Đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã cao mã pờ huyện quản bạ tỉnh hà giang - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẨN DÂU DÌN

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC KHUYẾN NÔNG TỚI
HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƢỜI DÂN TẠI XÃ CAO MÃ PỜ -
HUYỆN QUẢN BẠ - TỈNH HÀ GIANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Lớp : K43 – Khuyến nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hƣớng dẫn : Th.S Dƣơng Thị Thu Hoài

Bảng 3.1: Số lượng nông dân được phỏng vấn 24
Bảng 4.1: Tổng hợp khí hậu xã Cao Mã Pờ năm2015 27
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất của xã Cao Mã Pờ năm 2014 28
Bảng 4.3: Tình hình dân số và lao động của xã Cao Mã Pờ năm 2014 29
Bảng 4.4: Một số cây trồng chính tại xã Cao Mã Pờ 31
Bảng 4.5: Số lượng một số vật nuôi phổ biến của xã từ năm 2012 - 2014 33
Bảng 4.6: Diện các loại cây lâm nghiệp phổ biến được trồng
tại xã qua 3 năm 2012- 2014 35
Bảng 4.7: Giá trị cơ cấu sản xuất nông nghiệp của xã Cao Mã Pờ
trong 3 năm 2012 - 2014 36
Bảng 4.8: Số lượng các hoạt động khuyến nông của địa phương
qua các năm 2012 - 2014 38
Bảng 4.9: Các lớp tập huấn kĩ thuật qua các năm 2012 – 2014 39
Bảng 4.10: Mô hình trình diễn đã thực hiện tại xã Cao Mã Pờ 41
Bảng 4.11: Giống ngô và lúa được chuyển giao ở xã Cao Mã Pờ 43
Bảng 4.12: Các loại máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp 44
Bảng 4.13 : Thông tin về các hộ điều tra 45
Bảng 4.15. Tổng hợp các hoạt động sản xuất nông nghiệp
tại các hộ điều tra 47
Bảng 4.16: Số lượng và diện tích các hộ trồng các
loại cây lâm nghiệp 53
Bảng 4.17: Đánh giá của người dân xã Cao Mã Pờ về hoạt động
đào tạo, tập huấn khuyến nông 54
Bảng 4.18: Đánh giá của người dân xã Cao Mã Pờ
về trình diễn mô hình 56
Bảng 4.19: Đánh giá của người dân về hoạt động
thông tin truyền thông 58
Bảng 4.20: Một số kiến nghị của hộ nông dân với CBKN 60
Bảng 4.21: Một số kiến nghị của người dân với
chính quyền địa phương 61

DFID : Bộ Phát triển Quốc tế
ĐKTN : Điều kiện tự nhiên
DT : Diện tích
FAO : Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hiệp quốc
GTSX : Giá trị sản xuất
HĐKN : Hoạt động khuyến nông
HND : Hội nông dân
HPN : Hội phụ nữ
HTX : Hợp tác xã
KHKT : Khoa học kỹ thuật
KN : Khuyến nông
KNCS : Khuyến nông cơ sở
KN-KL : Khuyến nông khuyến lâm
LMLM : Lở mồm long móng
NĐ-CP : Nghị định - Chính Phủ
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự
tham gia của người dân
TBKT : Tiến bộ kỹ thuật
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TTKNKLQG : Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốc gia
TTKNQG : Trung tâm khuyến nông quốc gia
UBND : Uỷ ban nhân dân

v
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

4.3.1 Hoạt động sản xuất nông nghiệp 47
4.3.2. Hoạt động lâm nghiệp 52
4.3.3. Các hoạt động sinh kế khác 54
4.4. Tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế theo đánh giá của
người dân địa phương 54
4.4.1. Về hoạt động đào tạo, tập huấn khuyến nông 54
4.4.2. Về hoạt động xây dựng mô hìnhtrình diễn 56
4.4.3. Về thông tin truyền thông 58
4.4.4. Về hoạt động dịch vụ khuyến nông 59
4.5. Một số kiến nghị của người dân đối với cán bộ khuyến nông và chính quyền địa
phương 59
4.5.1. Kiến nghị đối với cán bộ khuyến nông 59
4.5.2. Kiến nghị của người dân đối với chính quyền địa phương 61
4.6. Những khó khăn, trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân và biện pháp
giải quyết của khuyến nông 62
4.6.1 Những khó khăn và trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân 62
4.6.2. Đề xuất một số giải pháp giải quyết của khuyến nông 63
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1. Kết luận 65
5.2. Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống khuyến nông nhà nước Việt Nam chính thức được thành lập theo
Quyết định 13/CP ngày 02/03/1993 của thủ tuớng Chính phủ. Qua gần 20 năm xây

nhằm nâng cao năng suất lao động cho người dân mà công tác khuyến nông chính là
cầu nối giúp người dân có những định hướng đúng đắn nhất trong sản xuất.
Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá tác động
của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã Cao Mã Pờ -
huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá được tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động
sinh kế của người dân để đề xuất được một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động
khuyến nông tại các xã Cao Mã Pờ - huyện Quản Bạ và chiến lược sinh kế bền
vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
 Tìm hiểu được các hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân địa phương.
Tìm hiểu được hiệu quả của công tác khuyến nông tới các hoạt động sinh kế
của người dân xã Cao Mã Pờ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang.
 Đánh giá được kết quả hoạt động và tác động của khuyến nông tại xã Cao
Mã Pờ đến sản xuất nông nghiệp của người dân trong những năm gần đây.
 Xác định được những khó khăn và trở ngại trong hoạt động sinh kế của
người dân.
 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác khuyến
nông ở địa phương.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ những ảnh hưởng của công tác khuyến nông tới
hoạt động sản xuất của người dân.
- Thấy được hiệu qủa của các hoạt động sinh kế mang lại cho người dân
địa phương.

3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp giáo dục
không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng và phát triển nông
thôn mới [4].
Còn theo định nghĩa của Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốc gia
(TTKNKLQG) thì: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm
truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ
thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá
cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của
sản xuất, đời sống, của bản thân họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng
cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển nông nghiệp nông thôn [12].
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường
cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi. Khuyến nông là quá trình vận động
quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng. Đây là một quá trình
tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân. Nói cách khác, khuyến nông là những tác
động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt
hiệu quả cao nhất. Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và
thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân.
2.1.1.2. Vai trò của khuyến nông đối với phát triển nông thôn Việt Nam
 Khuyến nông có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông thôn:
Trong điều kiện nước ta hiện nay, trên 80% sống ở các vùng nông thôn với
70% lao động xã hội để sản xuất ra nông sản thiết yếu cung cấp cho toàn bộ xã hội
như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến…, và sản xuất
nông nghiệp chiếm 37- 40% giá trị sản phẩm xã hội. Khuyến nông đã góp phần tạo
nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng sản phẩm nông - lâm - ngư
nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá
đói giảm nghèo và sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân [2].

5
 Vai trò của khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông

 Đối tượng
Người sản xuất, bao gồm: nông dân sản xuất nhỏ, nông dân sản xuất hàng
hóa, nông dân thuộc diện hộ nghèo; chủ trang trại, xã viên tổ hợp tác và hợp tác xã;
công nhân nông, lâm trường; doanh nghiệp vừa và nhỏ; chưa tham gia chương trình
đào tạo dạy nghề do Nhà nước hỗ trợ.
Người hoạt động khuyến nông là cá nhân tham gia thực hiện các hoạt động
hỗ trợ nông dân để phát triển sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực như:
ngành nghề sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ trong nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, thủy nông, cơ điện nông nghiệp, ngành nghề nông thôn.
 Nội dung
Bồi dưỡng, tập huấn cho người sản xuất về chính sách, pháp luật; tập huấn,
truyền nghề cho nông dân về kỹ năng sản xuất, tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh
trong các lĩnh vực khuyến nông; tập huấn cho người hoạt động khuyến nông nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
 Hình thức
Thông qua mô hình trình diễn;
Tổ chức các lớp học ngắn hạn gắn lý thuyết với thực hành;
Thông qua các phương tiện truyền thông: báo, đài, tờ rơi, tài liệu (sách,
đĩa CD - DVD).
Qua chương trình đào tạo từ xa trên kênh truyền thanh, truyền hình, xây
dựng kênh truyền hình dành riêng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; ưu tiên là
đào tạo nông dân trên truyền hình.
Qua trang thông tin điện tử khuyến nông trên internet.
Tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước.
 Tổ chức triển khai
Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động khuyến nông do các tổ
chức khuyến nông đảm trách.

7
Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ khuyến nông có trình độ đại


8
Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất, kinh doanh; cung
ứng vật tư nông nghiệp.
Tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn [5].
* Hợp tác quốc tế về khuyến nông
Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chương trình hợp
tác quốc tế.
Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân nước ngoài và tổ
chức quốc tế theo quy định của luật pháp Việt Nam .
Nâng cao năng lực, trình độ ngoại ngữ cho người làm công tác khuyến nông
thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và chương trình học tập khảo sát trong
và ngoài nước [5].
2.1.1.5. Các nguyên tắc của khuyến nông
Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệp của
Nhà nước.
Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân
trong hoạt động khuyến nông.
Liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các
doanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân.
Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông để huy
động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt
động khuyến nông.
Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng.
Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địa bàn
và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau [5].
2.1.1.6. Các phương pháp khuyến nông
Xét về phương pháp thì hoạt động khuyến nông gồm 3 loại sau: Phương pháp cá
nhân, phương pháp nhóm, và phương pháp thông tin đại chúng.
* Phương pháp tiếp xúc cá nhân: Là phương pháp được sử dụng rộng rãi

Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987)
tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là bền vững
khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc. Đồng thời

10
có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không
gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên [14].
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm
phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định
nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng
lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Sinh kế bền
vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ
thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác [11].
2.1.2.2. Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết
định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn và tài sản sinh
kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện
vọng của họ [11].

các động lực, các
qui tắc
- Chính sách và
thái độ đối với
khu vực tư nhân
-Các thiết
chếcông dân,
chính trị và kinh
tế (thị trường, văn
hoá)
Các chiến
lƣợc Sk
-Các tác nhân
xã hội (nam,
nữ, hộ gia đình,
cộng đồng …)
- Các cơ sở tài
nguyên thiên
nhiên
-Cơ sở thị
trường
- Đa dạng
-Sinh tồn hoặc
tính bền vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn
- Cuộc sống đầy đủ
hơn
- Giảm khả năng tổn
thương

2.2.1. Lịch sử khuyến nông trong và ngoài nước
2.2.1.1. Lịch sử khuyến nông trên thế giới
Pháp
Thế kỷ 15 - 16: một số công trình khoa học nông nghiệp ra đời như: “ngôi
nhà nông thôn” của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa
học nông nghiệp. Tác phẩm diễn trường nông nghiệp của Oliver de Serres đề cập
tới nhiều vấn đề trong nông nghiệp như cải tiến giống cây trồng vật nuôi [2].
Thế kỷ 18 cụm từ Phổ cập nông nghiệp (Vulgazigation Agricole), hoặc
chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des Technologies Agrcoles au
Payan) được sử dụng phổ biến [6].
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đến nay. Trung
tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹ thuật nông

12
nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng Pari hoạt động với
nguyên tắc:
- Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc
- Sáng kiến từ cơ sở
- Hoạt động nhóm rất quan trọng
Mỹ
Năm 1845 tại Ohio, N.S.Townshned chủ nhiệm khoa Nông học đề xuất việc
tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận, huyện và sinh hoạt định kỳ. Đây là
tiền thân của khuyến nông Mỹ.
Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho khuyến nông đại học.
Năm 1892 Trường đại học Chicago, trường Wicosin bắt đầu tổ chức chương
trình khuyến nông đại học.
Năm 1907, có 42 trường đại học trong 39 Bang đã thực hiện công tác
khuyến nông.
Năm 1910, có 35 trường Đại học đã có bộ môn khuyến nông.
Năm 1914 tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có 1861

nhưng nền nông nghiệp Trung Quốc không những đủ cung cấp nhu cầu trong nước
mà còn là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Theo
Jinguguan: “Hiện nay và trong tương lai, khuyến nông vẫn đóng vai trò quan trọng
đối với nền nông nghiệp của Trung Quốc”.
Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ nông nghiệp sản
xuất sản phẩm chất lượng cao. Các chương trình khuyến nông chuyển giao giống
cây trồng, lúa lai chất lượng cao, sản xuất đỗ tương xuất khẩu kết hợp cải tạo đất;
dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượng sữa được tập trung góp phần
nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho nông dân. Cơ sở hạ tầng nông thôn
được đầu tư xây dựng, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua chương
trình khuyến nông quốc gia, giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không,
hàng loạt các hoạt động tập huấn, mô hình trình diễn được tổ chức giúp người nông
dân nắm bắt được những kỹ thuật mới. Nhờ những chính sách đúng đắn của Nhà

14
nước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được
kết quả không ngờ sau vài năm thực hiện.
Từng bước Khuyến nông trên khắp các vùng miền của Trung Quốc đã giúp
nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ dưới sự phát triển chung của nông
nghiệp. Các Khuyến nông viên giúp nông dân nâng cao trình độ canh tác, giúp họ
hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm như thế nào?Cùng họ nghiên cứu ngay
trên mảnh ruộng của mình để chính họ trở thành những chủ nhân – chuyên gia kỹ
thuật viên.
Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ chức
khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tới tỉnh, huyện, xã,
làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũng khoảng 400.000 tổ chức
nông dân là kỹ thuật viên. Hiện nay khuyến nông Trung Quốc đã là một hệ thống
hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều năm không ngừng củng cố (Phạm Kim
Oanh, 2006) [6].
2.2.1.2. Lịch sử khuyến nông trong nước

Từ năm 1958 - 1975 nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác
động mạnh mẽ của mô hình HTX nông nghiệp. Từ đổi công (1956), đến HTX bậc
thấp năm 1960, đến HTX cấp cao (1968), đến HTX toàn xã năm 1974. Thành lập
các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ
sở. Giai đoạn 1976 - 1988 nông nghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối hai
miền cùng tăng gia phát triển sản xuất. Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp,
do sự tác động của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch
hóa tập chung. Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông
nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông thôn nảy sinh
nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống.
Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80
nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị 100CT/TW của ban Bí
thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến
nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán

16
100). Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông
nghiệp, mà mới chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm,
từ khoán đội sang khoán hộ. Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản
lý tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể. Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để mở ra
thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam.
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi
mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý trong nông nghiệp”
nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ
xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10). PGS.TS
Chanock Jacobsen đã khẳng định: “Trong một thế giới đang chuyển đổi mà sự
khởi đầu của cá thể và tư nhân chiếm vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp,
khuyến nông đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết”.
Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến nông. Bắt

đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của TTKNQG.
- Về biên chế cần đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng cán bộ để đáp ứng yêu cầu
thực hiện các hoạt động khuyến nông tại địa phương [2].
 Cấp huyện có Trạm khuyến nông huyện.
Xây dựng Trạm khuyến nông hoặc Trạm khuyến nông, khuyến ngư; căn cứ
vào điều kiện của từng địa phương, chủ tịch UBND câp tỉnh quy định Trạm khuyến
nông thuộc Trung tâm khuyến nông tỉnh hoặc UBND cấp huyện quản lý; số lượng,
cơ cấu của cán bộ Trạm khuyến nông được bố trí phù hợp với nhu cầu khuyến nông
trên địa bàn huyện [2].
 Cấp xã
- Mỗi xã, phường có ít nhất 01 nhân viên khuyến nông. Đối với các xã vùng
sâu có thể bố trí 02 nhân viên khuyến nông trở lên.
- Ở thôn, bản có cộng tác viên khuyến nông, CTVKN có thể là cán bộ kiêm
nhiệm như trưởng thôn, trưởng bản, đội trưởng sản xuất, thành viên của tổ chức
quần chúng hoặc là người nhân dân tín nhiệm đề cử.
Khuyến nông cơ sở là tổ chức trực tiếp, thường xuyên gắn bó với nông dân
nên có vai trò đặc biệt quan trọng [2].

Trích đoạn Thực trạng về hoạt động khuyến nông của trạm khuyến nông huyện Quản Bạ Nội dung nghiên cứu Điều kiện tự nhiên Thực trạng hoạt động khuyến nông của xã Cao Mã Pờ xuất một số giải pháp giải quyết của khuyến nông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status