CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH ĐỘC - Pdf 30

Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LỚP CAO HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
BÀI TIỂU LUẬN
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG
Chuyên đề: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH ĐỘC
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: GS.TS ĐẶNG KIM CHI
HỌC VIÊN THỰC HIỆN:
1. TRẦN THỊ KIỀU NGÂN
2. NGUYỄN THỊ YÊN PHƯƠNG
Học viên thực hiện: 1. Nguyễn Thị Yên Phương
2. Trần Thị Kiều Ngân
1
Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
ĐÀ NẴNG, 10/2010
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................................4
1.1. Độc chất học..............................................................................................................................5
1.2. Độc học môi trường..................................................................................................................5
1.3. Chất độc và tính độc..................................................................................................................6
1.3.1. Chất độc..............................................................................................................................6
1.3.2. Tính độc..............................................................................................................................6
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính độc..................................................................................................7
2.1. Bản chất của tác nhân gây độc (bản chất hóa học và bản chất lý học của chất độc)...............8
2.2. Điều kiện tiếp xúc...................................................................................................................10
2.3. Loài, giới tính, độ tuổi và các yếu tố di truyền tại thời điểm tiếp xúc...................................12
2.4. Tình trạng của sinh vật tại thời điểm tiếp xúc........................................................................17
2.5. Sự có mặt của các hóa chất trong cơ thể sinh vật, trong môi trường và trong thời gian tiếp
xúc...................................................................................................................................................18

Học viên thực hiện: 1. Nguyễn Thị Yên Phương
2. Trần Thị Kiều Ngân
4
Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Độc chất học
- Độc chất học là ngành khoa học nghiên cứu về lượng và chất các tác động bất lợi
của các tác nhân hóa học, vật lý, sinh học lên hệ thống sinh vật học của sinh vật sống.
- Độc chất học là ngành khoa học về độc chất. Là một ngành khoa học cơ bản và khoa
học ứng dụng.
1.2. Độc học môi trường
- Độc học môi trường và độc học sinh thái trong môi trường rất gần nhau trong đối
tương nghiên cứu và mục đích, được xem như là đồng nhất.
- Độc học môi trường là một ngành nghiên cứu quan hệ các tác nhân có hại trong môi
trường tự nhiên (nguồn gốc, khả năng ứng dụng, sự xuất hiện, đào thải, hủy diệt) và
phương thức hoạt động của chúng trong môi trường.
- Độc học môi trường nghiên cứu sự biến đổi, tồn lưu và tác động của tác nhân gây ô
nhiễm vốn có trong thiên nhiên và các tác nhân nhân tạo đã ảnh hưởng đến các hoạt động
sống của sinh vật trong hệ sinh thái, các tác động có hại đến con người.
- Độc học sinh thái là ngành khoa học là ngành khoa học quan tâm đến các tác động
có hại của các tác nhân hóa học và vật lý lên các cơ thể sống. Đặc biệt là tác động lên các
quần thể và cộng đồng trong hệ sinh thái. Các tác động bao gồm: con đường xâm nhập
của các tác nhân lý hóa và các phản ứng giữa chúng với môi trường. Mục tiêu chính của
độc học sinh thái là tạo ra những chuẩn mực ban đầu thiết lập tiêu chuẩn chất lượng môi
trường, đánh giá và dự đoán nồng độ trong môi trường, nguy cơ cho các quần thể tự nhiên
(trong đó có cả con người) bị tác động mạnh bởi sự ô nhiễm môi trường.
Có sự khác nhau cơ bản giữa độc học môi trường và độc học sinh thái. Độc học thực
nghiệm thường tiến hành thí nghiệm trên động vật có vú và các số liệu dùng để đưa ra các
giới hạn an toàn chỉ cho một mục tiêu tiếp cận, đó là con người. Ngược lại, mục tiêu của
độc học sinh thái là bảo vệ toàn bộ sinh quyển, bao gồm hàng triệu loài khác nhau, được tổ

- Ngưỡng gây độc (TLV – Threholol Limit Value): được đưa ra khi quan sát trong
trong thời gian nhất định để phát hiện ra tác động của độc chất đối với cơ thể sống.
- Tính độc có thể có tính thuận nghịch và không thuận nghịch. Tính thuận nghịch thể
hiện là độc chất vào cơ thể sống được hấp thụ, đào thải mà không để lại di chứng gì
HbO
2
+ CO HbCO + O
2
Học viên thực hiện: 1. Nguyễn Thị Yên Phương
2. Trần Thị Kiều Ngân
6
Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
Tính không thuận nghịch thể hiện là một độc chất khi vào cơ thể sẽ để lại di chứng
như dioxxin, furan...
- Tính độc có thể biểu hiện qua nhiễm độc cấp tính
Nhiễm độc cấp tính: là tác động của chất độc lên cơ thể sống xuất hiện sớm sau khi
tiếp xúc với độc chất trong một thời gian ngắn hoặc rất ngắn.
- Tính độc có thể biểu hiện qua nhiễm độc mãn tính
Nhiễm độc mãn tính: là tác động của độc chất lên cơ thể sống xuất hiện sau một thời
gian dài tiếp xúc với tác nhân độc và có thể hiện suy giảm sức khỏe, xuất hiện bệnh tật.
- Tính độc của độc chất đối với cơ thể có thể thay đổi, tăng lên hoặc giảm đi khi tồn
tại nhiều độc chất trong cùng một cơ thể.
3. Các tác nhân của tính độc chọn lọc
- Tính độc phụ thuộc vào kích cỡ của vi sinh vật. Lượng chất độc cần cho sinh vật
có kích thước bé ít hơn so với sinh vật có kích thước lớn
- Tính độc phụ thuộc vào tỉ lệ giữa cân nặng và diện tích tiếp xúc bề mặt. Con vật
càng nhỏ thì diện tích bề mặt của nó trên 1g cân nặng càng lớn.
Diện tích tiếp xúc được tính S(m2)=
10
3/2

hay mang tính hệ thống. Các protein bị chuyển hóa trong hệ thống tiêu hóa và thông
thường chúng mất hết hoạt tính.
Có nhiều yếu tố quyết định tác hại của các độc chất đối với cơ thể:
a) Cấu trúc hóa học
Theo Lazarev, cấu trúc hóa học quyết định tính chất lý hóa và hoạt tính hóa học của
độc chất. Những tính chất trên lại quyết định hoạt tính sinh vật học của độc chất.
Visacscon đưa ra quy luật hoạt động các chất hóa học dựa vào cấu trúc hóa học:
+ Các hợp chất cacbonhydro có tính độc tăng tỷ lệ thuận với số nguyên tử carbon có
trong phân tử, thí dụ:
Pental (5C) độc hơn butan (4C)
Butylic (4C) độc hơn etylic (2C)
+ Trong những hợp chất có cùng số nguyên tố, những hợp chất chứa ít nguyên tử độc
hơn các hợp chất chứa nhiều nguyên tử, thí dụ:
Nitrit (NO
2
) độc hơn nitrat (NO
3
)
Oxyt Carbon (CO) độc hơn carbonic (CO
2
)
Học viên thực hiện: 1. Nguyễn Thị Yên Phương
2. Trần Thị Kiều Ngân
8
Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
+ Khi nguyên tố halogen thay thế cho hyđro nhiều bao nhiêu trong các hợp chất hữu
cơ thì độc tính tăng lên bấy nhiêu, thí dụ:
Tetracloruacarbon (CCl4) độc hơn Chlorofoc (CHCl3)
+ Gốc nào (-NO
2

Mức độ lớn hóa cũng làm ảnh hưởng đến di chuyển của hóa chất. Sự lắng đọng sinh
học cũng phụ thuộc vào những tính chất này. Sự lắng đọng sinh học ở đây bao gồm cả hấp
thụ, phân bố, chuyển hóa sinh học, đào thải và cơ cấu tĩnh động học của những quá trình
này. Trong quá trình chuyển hóa sinh học, cơ thể thường chuyển hóa các hợp chất tan trong
mỡ sang một dạng khác dễ đào thải và ít hoạt tính hơn dưới dạng hóa chất tan được trong
nước.
Học viên thực hiện: 1. Nguyễn Thị Yên Phương
2. Trần Thị Kiều Ngân
9
Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
• Khả năng hấp phụ là khả năng tập trung những chất ở dạng khí, bụi, hơi trên bề mặt
một chất rắn. Mức độ hấp phụ tùy thuộc vào khả năng hấp phụ của vật liệu xây dựng, nhiệt
độ không khí, nồng độ độc chất và thời gian tiếp xúc.
c) Tác dụng phối hợp của độc chất
Trong thực tế khi có nhiều độc chất cùng tồn tại thì tính độc sẽ thay đổi, có thể tăng
cường và cũng có thể tiêu giảm độ độc.
2.2. Điều kiện tiếp xúc
- Ngoài bản chất của hóa chất và các đặc tính lý hóa của chúng, phản ứng đối với một
hóa chất thường bị ảnh hưởng bởi điều kiện tiếp xúc bao gồm liều lượng hay nồng độ,
dòng tiếp xúc và thời gian tiếp xúc. Liều lượng có thể tiếp nhận được về phương diện sinh
học của tác nhân, nồng độ tại cơ quan tiếp nhận sẽ xác định cường độ phản ứng. Có thể
nói "liều lượng làm các chất trở thành độc chất".
Liều lớn có thể gây độc tính cấp tính, liều lượng nhỏ hơn có khi có thể gây nhiễm
độc mãn tính hoặc có thể không gây độc. Ví dụ: Liều dùng của nitrat độc hại của viên thức
ăn là 200 mg /Kg bw cho gia súc. Trong khi đó là 1000-2000 mg /Kg nếu phân bố ở cỏ
khô.
Đường tiếp xúc cũng là một yếu tố đáng kể ảnh hưởng đến phản ứng.
Ví dụ: Động vật tiếp xúc với methylene chloride qua đường hô hấp sẽ bị ung thư,
nhưng các động vật cũng tiếp xúc với hóa chất này qua con đường tiêu hóa thì không bị
ung thư.

có thể gây nên những phản ứng có tính chất hệ thống hoặc chỉ gây ra những tác động cục
bộ.
Nhưng nếu như da bị xây xước thì các chất rất dễ thấm qua da, vào cơ thể vì lúc này
barie ngăn cản khuếch tán của vật chất qua da đã bị làm cho kém hiệu quả.
- Việc hấp thụ qua hệ thống hô hấp phụ thuộc vào tính chất lý hóa của hóa chất, kể cả
kích cỡ hạt (chiều dài và đường kính), tính hoà tan trong nước và phụ thuộc vào tốc độ và
độ sâu khi thở.
Ví dụ, những người vì nghề nghiệp phải tiếp xúc với gỗ và các dung môi hữu cơ,
nikel, các loại dầu bôi trơn, crom có thể sẽ bị mắc bệnh lở loét hay thậm chí ung thư mũi,
vì mũi phải lọc các chất này hàng ngày. Các hạt không hòa tan được thì có thể gây hại đến
hệ thống hô hấp. Ví dụ các sợi amiăng, các bụi than silic có thể gây lên bệnh viêm xơ phổi
Học viên thực hiện: 1. Nguyễn Thị Yên Phương
2. Trần Thị Kiều Ngân
11
Chuyên đề: Mưa axit GVHD: TS Mai Tuấn Anh
và thậm chí amiăng còn gây nên ung thư phổi. Các dạng hạt chất trên có thể bị các hóa chất
hay các vi sinh vật bám vào bề mặt.
Các hạt với đường kính ít hơn vài micron không hấp thụ mà được đẩy ra theo hơi thở,
các hạt với đường kính nhỏ hơn 7 micron thì tồn tại trong khí quản và phổi, các hạt có
đường kính lớn hơn 7 micron các lông mũi chặn lại hay đẩy lại lên mũi theo một cơ chế
đặc biệt, quá trình này gọi là quá trình làm sạch, sau đó được chuyển vào cuống họng và bị
nuốt vào thực quản.
Trong hệ tiêu hóa, các hạt này có thể tương tác với thành ruột và có thể trực tiếp gây
ra tổn thương. Hóa chất hay vi sinh vật bám trên hạt cũng có thể tương tác với thành ruột
và gây tổn thương, hoặc làm rối loạn hoạt động bình thường của các vi sinh vật đường
ruột, hậu quả gây tổn thương hay thay đổi chức năng của chúng.
Phần nhiều những tiếp xúc với hóa chất gây ra đồng thời do nhiều đường, nhưng
không phải tất cả các hóa chất đều được hấp thụ qua tất cả mọi đường. Ví dụ các thuốc trừ
sâu nhóm lân hữu cơ nhìn chung hấp thụ vào cơ thể qua tất cả các đường và gây độc như
nhau không phân biệt về con đường thâm nhập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status