A/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giáo dục học đại cương bài tập được xếp trong hệ thống phương pháp
dạy học đó là phương pháp luyện tập. Phương pháp này được coi là một trong
phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn đây cũng là
một phương pháp học tập tích cực đối với học sinh. Qua một giờ luyện tập học sinh
có thể:
- Củng cố các kiến thức cơ bản.
- Rèn kỹ năng kỹ xảo sử dụng ngôn ngữ hoá học
- Làm chính xác hoá các khái niệm
- Liên hệ với thực tiễn đời sống, sản xuất hoá học. Song dạy một giờ luyện
tập như thế nào nhằm đạt được những mục đích trên là vấn đề rất quan trọng nó đòi
hỏi mỗi giáo viên dạy môn hoá học cần phải quan tâm.
B/- THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN:
1/ Thuận lợi:
Trường Trung học cơ sở Bản Vược là trường thuộc vùng miền núi, biên giới
của xã Bản Vược – Huyện Bát Xát. Có đội ngũ ban giám hiệu nhà trường nhiệt
tình, có năng lực quản lý. Đội ngũ giáo viên yêu nghề, tận tuỵ với học sinh, đa số
học sinh ngoan, lễ phép với thầy cô và tôn trọng bạn bè. Đặc biệt nhà trường còn
nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương cùng với sự chỉ đạo
sát sao của Phòng Giáo dục huyện Bát Xát. Đó là những thuận lợi để thầy và trò
trường Trung học cơ sở Bản Vược hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy và học.
2/ Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên, nhà trường cũng còn gặp rất nhiều khó khăn
trong công tác dạy và học. Cơ sở vật chất của nhà trường còn nghèo nàn, đại đa số
học sinh của nhà trường là con em dân tộc thiểu số, nhiều em còn có hoàn cảnh khó
khăn, nhận thức của các em học sinh còn chậm và yếu …
C/- THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DẠY GIỜ LUYỆN TẬP HIỆN NAY:
1/ Đối với học sinh:
1
- Đây là môn học mới và khó.
- Lúng túng trước một bài tập không biết bắt đầu từ đầu từ đâu đi theo hướng
I – PHÂN LOẠI:
Bài tập định tính: - Bài tập lý thuyết
- Bài tập thực nghiệm
Bài tập định lượng: - Bài tập hoá học
- Bài tập thực nghiệm, định lượng.
Bài tập tổng hợp:
II – CHỌN, CHỮA BÀI TẬP HOÁ HỌC VÀ XÂY DỰNG ĐỀ BÀI HOÁ
HỌC MỚI:
1 – Chọn bài tập:
Trong các sách giáo khoa và sách bài tập hoá học dùng ở trường THCS hiện
nay số lượng bài tập khá nhiều, đặc biệt là sự phong phú của các dạng bài toán hoá
học. trong điều kiện học tập của học sinh còn có những khó khăn (hạn chế về thời
gian khọc tập, chưa say mê học tập nên việc làm thêm các bài tập trong các sách
bài tập hoá học còn ít) thì giáo viên hoá học càng phải cần quan tâm đến việc lựa
chọn các bài tập thích hợp với đối tượng học sinh của mình.
Khi chọn bài tập, cần chú ý tới các yếu tố sau:
a) Căn cứ trên khối lượng kiến thức học sinh đã nắm được để lựa chọn các
bài tập phù hợp và học sinh có khả năng giải quyết được.
b) Qua việc giải bài tập của học sinh có thể đánh giá được chất lượng học
tập, phân loại được học sinh, kích thích được toàn lớp học ( sử dụng xen kẽ giữa
các loại bài khó, trung bình và dễ – học sinh khá không chủ quan và kém cũng
không nản )
c) Căn cứ vào chương trình giảng dạy, nên xây dựng thành một hệ thống bài
tập, phù hợp với mức độ của từng khối lớp, kết hợp với khâu ôn luyện thường
3
xuyên để rèn kỹ năng kĩ xảo cho học sinh khá không chủ quan và kém cũng không
nản )
d) Chất lượng giải bài tập, hứng thú trong khi giải bài tập của học sinh được
nâng lên rất nhiều nếu bài tập được chọn có chứa đựng các nội dung sau:
- Gắn liền với các kiến thức khoa học về hoá học hoặc các môn học khác,
Cần lưu ý thêm là thông thường một giáo viên hoá học cùng một lúc dạy
nhiều học sinh, nhiều lớp vì vậy khi chấm bài tập phải ghi chép lại ngay những ý
kiến nhận xét, những lỗi quan trọng của học sinh nào đó, những lỗi phổ biến của cả
lớp … để khi chữa trên lớp không quên, không nhầm lẫn.
b) Khi chú trọng tới số lượng: Đối với học sinh lớp 8, 9 THCS cần phải chữa
bài tập nhiều, kiểm tra và chấm bài nhiều để khuyến khích học sinh chăm chỉ học
tập, lo lắng rèn luyện kĩ năng thường xuyên, đánh giá kịp thời chất lượng dạy và
học.
Giáo viên hoá học có thể tiến hành chữa bài tập chú trọng tới số lượng theo
các hình thức sau đây:
- Tiến hành vào đầu ( hoặc cuối ) giờ học, kiểm tra ( kết hợp với chữa ) nhiều
học sinh cùng một lúc dưới các hình thức: Viết trên bảng, kiểm tra viết trên giấy,
trả lời miệng trước lớp …
- Kiểm tra bằng phiếu trắc nghiệm ( test ) đối với một nhóm học sinh hoặc cả
lớp: Học sinh trả lời bằng cách điền vào phiếu học tập, theo 4 loại hình bài tập trắc
nghiệm:
+ Bài tập lựa chọn đúng – sai ( có hoặc không, đúng nhất )
+ Bài tập lựa chọn nhiều phương án
+ Bài tập dạng điền vào chỗ khuyết
+ Bài tập dạng ghép cặp
5
Ở trường THCS, khi chú trọng tới số lượng, cần chú ý rằng chỉ nên tập trung
vào việc chấm chữa các loại bài tập dạng cơ bản, lặp đi lặp lại để tạo nên kĩ năng kĩ
xảo cho toàn thể học sinh trong lớp.
- Bài toán hoá học: Dạng bài toán cơ bản. Khi kĩ năng làm bài của học sinh
được nâng lên, có thể bổ xung thêm phép tính về nồng độ, hiệu suất …
3/ Xây dựng đề bài tập mới:
Ngo i v n tri t s d ng các b i t p có s n trong sách giáo khoaà ấ đề ệ để ử ụ à ậ ẵ
( SGK) sách b i t p ho c các t i li u tham kh o khác, trong quá trình gi ng d yà ậ ặ à ệ ả ả ạ
ng i giáo viên hoá h c c n bi t cách xây d ng m t s b i t p m i phù h p v iườ ọ ầ ế ự ộ ốđề à ậ ớ ợ ớ
Dãy hoạt động hoá học của kim loại.
III/- PHƯƠNG PHÁP:
Nêu vấn đề
IV/- CÁC BƯỚC LÊN LỚP:
1/ Ổn định lớp
2/ Kiểm tra bài cũ ( Kiểm tra trong bài )
3/ B i m i. à ớ
? Em hãy cho biết trong chương III các em
đã học những bài nào ?
Để khắc sâu về tính chất của kim loại Fe,
AL => luyện tập.
? Em hãy cho biết tính chất vật lý chung
của kim loại ?
? Tính chất hoá học chung của kim loại ?
Giáo viên treo dãy hoạt động hoá học.
? Hãy cho biết ý nghĩa dạy hoạt động hoá
học của kim loại ?
? Hãy sắp xếp các kim loại sau đây theo
thứ tự hoạt động hoá học giảm dần.
Ag, Cu, Al, Ni, Pb, Na, Fe
( Na, Al, Fe, Ni, Pb, Cu, Ag )
I/ Lý thuyết: Dẻo
Tính chất vật lý: Dẫn điện, nhiệt
Có ánh kim
Kim loại:
T/d với phi kim
Tính chất hoá học: T/d với axít
T/d với d
2
muối
FeCl
3
Cu
b) FeCl
3
-> AlCl
3
-> Al (0H)
3
-> Al
2
(S0
4
)
3
Lời giải:
a) 3Fe + 20
2
= Fe
3
0
4
Fe + 2HCl = FeCl
2
+ H
2
↑
2Fe + 3Cl
2
2
0
Bài tập 2: Bằng phương pháp hoá học hãy
nhận biết 3 kim loại Fe, Al, Cu.
Lời giải:
8
đánh số thứ tự làm dấu.
Nhận ra nhôm vì nhôm tan trong dung
dịch kiềm.
Nhận ra Fe vì sắt tan trong dung dịch axít
Còn lại là Cu
Viết phương trình phản ứng ?
Hoà tan hoàn toàn 11,2g Fe bằng dung
dịch H
2
S0
4
20%
a) Viết phương trình phản ứng
b) Tính khối lượng muối tạo thành
c) Cần bao nhiêu gam dung dịch H
2
S0
4
nói
trên để hoà tan sắt.
Giáo viên hướng dẫn.
Muốn tính khối lượng muối và thể tích
H
2
Fe
= 11,2g
C
%
H 2S04
= 20%
m
FeS04
= ? (g)
V
H2
= ? (l)
m
d2
H 2S04
= ? (g)
a) PT ph n ng: ả ứ
Fe + H
2
S0
4
= FeS0
4
+ H
2
56g 98g 152g 22,4l
11,2g zg xg yl
GV hướng dẫn học sinh làm bài tập
? Viết PT PƯ ?
? Tính KL bản sắc tăng lên ?
KL sắt tham gia PƯ có nghĩa là khối lượng
sắt bị hoà tan KL Cu sinh ra ( tạo thành )
bám trên bản sắt.
Khối lượng sắt tăng lên
Lập luận tìm số mol FeS04
Giáo viên hướng dẫn cách 2.
Gọi số mol của FeS04 là x
Viết PT phản ứng:
Fe + CuS0
4
= FeS0
4
+ Cu
1mol 1mol 1mol 1mol
Khối lượng của Fe tham gia phản ứng là
56x
Khối lượng của Cu sinh ra là 64 x
Ta có: Khối lượng Fe ban đầu - đi khối
lượng Fe tham gia phản ứng + khối lượng
Cu sinh ra = KL sau phản ứng.
Khối lượng bản sắt tăng lên là:
51 - 50 = 1g
Fe + CuS0
4
= FeS0
4
+ Cu
Năm học 2003 – 2004 đến nay khi đã áp dụng kinh nghiệm nêu trên kết quả
đạt được:
Giỏi: 20%
Khá: 23%
TB: 57%
Yếu: 0
Kém: 0
Số học sinh đạt từ TB trở lên là 100%
11
Trong năm học 2003 – 2004 có 01 em tham gia dự thi cấp huyện đạt giải ba
Khi sinh hoạt chuyên môn tôi đã mạnh dạn trình bày ý kiến của mình để các
đồng nghiệp góp ý thảo luận và thấy rằng có thể áp dụng giảng dạy chương trình
hoá học 9.
Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân tôi đã tìm và áp dụng trong quá
trình giảng dạy, có lẽ trong đề tài này tôi chưa mô tả được hết các dụng ý của bản
thân vì bản thân tôi chỉ là một nhà sư phạm thực hành. Tôi rất mong được sự đóng
góp ý kiến của các đồng nghiệp và bản thân tôi cũng phải tiếp tục tìm tòi để nâng
cao trình độ nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt cho sự nghiệp giáo dục.
Tôi xin chân thành cảm ơn ./.
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
Hán Thị Vi
12