Y H
Ọ
C TH
Ự
C HÀNH (914)
-
S
Ố
4/2014
21
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 80 bệnh nhân suy thận mạn giai
đoạn cuối được điều trị thận nhân tạo chu kỳ tại khoa
Thận nhân tạo – Bệnh viện Đa khoa Thái Bình từ
tháng 4 - 2013 đến tháng 10 – 2013, chúng tôi rút ra
một số kết luận sau:
- Tỉ lệ cường cận giáp trạng thứ phát ở bệnh nhân
thận nhân tạo chu kỳ là 23,8%, trong đó tỉ lệ cường
cận giáp trạng thứ phát ở nhóm lọc máu 5 năm là
51,4%, nhóm lọc máu < 5 năm là 0%, sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
- Đánh giá mức độ cường cận giáp trạng thứ phát
qua chỉ số PTH chúng tôi nhận thấy: Nồng độ PTH
Trường Đại Học Y Hà Nội
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét các phương pháp
điều trị gãy hở hai xương cẳng chân.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến
cứu 100 bệnh nhân chẩn đoán gãy hở hai xương cẳng
chân tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 9/2013 đến tháng
12/2013.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ Nam/Nữ là 3,17/1.
Nguyên nhân do tai nạn giao thông chiếm 81% số
trường hợp. Trên lâm sàng theo phân độ gãy hở của
Gustilo gãy hở độ III chiếm 62%. Phương pháp cắt lọc,
kết hợp xương cố định ngoại vi (khung FESSA) là
phương pháp được sử dụng chủ yếu trong gãy xương
hở (chiếm 52%).
Kết luận: Gãy hở hai xương cẳng chân ở nam
nhiều hơn ở nữ, chủ yếu là do TNGT cố định ngoại vi
với khung FESSA vẫn là phương pháp được lựa chọn
hàng đầu cố định xương gãy trong gãy xương hở.
Từ khoá: Gãy xương hở, gãy hai xương cẳng
chân.
SUMMARY
Objective: Assess the surgical treatment methods
for open fracture of lower leg
Patients and method: Prospective study 100
patients underwent surgical treatment for open fracture
of tibia and fibular in Viet Duc University Hospital from
9/2013 to 12/2013.
Results: Male/Female ratio is 3.17 / 1. The cause of
xương cẳng chân.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
100 bệnh nhân được chẩn đoán gãy hở 2 xương
cẳng chân và điều trị nội trú tại khoa Chấn thương
chỉnh hình – Bệnh viện Việt Đức từ tháng 9/2013 đến
tháng 12/2013.
Tuổi thấp nhất là 17 tuổi và cao nhất là 89 tuổi với
độ tuổi trung bình là 37,25 tuổi.
Nguyên nhân chủ yếu là do TNGT chiếm 81%.
Y H
Ọ
C TH
Ự
C HÀNH (914)
-
S
Ố
4/2014
22
2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu.
T
ổng
100
100%
Nhận xét: Nam giới chiếm đa số với 76%.
Bảng 2. Các phương pháp phẫu thuật thì đầu
Phương pháp
N
%
C
ắt lọc, kết hợp x
ương trong, khâu kín
33
33
C
ắt lọc khâu kín, bột
đùi c
ẳng bàn chân rạch
Nhận xét: Tỷ lệ sử dụng khung cố định ngoại vi
chiếm đa số với 52%.
Bảng 3. Các biến chứng sau quá trình điều trị phẫu
thuật thì đầu (N = 25)
Bi
ến chứng
N
T
ỷ lệ %
M
ạch m
áu, th
ần kinh
1
4 %
Nhi
ễm
trùng
Nhi
ễm trùng chân
đinh
10
N
T
ỷ lệ %
K
ết hợp x
ương trong
10
40 %
C
ắt lọc lại
9
36 %
Chuy
ển vạt da che phủ
3
12 %
Ghép da
2
đ
ịnh hoàn hảo
73
73%
Di l
ệch cho phép
12
12 %
Chưa đ
ạt yêu cầu
9
9 %
C
ắt cụt chi
6
6 %
T
ổng
tủy hay nẹp vít khi vết thương phần mềm ổn định.
- Đối với độ II và độ IIIA, khả năng che phủ của da
và cơ bệnh nhân vẫn còn tốt, bệnh nhân được cắt lọc
và khâu kín ngay trong thì đầu cho kháng sinh toàn
thân kết hợp xương thì sau khi vết thương ổn định.
- Cố định ngoài có 52 trong 100 ca gãy hở được cố
định ngoại vi khung FESSA (chiếm 52%). Đây là
phương tiện được áp dụng nhiều nhất để cố định
xương trong gãy hở nặng hai xương cẳng chân hiện
nay[2], [5].
- Có 5 trường hợp có biến chứng mạch máu, thần
kinh phải cắt cụt chi ngay thì đầu và 1 ca có biến
chứng mạch phải cắt cụt ở thì sau.
- Có 25 trường hợp có biến chứng sau phẫu thuật
thì đầu chủ yếu hay gặp là nhiễm trùng phần mềm và
nhiễm trùng chân đinh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có khác so với
kết quả nghiên cứu [1], [3]. Do tác giả [1], [3] coi gãy
hở độ I như một gãy kín.
KẾT LUẬN
Gãy hở hai xương cẳng chân ở nam nhiều hơn ở
nữ, chủ yếu là do TNGT.
Cố định ngoại vi với khung FESSA vẫn là phương
pháp được lựa chọn hàng đầu cố định xương gãy
trong gãy xương hở (chiếm 52%) đặc biệt là trong
gãy hở độ III.
Y H
C TH
5. Cao Mnh Liu (1994), Khung c nh ngoi
FESSA vi góy h phc tp chi di, trang 96.
6. ng Kim Chõu, Ngụ Vn Ton (1994), Nhn xột
v iu tr cp cu góy h hai xng cng chõn vi 198
trng hp theo dừi trong 3 nm (1988 1991), trang
35.
ĐáNH GIá KIếN THứC Về PHòNG CHốNG Ô NHIễM THựC PHẩM CủA NGƯờI CHế BIếN
TạI CáC BếP ĂN TậP THể TRƯờNG MầM NON CÔNG LậP THUộC TỉNH THáI BìNH NĂM 2013
Nguyễn Thanh Tùng, Trần Quý Tờng
Cục Quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế
Đặng Bích Thủy - Trờng Đại học Y Dợc Thái Bình
TóM TắT
Nhằm đánh giá kiến thức về phòng chống ô nhiễm
thực phẩm của ngời tham gia chế biến tại các bếp ăn
tập thể trơng mầm non công lập thuộc tỉnh Thái Bình,
395 ngời tham gia chế biến thực phẩm đã đợc phỏng
vấn bằng bộ phiếu chuẩn bị trớc. Kết quả cho thấy:
Kiến thức của ngời chế biến về ATTP đạt ở mức tốt
(Theo quyết định 4128-BYT): kiến thức chung là
67,3%; về chế biến thực phẩm chiếm 61,0%; về sử
dụng và bảo quản thức ăn chiếm 54,4%. Có 87,5%
ngời chế biến biết nguyên nhân NĐTP do hóa chất,
48,4% do vi sinh vật, 46,9% cho rằng do thực phẩm ôi
thiu, 18,8% do có độc, có 7,8% ngời chế biến không
rõ. Tỷ lệ biết các bệnh truyền nhiễm (Lao, thơng hàn,
tiêu chảy ) không đợc tham gia phục vụ ăn uống
tơng đối cao 87,3%- 93,4%. Tuy nhiên kiến thức về
ngời lành mang vi khuẩn gây bệnh đờng ruột sẽ
not be serving food was quite low (20.3 %). The
percentage of food processors knew the knowledge of
personal hygiene and health care examination was
from 70.3% - 74.4%
Keywords: Collective Kitchens, food processing.
ĐặT VấN Đề
Hiện nay, an toàn thực phẩm đang là vấn đề nóng
của xã hội, đặc biệt là tình hình an toàn thực phẩm tại
các bếp ăn tập thể trong đó có các bếp ăn tại các
trờng bán trú mầm non. Theo số liệu báo cáo của Bộ
Giáo dục và Đào tạo năm 2007-2008, trên toàn quốc
hệ thống giáo dục mầm non có 11.009 trờng với
3.024.662 trẻ em và 160.172 giáo viên. Phần lớn các
trờng mầm non tổ chức bán trú cho các cháu, vì vậy
việc đảm bảo An toàn thực phẩm (ATTP) tại bếp ăn
tập thể (BATT) các trờng học góp phần quan trọng
trong việc nâng cao, phát triển thể lực và trí tuệ cho thế
hệ mầm non của đất nớc. Nếu bếp ăn tập thể các
trờng học không đảm bảo các điều kiện vệ sinh an
toàn thực phẩm, đây sẽ là mối nguy rất lớn xảy ra ngộ
độc thực phẩm hàng loạt.
Nguyên nhân phần lớn các vụ ngộ độc thực phẩm
là do ô nhiễm vi sinh vật. Để hạn chế sự ô nhiễm vi
sinh vật thì vấn đề đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật
chất, trang thiết bị, dụng cụ, kiểm soát nguồn nguyên
liệu và ngời trực tiếp chế biến thực phẩm phải đợc
u tiên hàng đầu. Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ bếp ăn
tập thể tại trờng học đảm bảo điều kiện ATTP theo
quy định của Bộ Y tế còn rất thấp.
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU