phế
quản,xâu răng ....còn quá nhiều
-Phương pháp sử lý số liệu
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp thống kê tổng hợp kết quả theo dõi khám sức khỏe định hỳ và
theo dõi trên biểu đồ tăng trưởng
- Phương pháp tuyên truyền: phối hợp với các ban nghành có liên quan để
tuyên truyền cách phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ
2, NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết dinh dưỡng được xem như một nhu cầu hàng ngày, nhu
cầu cấp bách, bức thiết không thể thiếu cho mỗi con người.vì nó cung cấp năng
lượng, các chất dinh dưỡng giúp cho cơ thể duy trì tế bào tổ chức và năng lượng để
hoạt động sống của cơ thể.
Có thể nói khái niệm dinh dưỡng được mở rộng người ta nói: Là sự “Giằng
buộc” giữa dinh dưỡng và thực phẩm. Nhưng về mặt dinh dưỡng, thế giới hiện nay
đang đứng giữa 2 bờ vực thẳm đó là: Sự thiếu ăn, thừa ăn và thức ăn không an toàn.
Nếu mà dinh dưỡng thiếu hoặc thừa thì có thể gây bệnh và ảnh hưởng bất lợi cho
cơ thể. Đặc biệt đối với trẻ Mầm non, khi cơ thể trẻ đang lớn và trưởng thành. Bộ
máy tiêu hoá chưa hoàn thiện, nếu ăn thiếu về số lượng, không cân đối về chất
lượng thì sẽ bị suy dinh dưỡng, giảm cân, thiếu máu giảm khả năng hoạt động, tăng
khả năng mắc bệnh, bệnh tật sẽ nhiều hơn, nặng hơn, kéo dài hơn. Ngược lại nếu ăn
quá nhiều chất về số lượng mà cũng không cân đối về chất lượng cơ thể lại ốm yếu
vì khả năng tiêu hoá, hấp thu các chất dinh dưỡng không tốt dẫn đến rối loạn các
2
chức năng của bộ phận, thay đổi các chỉ số hoá sinh và diễn ra các biểu hiện lâm
sàng về các bệnh suy dinh dưỡng không lây truyền như tim mạch, béo phì, cao
huyết áp, tiểu đường, vv…
Cơ thể trẻ thiếu dinh dưỡng là đối tượng đầu tiên chịu nhiều hậu quả về thiếu
Châu Lộc là một xã thuần nông nghèo. Có thu nhập bình quân trên đầu
người mức trung bình, Châu lộc nằm ở phía tây của huyện Hậu Lộc, với tổng số hộ
dân: 858 Tổng diện tích là: 3,32 Km2; Tổng số nhân khẩu 3,550; Tỷ lệ phát triển
dân số tự nhiên hàng năm: 0,3%; Tổng số thôn: 06 thôn, 80% dân số sống bằng
nghề nông nghiệp.
*Nhà trường:
Năm học 2015-2016
- Tổng số cháu điều tra trong năm học 2015-2016 là: 271 cháu
3
- Tổng số huy động trẻ đến trường : 141 /271 đạt 52 %.
Trong đó :
Độ 3 tuổi có : 60 cháu
Độ 4 tuổi có : 31 cháu
Độ 5 tuổi có : 28 cháu
Độ nhà trẻ có : 22 cháu
- Tổng số nhóm lớp :
Trong đó :
3 tuổi có 2 lớp
4 tuổi có 1 lớp
5 tuổi có 1 lớp
Nhà trẻ có: 1 nhóm
- Tổng số lớp ăn bán trú tại trường 5/5 lớp đạt tỷ lệ 100%. Tổng số cháu ăn
100/141 đạt tỷ lệ 71%
- Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên: 13. Trong đó: Cán bộ quản lý 2, giáo
viên 11.
- 100% cán bộ giáo viên, nhân viên đạt trình độ chuẩn, trên chuẩn.
*Cơ sở vật chất
Được sự quan tâm của Đảng uỷ,uỷ ban mua sắm trang thiết bị như bàn ghế,đồ
ảnh hưởng đến công tác chăm sóc, giáo dục trẻ đó là:
Do đặc điểm của địa phương là một xã thuần nông với nghề trồng rau,cây lúa
tuy có nghề phụ nhưng mức sống chưa cao nên hạn chế đến mức đóng góp tiền ăn
cho trẻ
Mặc dù trình độ dân trí đã được nâng lên nhưng Châu lộc là một địa phương
còn nghèo, đời sống kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, nhận thức của
một bộ phận không nhỏ phụ huynh về việc chăm sóc con theo khoa học và vấn đề
cho trẻ ăn bán trú tại trường còn hạn chế dẫn đến tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng và tỷ lệ
trẻ ăn bán trú tại trường chưa đạt 100%.
Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ ăn bán trú của nhà trường tuy đã được bổ
sung hàng năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Giáo viên dinh dưỡng không được đào tạo chính quy nên việc xây dựng khẩu
phần ăn và linh hoạt trong việc cân đối dinh dưỡng và chế biến món ăn cho trẻ còn
hạn chế. Công tác tuyên truyền còn ít, chưa khoa học, số buổi tập huấn kiến thức
nuôi dạy trẻ cho các bà mẹ có nhưng chất lượng chưa cao.
Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng sức khỏe trẻ mầm non:
Tổng số trẻ đến trường năm học 2015 - 2016 là : 141 cháu
TS
Cân nặng
Chiều cao
Kênh BT
Kênh SDD
Kênh BT
Kênh TC
- MG 708-826 kcal/ trẻ/ ngày
Mức đóng góp của phụ huynh: 9.000/ trẻ/ ngày
Số liệu trên cho thấy:
Lượng kcal của trẻ theo quy định chưa đạt yêu cầu. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng
cả về cân nặng, chiều cao còn cao. Tỷ lệ trẻ ăn bán trú tại trường còn thấp so với
một số trường trong huyện.
Nguyên nhân chính của vấn đề là:
Chế độ dinh dưỡng tại gia đình chưa hợp lý.
5
Chế độ dinh dưỡng tại nhà trường ( xây dựng thực đơn, cân đối định lượng, số
tiền ăn thấp)
Mức đóng góp tiền ăn là: 9.000đ/trẻ/ ngày (Đầu năm). Giá cả thị trường cao
dẫn đến mức ăn của trẻ chưa đảm bảo (Lượng Kcal của nhà trẻ đạt: 700-800 kcal/
trẻ/ ngày; MG 708-827 kcal/ trẻ /ngày )
Đó cũng chính là một số lý do khiến tôi trăn trở và tôi đã mạnh dạn đề xuất một
số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ ở trường Mầm non Châu Lộc
Bảng 2 : Kết quả khảo sát thực trạng nhân viên
Số
Nội lượng
dung
3
Trình độ đào tạo
ĐH
1
CĐ
2.3.2 Biện pháp tổ chức thực hiện:
Biện Pháp 1: Nâng cao nhận thức về dinh dưỡng và tầm quan trọng của dinh
dưỡng đối với trẻ.
Bồi dưỡng kiến thức thực hành dinh dưỡng thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực
phẩm,vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ cán bộ giáo viên phòng chống suy dinh
dưỡng cho trẻ.
Chúng ta thường nói kết quả của mọi thành công đều phải xuất phát từ nhận
thức. Nhận thức đúng sự việc sẽ giúp cho chúng ta đi đúng hướng, thực hiện đúng
nhiệm vụ đề ra. Nâng cao nhận thức chính là các hình thức vận động tuyên truyền,
bồi dưỡng để cho những người thực hiện, những tổ chức, cá nhân có liên quan cùng
thấu hiểu và cùng chung tay góp sức.
6
Đối với công tác nuôi dưỡng tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề này. Để làm
tốt việc nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, phụ huynh và các tổ chức xã hội
tôi đã thực hiện như sau:
Yêu cầu giáo viên trong trường nắm vững lý thuyết thực hành dinh dưỡng,
vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh chăm sóc sức khoẻ cho trẻ.
Biết làm tốt công tác tuyên truyền dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm
đến cha mẹ và nhân dân địa phương.
Ví dụ : Nhà trường phát động phong trào thi đua cho từng khối,nhóm,lớp,để giáo
viên tích cực làm tốt công tác huy động và duy trì sĩ sốỉtẻ ăn bán trú tốt
Nhà trường luôn thay đổi chế độ ăn theo quy định, thay đổi chế độ ăn xây dựng
thực đơn phù hợp căn cứ vào nhu cầum năng lượng của từng độ tuổi để xây dựng
khẩu phần ăn đặc biệt quan tâm đén việc chăm sóc về tinh thần,tạo bầu không khí
vui tươi đầm ấm, giúp trẻ có cảm giác như bữa ăn tại gia đình ,trẻ ăn ngon miệng
hơn.
Ví dụ : cân đối khẩu phần ăn bằng cách tính khẩu phần sao cho cân đối giữa các
- Việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ phải đảm bảo đúng mười nguyên tắc vàng trong ăn
uống
* Đối với trẻ : giáo dục dinh dưỡng để trẻ biết được 4 nhóm thực phẩm cơ bản,
nhắc nhỡ trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm đó là chất bột đường,chất đạm,chất béo,và
chất vitaminc thì da dẻ mới hồng hào
Thông qua lồng ghép tích hợp các môn học như cho trẻ chơi lô tô chọn thực
phẩm theo hiệu lệnh của cô
Các bước tiến hành như sau:
*Đối với cán bộ giáo viên,nhân viên
- Hướng dẫn cô nuôi xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa, thay đổi theo
tháng nhằm tránh sự nhàm chán các món ăn.
- Hướng dẫn cách tính chi tiết khẩu phần ăn, điều chỉnh các chất dinh dưỡng
nói chung và tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong ngày cho thích hợp với thực tế nguồn
thực phẩm sẵn có ở địa phương, đảm bảo cân đối đủ chất.
- Nhà trường tổ chức hội thảo các chuyên đề chọn mua thục phẩm sạch tại
trường
- Tạo điều kiện để giáo viên dinh dưỡng tham gia đầy đủ các lớp chuyên đề
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm do Sở và Phòng giáo dục tổ chức.
- Nhà trường tổ chức thi thực hành dinh dưỡng cấp trường để GV trải nghiệm
và học hỏi lẫn nhau.
- Chỉ đạo giáo viên tạo môi trường học tập về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm đẹp về hình thức, phong phú về nội dung để giáo dục trẻ.
- Tạo góc trao đổi phụ huynh thông báo kịp thời tình hình sức khoẻ của trẻ.
Thể hiện trên biểu đồ tăng trưởng để phụ huynh nắm bắt và phối hợp cùng nhà
trường điều chỉnh nếu sức khỏe trẻ có vấn đề.
- Cung cấp tài liệu sách báo băng đĩa có nội dung giáo dục dinh dưỡng để
cán bộ giáo viên tham khảo, học hỏi.
- Đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an thực phẩm tuyên truyền đến
toàn thể nhân dân.
* Đối với phụ huynh và cộng đồng
việc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học còn hạn chế. Để huy động được trẻ ăn bán trú ở
trường đã khó, vận động phụ huynh đóng góp để đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ
trong tình hình giá cả thị trường hiện nay càng khó hơn.
Năm học 2015-2016 mức góp đã được nâng lên 10.000đ/ cháu/ngày
Theo yêu cầu là trẻ được ăn ít nhất 2 bữa/bữa chính và bữa phụ ngày tại
trường và đảm bảo Nhà trẻ 706-826 kcal; Mẫu giáo từ 725-882/ kcal.
- Nâng cao công tác vận động các nhà hảo tâm hỗ trợ tiền mua chất đốt,gạo
- Tăng cường xây dựng VAC trong trường để cung cấp nguồn thực phẩm
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tăng mức ăn cho trẻ bằng cách tiết kiệm tiền
rau trồng được trong vườn trường theo mùa để chuyển sang mua các loại thực
phẩm khác.
- Ví dụ: Nhà trường chia theo tổ giáo viên. Tổ trồng bí đỏ, tổ trồng rau xanh
các tổ có trách nhiệm phân công các thành viên trong tổ chăm sóc. Ra định mức
phải nạp về nhà bếp để các thành viên trong tổ có trách nhiệm hoàn thành định
mức đã đề ra.
- Chú ý sử dụng thực phẩm theo mùa sẵn có ở địa phương với giá thành hạ
mà chất lượng dinh dưỡng vẫn đảm bảo. Thay thế những thực phẩm tương ứng là
thực phẩm giàu chất đạm.
Ví dụ: Tôm, lươn, cua, cá, trai, hến... thay thế cho thịt bò... cũng là thực
phẩm giàu chất đạm nhưng giá thành cao.
- Phối hợp mua thực phẩm ở đại lý và giết mổ để có giá thành hạ theo giá
bán buôn lại cung ứng đến tận trường đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
- Công khai thực đơn hàng ngày, giá cả trên bảng để phụ huynh yên tâm.
- Thực hiện đúng theo thực đơn, nếu có thay đổi phải thông báo trên bảng để
phụ huynh được biết
9
- Tuyên truyền để phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng của việc cung
- Kiểm tra cách xây dựng thực đơn và thực hiện thực đơn trong ngày.
- Kiểm tra xuất ăn các nhóm lớp và đối chứng với nhà bếp để tránh tình trạng
tăng hoặc giảm xuất ăn so với số thực dẫn đến không đảm bảo khẩu phần ăn cho
trẻ.
- Tổ chức chỉ đạo, quản lý, kiểm tra chặt chẽ, tài chính công khai rõ ràng, minh
bạch, thanh quyết toán từng tháng, từng quý giữa Phụ huynh với nhóm lớp; Nhóm
lớp với nhà bếp; Nhà bếp với nhà trường.
Kết quả công tác kiểm tra:
- 100% giáo viên thực hiện tốt nội quy, quy chế về công tác chăm sóc nuôi
dưỡng của nhà trường.
10
-100% thực phẩm nhập về đảm bảo tươi sống, vệ sinh an toàn thực phẩm, đủ
về số lượng, đảm bảo về chất lượng.
- Thực đơn thực hiện trong ngày theo đúng thực đơn công khai của nhà bếp.
- Công tác báo ăn và chia ăn đảm bảo, không có tình trạng báo tăng, hoặc giảm
xuất ăn so với thực tế, tỷ lệ thức ăn chia về các nhóm lớp được cân theo đầu cháu
không để xảy ra tình trạng nhiều cháu nhưng thức ăn ít hoặc ngược lại.
- Công tác lưu mẫu thức ăn được thực hiện thường xuyên, dúng quy định.
- Công tác tài chính công khai được thực hiện nghiêm túc, rõ ràng, minh bạch,
đúng thời gian.
Công tác kiểm tra sẽ giúp nhà trường kiểm soát và điều chỉnh kịp thời những
thiếu sót, sai phạm của giáo viên, chấn chỉnh kịp thời để giúp giáo viên sửa đổi,
góp phần xây dựng kỷ cương trong nhà trường và đảm bảo công tác chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ.
Để làm tốt công tác khám sức khoẻ và can đo theo định kỳ cho trẻ 3 lần trên
năm theo giỏi kiểm tra phân loại sức khoẻ của trẻ trên biểu đồ tăng trưởng để có
chế độ kịp thời ,phù hợp,những trẻ có biểu hiện béo phì ,suy dinh dưỡng cần kiểm
tra cân đo hàng tháng đẻ điều chỉnh chế độ ăn cho phù hợp
- Vệ sinh dụng cụ chế biến thức ăn, bát thìa phải sạch sẽ dụng cụ chế biến
thúc ăn sống riêng, dụng cụ chế biến thức ăn chín riêng.
- Quán triệt những ai không phận sự nhà bếp không được vào.
- Kiểm tra thường xuyên các khâu sơ chế và chế biến thực phẩm của nhà bếp
Từ việc kiểm tra đó mà chúng tôi đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Chính vì vậy để nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ chúng ta
không thể không đề cập tới vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường Mầm
non. An toàn vệ sinh thực phẩm sẽ góp phần to lớn trong việc đảm bảo sức khoẻ
cho trẻ, tạo được niềm tin yêu đối phụ huynh. Đây cũng là biện pháp tốt nhất để
tuyên truyền phụ huynh nhằm nâng cao tỷ lệ trẻ ăn bán trú tại trường.
Biện pháp 5: Chống thất thoát, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm:
Thất thoát thực phẩm có thể xảy ra ở rất nhiều trường hợp. Thất thoát thực
phẩm cũng là một trong những nguyên nhân làm cho khẩu phần ăn của trẻ bị giảm
đi, khẩu phần ăn của trẻ giảm dẫn đến không đảm bảo lượng kcal cung cấp theo
yêu cầu cho trẻ.
Thất thoát thực phẩm được xác định có thể xảy ra ở các khâu bắt đầu từ khâu
nhận chợ cho đến khi cho trẻ ăn trên lớp và bất kể sự cố nào cũng có thể gây thất
thoát.
Ví dụ: - Chế biến không ngon cháu bỏ ăn, ăn không ngon miệng, cháu ăn ít
thức ăn thừa ra.
- Mua thực phẩm không ngon phải loại bỏ nhiều.
- Thức ăn chia xong không đậy chẳng may bị nhiễm bẩn phải đổ...
Sự thất thoát còn có thể xảy ra lúc cháu ăn cô không quán xuyến cẩn thận cháu
ăn bị đổ, bị rơi vãi và do một số nguyên nhân khác. Chính vì vậy cần phải có biện
pháp để chống thất thoát và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tránh ngộ độc thức
ăn ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ.
Bằng cách:
- Giao trách nhiệm và định mức cho từng thành viên trong nhà bếp như:
+ Tiếp phẩm chịu trách nhiệm chất lượng, giá cả thực phẩm.
+ Cô nấu ăn phải chế biến ngon, sạch, đúng giờ. Nếu lượng thức ăn thải bỏ
Biện pháp 6: Cân đối dinh dưỡng
Như chúng ta đã biết ăn uống là cách cung cấp năng lượng và dinh dưỡng
tốt nhất cho cơ thể vì trong thức ăn có đủ các chất dinh dưỡng.
Ví dụ: Các chất khoáng cần cho sự tạo xương, tạo máu, đem lại sự lành
mạnh cho các hoạt động chức năng sinh lý. Protein ngoài chức năng xây dựng còn
tạo nên các tế bào mô, cơ quan. Gluxit là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho
cơ thể hoạt động bình thường của hệ cơ, hệ thần kinh. Các chất dinh dưỡng có
trong tất cả các loại thực phẩm nhưng hàm lượng mỗi chất trong mỗi loại không
giống nhau chính vì vậy cần phải cân đối khẩu phần ăn cho trẻ. Cho trẻ ăn đầy đủ
các chất đạm, chất béo, chất bột đường để giúp trẻ phát triển hài hòa cân đối.
Chỉ đạo giáo viên dinh dưỡng phải nắm chắc những điều kiện sau:
Khẩu phần ăn hợp lý là:
Cung cấp năng lượng đầy đủ: Nhà trẻ 800 kcal/ ngày/ trẻ; Mẫu giáo 882
Kcal/ trẻ/ ngày. Mức ăn ở trường 2 bữa/ ngày cần đảm bảo Nhà trẻ từ 706-826 kcal/
trẻ/ ngày; Mẫu giáo từ 735-882 kcal/ trẻ/ ngày.
Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết: Protein, Lipit; Gluxit. Các
chất sinh năng lượng phải ở tỷ lệ cân đối và hợp lý:
Cụ thể:
+ Lipit chiếm tỷ lệ 35-40% với năng lượng khẩu phần(Nhà trẻ); MG:
20-30% với năng lượng khẩu phần.
+ Protein chiếm 12-15% so với năng lượng khẩu phần.
+ Gluxit chiếm 50-55% so với năng lượng khẩu phần( Nhà trẻ); MG: 55-68%
so với năng lượng khẩu phần.
Để đảm bảo cân bằng chế độ dinh dưỡng cho trẻ phù hợp với mức đóng góp
cần chỉ đạo nhân viên:
13
- Xây dựng khẩu phần ăn chính xác, cân đối các chất (Lưu ý giữa nhà trẻ và
mẫu giáo)
VD1:Thực đơn tổng hợp theo ngày ( Ngày 14/03/2016 )
S
T
T
TÊN
THỨC
ĂN
LƯỢNG
ĐI CHỢ
(KG)
TỔNG
LƯỢN
G
(GAM
QUY
ĐỔI
PHẦN THỰC PHẨM DÙNG CHUNG
Muối0
0
0
Mì
Chính
ĐƠN
GIÁ
CAL
O
0
14
GHI
CHÚ
Phần thực phẩm dùng cho mẫu giáo: 100 cháu Mức thu : 10.000đ/cháu
1
Gạo tẻ máy
14.5
14.500
2
Cá thu
3.4
3
Lạc hạt
14282.
5
2210
60000
203.00
0
204000
1071.
19
0
0
142.82
227.63
0
10711.
88
0
1.5
1.500
0
440.8
169.1
46
190.9
5
0
2
2000
2000
50000
4
1.6
4000
1600
3120
1360
20000
904.8
448.8
3
0.3
3000
300
1350
300
60000
20000
180000
6000
68.85
15.6
0
0
117.45
0
0
0
300
300
300
300
20000
55000
6000
16.500
0
0
0
130.5
0
0
0
0.6
0
75
0
0
Lạc hạt
Vừng
Dầu
thực
vật
7 Bí xanh bí
đao
8 Tủy xương
lợn
Chỉ số thực
đơn /1 trẻ
Tỉ lệ P-L-G/1
trẻ
0
25.73%
Mức thu : 10 000/ cháu
1300
1280.5
14.000
18.200
0
30000
30000
4000
2.500
1750
14.48
59.15
0
0
0
0
0
21.17
9.55
0
19.58
33.48
0
0
0
0.3
300
219
520
4970
3.1
8511.
3
8511.
3
5567
10.09
29.82
4456.14
0
0
34.18
22.04
49.85
960.3
8
0
0
11.92
8..46
0
22.74%
907.08
58.04%
VD2: Bảng cân đối dinh dưỡng theo tuần
(Từ ngày 14/03/2016 đến ngày 18/03/2016)
S
T
T
DIỄN GIẢI
1
THỨ 2
PROTIT
NHÀ TRẺ
MẪU
GIÁO
ĐV
21.45
LIPIT
NHÀ TRẺ
MẪU
GIÁO
15.3
12.23
158.67
NHÀ
TRẺ
130.89
CALO
MẪU GIÁO
986.99
15
902.85
( 14/03/2016 )
THỨ 3
(15/03/2016 )
3
THỨ 4
(16/03/2016 )
4
THỨ 5
907.16
913.19
11.48
18.98
13.05
19.87
9.6
14.38
11.27
13.6
120.27
146.99
821.7
959.6
10.09
2.22
8.89
2.72
7.7
124.31
149.63
674.84
813.76
56.75
90.02
42.18
44.61
62.37
641.1
644.84
29.35
40.6
59.4
20.78
4.7
58.3
21.4
So voi nhu cau
chuan
Năng lượng do
các chất cung
cấp
Tỷ lệ P-L-G
cung cấp cho 1
trẻ
84%
59%
42%
43%
168.89
117.42
62.47
%
859.4
8
1719%
896.03
1792%
2.4 Kết quả sau khi âp dụng các bước
Có thể nói sau một năm thực hiện áp dụng một số biện pháp vào công tác
chăm sóc nuôi dưỡng chất lượng đã có sự thay đổi đáng khích lệ
Kết quả khảo sát như sau:
Tổng số trẻ đến trường :
TS
Số trẻ mắc
Cân nặng
Chiều cao
bệnh
Kênh BT
Kênh SDD
Kênh BT
Kênh TC
Số lượng
140
1
140
1
5
trình bày ở trên đã cho thấy một kết quả đáng khích lệ.
3, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận:
Từ những kết quả trên cho thấy rằng tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng đầu năm học so với
cuối năm học 2015-2016 giảm đi đáng kể, trẻ phát triễn cân đối hài hòa nhanh
chóng,hoạt bát tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng
ngày
Như vậy công tác chăm sóc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ mầm non có vai trò
quan trọng trong việc hình thành và phát triễn thể chất, tình cảm,chí tuệ,thẩm mỹ
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người mới,xã hội chủ nghĩa
chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện để trẻ phát triễn một cách toàn diện
Để có chất lượng nuôi dưỡng - chăm sóc- giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để
nhà trường phát huy tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng. Chất lượng chăm
sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khoẻ mạnh,
thông minh, ngoan ngoãn thì vai trò của nhà trường mới được phụ huynh và cộng
đồng thừa nhận. Trước hết ta phải ta phải nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ trong
trường mầm non
Tích cực chỉ đạo tốt công tác tham mưu cho các lớp học khang trang đầy đủ các
điều kiện tối thiểu phục vụ vệ sinh ăn ngủ cho trẻ ,để trẻ tích cực tham gia vào các
hoạt động,phụ huynh nhiệt tình tham gia vào cá hoạt động của nhà trường
Thường xuyên kiểm tra chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường để chất
lượng chăm sóc giáo dục ngày được nâng lên và phát triễn tốt để tỉ lệ trẻ suy dinh
dưỡng giảm dần.
Qua những năm làm công tác quản lý Bản thân tôi là phó hiệu trưởng phụ trách
công tác nuôi dưỡng của nhà trường tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm và lựa
chọn những phương pháp tốt nhất tôi luôn suy nghĩ trăn trở làm thế nào để giảm tỷ
lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống mức thấp nhất theo từng tháng,từng quý.và đây củng
là nhiệm vụ là trọng trách lớn lao mà Đảng, nhà nước và nhân dân tin tưởng giao
cho cô giáo Mầm non những người ươm mầm cho tương lai đất nước.
17
Nguyễn Thị Hương
18