Nghiên cứu vai trò, tác động của khuyến nông đến sinh kế của người dân tái định cư thủy điện sơn la tại xã lay nưa thị xã mường lay tỉnh điện biên - Pdf 30


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÒ THỊ OANH

Tên chuyên đề:
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ, TÁC ĐỘNG CỦA KHUYẾN NÔNG ĐẾN
SINH KẾ CỦA NGƢỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƢ THỦY ĐIỆN SƠN LA TẠI
XÃ LAY NƢA - THỊ XÃ MƢỜNG LAY - TỈNH ĐIỆN BIÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : KT & PTNT
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

sinh kế của người dân tái định cư thủy điện Sơn La tại xã Lay Nưa - thị xã
Mường Lay - tỉnh Điện Biên”.
Trước hết em xin gửi tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm và Ban
chủ nhiệm khoa Kinh tế và phát triển nông thôn lời cảm ơn chân thành, niềm kính
trọng, sự tự hào được học tập và rèn luyện tại trường trong thời gian qua.
Sự biết ơn sâu sắc nhất em xin được dành cho thầy Th.S Cù Ngọc Bắc - Giảng
viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn và động viên em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn Ủy Ban Nhân Dân xã Lay Nưa đã tạo điều kiện
giúp đỡ em thu thập số liệu tại Văn phòng và Uỷ ban trong suốt thời gian thực tập.
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn bè đã tạo điều kiện,
động viên khích lệ để em vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập vừa qua.
Do trình độ có hạn, thời gian nghiên cứu còn ngắn mặc dù đã rất cố gắng
song đề tài tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được những ý kiến, chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè
để đề tài tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Lò Thị Oanh
ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số lượng hộ dân được phỏng vấn 18
Bảng 4.1: Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Lay Nưa
giai đoạn (2012 - 2014) 24

tại xã Lay Nưa 36
Hình 4.3: Nhu cầu của người dân về việc mở các lớp tập huấn 39
Hình 4.4: Biểu đồ nhu cầu của người dân về triển khai các mô hình mới 42

iv

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu
Tiếng Việt
CC
Cơ cấu
CSHT
Cơ sở hạ tầng
DT
Diện tích
HĐKN
Hoạt động khuyến nông
KN
Khuyến nông
MHCN
Mô hình chăn nuôi
MHTD
Mô hình trình diễn
NS
Năng suất
SK
Sinh kế
SL
Sản lượng

Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 17
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 17
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 17
3.3. Nội dung nghiên cứu 17
3.3.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lay Nưa 17
vi

3.3.2. Các hoạt động SK của người dân tái định cư thủy điện Sơn La trước và sau
khi chuyển đến xã Lay Nưa - thị xã Mường Lay - tỉnh Điện Biên 17
3.3.3. Các hoạt động KN được triển khai thực hiện trên địa bàn xã Lay Nưa có
người dân tái định cư tham gia 17
3.3.4. Sự thay đổi của các hộ dân tái định cư khi tham gia các hoạt động KN tại xã
Lay Nưa so với nơi ở cũ 17
3.3.5. Tìm hiểu vai trò của KN đối với sinh kế của người dân tái định cư 17
3.3.6. Đưa ra các tác động của KN đến người dân tái định cư thủy điện Sơn La tại
xã Lay Nưa - thị xã Mường Lay - Tỉnh Điện Biên 17
3.4. Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp. 18
3.4.3.Phương pháp xử lý thông tin nghiên cứu 19
3.4.4 Phương pháp đánh giá nhận xét 19
3.4.5. Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh 19
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
4.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lay Nưa 20
4.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 20
4.1.2. Đánh giá tiềm năng của xã 22

II. Tài liệu nước ngoài
III. Mạng Internet (Websites)

1
Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Việc xây dựng các công trình thủy điện nhằm tạo nguồn năng lượng để phát
triển kinh tế xã hội là một nhu cầu bức thiết hiện nay. Ở nước ta bên cạnh một số
công trình thủy điện đã được hoàn thành như: Hòa Bình, Ialy, Thác Mơ…, trong
chiến lược phát triển nguồn năng lượng điện phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
nhiều công trình thủy điện đã và đang được quy hoạch triển khai và tiến hành xây
dựng, trong đó đặc biệt là công trình thủy điện Sơn La với công suất lớn 2400 MW
lớn nhất Đông Nam Á.
Việc xây dựng các công trình thủy điện, đặc biệt là các công trình lớn gắn
với công tác tái định cư nó trở thành một vấn đề được quan tâm hiện nay. Việc xây
dựng các dự án thủy điện đã và đang gây rất nhiều tranh cãi. Mục đích của các dự
án thủy điện là ngăn lũ, cung cấp nước tưới cho sản xuất, tạo ra năng lượng cung
cấp cho các khu công nghiệp và phục vụ cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, các
dự án thủy điện đã và đang gây ra những tác động tiêu cực tới hệ sinh thái và đời
sống người dân địa phương sinh sống trên địa bàn của dự án. Vấn đề lớn nhất cần
giải quyết đó chính là di dời người dân ra khỏi khu vực lòng hồ thủy điện và ổn
định cuộc sống cho họ. Trong việc tái định cư vấn đề cần giải quyết hàng đầu khi
người dân đến nơi tái định cư chính là cuộc sống của họ. Phần đa những hộ dân
sống ven các con sông lớn đều có các hoạt động sinh kế chủ yếu liên quan đến nông
nghiệp việc ngăn dòng nước xây dựng thủy điện dẫn đến tình trạng người dân mất

- Giúp sinh viên củng cố lý thuyết đã học, liên hệ giữa lý thuyết với thực tiễn.
- Tạo cơ hội cho sinh viên tích lũy kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trong
quá trình nghiên cứu, tiếp xúc và làm việc với người dân, cộng đồng địa phương.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp ta có thể nhìn nhận, đánh giá được vai
trò, tác động của khuyến nông đến sinh kế của người dân tái định cư.
- Là cơ sở để cán bộ khuyên nông thấy được vai trò của mình, thấy được các
tác động của khuyên nông để từ đó phát huy tốt nhất vai trò của mình, hạn chế các
được tác động tiêu cực. 3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1 Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông
2.1.1.1. Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau và phục vụ nhiều
mục đích có qui mô khác nhau. Vì vậy khuyến nông là một thuật ngữ khó định
nghĩa được một cách chính xác, nó thay đổi tùy theo lợi ích nó mang lại.
Dưới đây là một số định nghĩa khuyến nông khác nhau:
“Khuyến nông khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hòa nhập các kiến
thức khoa học kỹ thuật hiện đại. Các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái gì cần
làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên
tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại gặp phải”
(Theo tổ chức FAO, 1987). [5]
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức
mà đối tượng của nó là người nông dân. Tiến trình này đem đến cho người nông
dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề

nông nghiệp chiếm 37- 40% giá trị sản phẩm xã hội. Khuyến nông đã góp phần tạo
nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư
nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá
đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. [11]
 Vai trò của khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông
nghiệp : KN là cầu nối giữa nhà nghiên cứu và nông dân.
Nhà nghiên cứu Khuyến nông Nông dân
 Khuyến nông góp phần xóa đói giảm nghèo: Thực hiện các chương trình dự
án… để nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển nhằm năng cao đời sống kinh
tế- văn hóa - xã hội nông thôn.
Vai trò của khuyến nông đối với nhà nước:
- Giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông lâm
nghiệp, nông thôn và nông dân. 5
- Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp.
- Trực tiếp góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu nguyện vọng của
nông dân đến các cơ quan nhà nước trên cơ sở nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra
được chính sách phù hợp. [11]
2.1.1.3. Mục tiêu của khuyến nông
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập,
thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức,
kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh
đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường. [3]
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản
xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng
nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia, ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường. [3]

 Tổ chức triển khai
Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động KN do các tổ chức KN
đảm trách. Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, CBKN có trình độ đại học trở
lên, các nông dân giỏi, các cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiều kinh nghiệm trong
sản xuất, kinh doanh, có đóng góp, cống hiến cho xã hội, cộng đồng, đã qua đào tạo
về kỹ năng KN.[3]
b. Thông tin tuyên truyền
Phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước thông qua hệ thống truyền thông đại chúng và các tổ chức chính trị xã hội.
Phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh
doanh thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, tạp chí KN, tài liệu KN, hội nghị,
hội thảo, hội thi, hội chợ, triển lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền
khác; xuất bản và phát hành ấn phẩm KN. Xây dựng và quản lý dữ liệu thông tin
của hệ thống thông tin KN. [3]
c. Trình diễn và nhân rộng mô hình
Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công nghệ phù hợp
với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định hướng của ngành, các mô 7
hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng các mô hình ứng
dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Xây dựng mô hình tổ chức, quản lý sản
xuất, kinh doanh nông nghiệp hiệu quả và bền vững. Chuyển giao kết quả khoa học
và công nghệ từ các MHTD, điển hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng. [3]
d. Tư vấn và dịch vụ khuyến nông
Tư vấn về:
- Chính sách và pháp luật liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tổ chức, quản lý để nâng cao
năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm giá thành, nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm.

xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp
với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt
được các mục tiêu và ước nguyện của họ” (DFID). Về cơ bản các hoạt động sinh kế
là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của
họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội
và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng. [13]
2.1.2.1. Khái niệm sinh kế bền vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987)
tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là bền vững
khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc. Đồng thời
có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không
gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. [13]
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm
phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định
nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng
lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh
tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền
vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ
thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội
khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho
thế hệ tương lai. [12] 9
2.1.2.2. Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan
tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng. Các
loại nguồn vốn sinh kế gồm vốn về con người, vật chất, tài chính, xã hội, tự
nhiên,…[12]
Vốn con người: con người là cơ sở của nguồn vốn này. Vốn con người bao

Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư. Theo nghĩa hẹp, di dân là
sự di chuyển dân dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm
thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định. [1]
Tóm lại, khái niệm di dân có thể được tóm tắt theo các điểm chung như sau:
- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến nơi khác sinh
sống.
- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi
nào đó và định cư tại đó trong một thời gian để thực hiện mục đích đó.
- Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc
nghề nghiệp, sở thích, lối sống,
b) Tái định cư
Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là thuật
ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mất nguồn
thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác. [4]
Tái định cư được hiểu là con người tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mới sau khi
rời khỏi nơi cư trú cũ của họ. Thực tế có nhiều lý do mà người dân phải tái định cư và
có thể chia ra thành hai loại: Tái định cư bắt buộc (do những điều kiện khách quan như
chiến tranh, thiên tai, xây dựng công trình, thu hồi đất, ) và Tái định cư tự nguyện (do
nhu cầu người dân muốn cải thiện cuộc sống). Thực tế tại Việt Nam có nhiều hình thức
tái định cư và được tổng hợp thành hai hình thức tái định cư phổ biến như sau [4]:
(1) Tái định cư tập trung theo quy hoạch, kế hoạch chung, có tổ chức (còn gọi
là tái định cư bắt buộc):
- Di dân từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Tây Nguyên xây dựng các
vùng kinh tế mới. Hình thức này chủ yếu diễn ra trước năm 1990.
- Xây dựng làng thanh niên lập nghiệp và các khu giãn dân. 11
- Xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (các công trình thủy điện
tại Tây Nguyên, Sơn La, ).

Các hội nông nghiệp: Hội nông nghiệp đầu tiên thực hiện khuyến nông ở
Scotlen (1723 - 1743), sau đó là hội của Pháp (1761), ở Anh, Mỹ (1784).
Trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp: Đại học Cambridge - Anh
(1866), các lớp nông dân lớn tuổi ở Mỹ (1880).
Các tổ chức phi chính phủ: Nhiều chính quyền ở địa phương đã tài trợ cho
các tổ chức làm khuyến nông từ 1850, sau đó chính phủ đã trực tiếp quản lý các
hoạt động khuyến nông hình thành hệ thống khuyến nông quốc gia.
Các nước phát triển ở Châu Âu (đặc biệt là ở Anh) từ năm 1600 - 1700 đã có
nhiều tài liệu hướng dẫn về các chương trình giảng dạy, làm thực hành trong việc
trồng cây, chăn nuôi, xe tơ, dệt vải…
Hoạt động khuyến nông ở một số nước Châu Âu có nền nông nghiệp phát triển.
+ Mỹ
Năm 1845 tại Ohio, N.S.Townshned chủ nhiệm khoa Nông học đề xuất việc tổ
chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện và sinh hoạt định kỳ. Đây là tiền
thân của khuyến nông Mỹ. Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho khuyến
nông đại học. Năm 1892 Trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức
chương trình khuyến nông đại học. Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 Bang đã
thực hiện công tác Khuyến nông. Năm 1910, có 35 trường Đại học đã có Bộ môn
khuyến nông. Năm 1914 tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có
1861 hội nông dân với 3.050.150 hội viên. Thuật ngữ Extension Education đã được sử
dụng để chứng tỏ rằng đối tượng giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở
những sinh viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở
khắp nơi trên đất nước. [4] Cho tới nay Mỹ là nước có nền nông nghiệp rất phát triển
với chỉ 6% dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp nhưng năng suất và sản lượng nông
nghiệp của Mỹ vẫn đạt mức cao. Điển hình là sản lượng đậu tương năm 1985 là 55
triệu tấn, tới năm 2001 sản lượng đậu tương của Mỹ đã tăng lên 70 triệu tấn cho đến
nay Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới, hàng năm xuất khẩu 16,9 triệu
tấn chiếm 54% tổng khối lượng xuất khẩu đậu tương thế giới.
Hoạt động khuyến nông của một số nước châu Á


08/01/2010. Hệ thống tổ chức khuyến nông được tổ chức như sau: 14
a. Tổ chức khuyến nông Trung ương
- Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập trực
thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung tâm
Khuyến nông Quốc gia do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy
định.
b. Tổ chức khuyến nông địa phương
- Tổ chức khuyến nông địa phương được quy định như sau:
+ Ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) có trung tâm khuyến
nông là đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Ở cấp huyện (huyện, quận và thị xã, thành phố có sản xuất nông nghiệp
thuộc cấp tỉnh) có trạm khuyến nông là đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Ở cấp xã (xã, phường, thị trấn có sản xuất nông nghiệp) có khuyến nông
viên với số lượng ít nhất là 02 khuyến nông viên ở các xã thuộc địa bàn khó khăn, ít
nhất 01 khuyến nông viên cho các xã còn lại.
+ Ở thôn (thôn, bản, ấp, phum, sóc) có cộng tác viên khuyến nông và câu lạc
bộ khuyến nông.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức khuyến
nông địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương quy định.
c. Tổ chức khuyến nông khác
- Tổ chức khuyến nông khác bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức khoa học, giáo dục đào
tạo, hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có tham
gia hoạt động khuyến nông trên lãnh thổ Việt Nam.
- Tổ chức khuyến nông khác thực hiện các nội dung hoạt động khuyến

Nghị định 87/CP về quy định khung giá các loại đất.
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng, bao gồm cả đất thu hồi cho các dự án phát triển. Đây là cơ sở pháp lý
để xây dựng chính sách (cả tạm thời và chính thức) cho việc triển khai công tác tái 16
định cư ở các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi trên cả nước.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện Luật Đất đai.
- Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và
khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP, hướng dẫn phương pháp xác định
giá đất và tổ chức thực hiện.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP về đền bù, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
- Quyết định 459/QĐ-TTg ngày 12/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ
qui định về bồi thường di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La.
- Quyết định số 02/2007/QĐ - TTG ngày 09/01/2007 của thủ tướng
chính phủ về việc ban hành quy định bồi thường và hỗ trợ định cư dư án thủy điện
sơn la
2.2.2.4 Vấn đề di dân tái định cư thủy điện tại tỉnh điện biên
Điện biên là một tỉnh nằm trên địa bàn có nhiều thủy điện lớn được xây dựng.
Các công trình thủy điện tác động không ít đến tình hình kinh tế và xã hội của tỉnh.
Thực hiện các chủ chương chính sách quả Đảng và nước kết hợp với ổn định
tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên rất quan tâm và chú trọng
đến công cuộc di dân - tái định cư ổn định cho cuộc sông của người dân tái định cư
thủy điện.
Dưới đây là tóm tắt một số văn bản được tình điện biên ban hành về vấn đề đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status